Đệ cửu yếu: Nội Dược liễu Tính

Thê Vân Sơn Tố Phác tán nhân Ngộ Nguyên Tử Lưu Nhất Minh sáng tác
Môn nhân Trương Dương Toàn duyệt lại
Hậu học Hoài Thanh thị in lại
Dịch: Trương Vô Kỵ

[Đạo đức kinh] nói: “Hữu dục dĩ quan kì khiếu, vô dục dĩ quan kì diệu - Hữu dục để xem cái Khiếu đó, vô dục để xem điều kì diệu”. Hai câu này là từ đầu đến cuối của Kim Đan Đại Đạo, là yếu quyết của người học xưa nay.

Không được Ngoại Dược, thì không thể ra khỏi Âm Dương; không thành Nội Dược, thì không thể hình thần câu diệu. Bậc Thượng Đức thì tu Nội Dược, mà Ngoại Dược liền toàn vẹn; kẻ Hạ Đức tu Ngoại Dược, mà Nội Dược mới thành được. Ngoại Dược là tiệm pháp, Nội Dược là đốn pháp. Ngoại Dược là để siêu phàm, Nội Dược là để nhập thánh.

“Hữu dục quan khiếu” là Ngoại Dược, trộm đoạt công phu của tạo hóa, là việc của Ảo Thân; “Vô dục quan diệu” là Nội Dược, là cái học minh tâm kiến tính, là việc của Pháp Thân. Nếu Ngoại Dược đã đắc, mà không tu Nội Dược, là như Lữ Tổ nói “Thọ đồng thiên địa nhất ngu phu - Một kẻ ngu thọ cùng trời đất” vậy. Huống gì cái mà Đại Đan khó được chính là Ngoại Dược, Ngoại Dược đến tay, tức là Nội Dược, thì Thánh Thai có hình tượng, công phu Âm Phù, chính nhờ như vậy.

[Tham đồng] nói: “Nhĩ mục khẩu tam bảo, bế tắc vật phát thông, chân nhân tiềm thâm uyên, phù du thủ quy trung - Tại mắt miệng tam bảo, đóng lại không thông ra ngoài, chân nhân ẩn thân nơi vực sâu, bồng bềnh giữ Quy Trung” mà nói “Vô dục quan diệu” là vậy. “Vô dục quan diệu” là đạo vô vi, nhưng vô vi chẳng phải là cỏ khô tro lạnh, tuyệt không nói đến một việc, mà bên trong có công phu Triêu Truân Mộ Mông , công phu rút Diên thêm Hống, công phu phòng nguy lự hiểm, công phu củng cố vững chắc Thánh Thai.

Vì thế dung hòa Ngũ Hành mà hóa Âm Dương, cho đến khi đạo và pháp đều quên, hữu vô chẳng lập, mười tháng sương bay, thân ngoại hữu thân, cực vãng tri lai , quay về nơi Chân Như Đại Giác, là Phật Tổ nói Chánh Pháp Nhãn Tàng, Niết Bàn Diệu Tâm, Đại Đạo Tối Thượng Nhất Thừa.

Nếu chẳng phải là sau khi liễu Mệnh mà vội thì hành công phu này, thì căn bản không vững, hư mà không thực, chưa từng được nung luyện trong Đại Tạo Lô, dù cho liễu được Chân Như Tính, nếu có một chút rò rỉ, thì khó tránh khỏi cái họa phao thân nhập thân . Hậu nhân không biết cái ý của cổ nhân khi lập ngôn, phần nhiều coi cái Lí về Tính là không đáng quý trọng, thử hỏi người học ở thế gian, có bao kẻ biết rõ về Niết Bàn Chi Tâm đây? Có bao kẻ thấy rõ Chân Như Tính đây? Niết Bàn Tâm, Chân Như Tính, trong văn vắt, đỏ rừng rực, tròn trĩnh, sáng lấp lánh, thông thiên triệt địa, không thể xem nó là Hậu Thiên nhân tâm huyết tính.

Cổ nhân cũng có người liễu Tính mà không liễu Mệnh, gọi là “vạn kiếp Âm Linh khó nhập thánh”, là riêng vì kẻ chưa tu Mệnh, chỉ tu Tính mà nói ra. Nếu đã liễu Mệnh, sao lại không tu Tính? Nếu không tu Tính, thì cố chấp khi ứng vật, uổng có gia tài mà không có chủ. Nếu không tu Tính, tuy Ảo Thân đã thoát, mà Pháp Thân khó thoát. Nếu không tu Tính, thì chỉ có thể trường sinh, mà không thể vô sinh. Nếu không tu Tính, dù có thể liễu được lúc mới sinh thân, mà khó hoàn thiện được lúc trước khi sinh thân. Công phu Nội Dược liễu Tính, quan hệ rất lớn, sự nghiệp vô cùng, đều cần kết quả ở chỗ này, sao được coi thường Tính?

Ta mong người thành đạo, trước khi tu Tính, hãy nhanh chóng tu Mệnh; sau khi liễu Mệnh, cần nhanh chóng liễu Tính. Âm Dương cùng sử dụng, Tính Mệnh Song Tu, từ hữu vi mà nhập vô vi, đến khi hữu vô chẳng lập, đả phá hư không, nhập vào nơi Bất Sinh Bất Diệt, thì việc Tu Chân có thể xong vậy.