Tổ Chức Làng Xã

Số từ: 12508

Tác giả: Toan Ánh
Đơn vị xuất bản: Nxb Trẻ

Làng có vững, nước mới bền; làng là đơn vị nhỏ nhất trong quốc gia, nhưng lại là đơn vị nòng cốt để kết hợp dân chúng, và do đó để tổ chức dân chúng.

Quốc gia ngày xưa không đi thẳng tới người dân và về việc công nhà nước chỉ biết toàn xã chứ không biết từng người.(1) Trong bất cứ mọi công việc gì, cần điều khiển người dân, thu sưu thuế, bắt lính tráng, mộ phu phen, nhà nước giao cho mỗi làng phần nhất định rồi trong làng sẽ tự tùy liệu với nhau.

----- ----- -----
1. Đào Duy Anh. - Sách đã dẫn.
----- ----- -----

Để sự tùy liệu có hiệu quả, lẽ tất nhiên trong làng phải có sự tổ chức giữa dân đinh, và chính nhờ sự tổ chức này mà trật tự của xã hội Việt Nam được bảo vệ, bắt đầu ngay từ làng xã.

Nói đến tổ chức trong làng ắt phải nói tới việc tổ chức hành chánh. Hành chánh tại làng xã Việt Nam được tổ chức theo chế độ tự trị là một chế độ đặc biệt đã được áp dụng tại nước ta ngay từ thời tiền cổ. Chính phủ Pháp, sau khi nắm quyền thống trị tại nước ta, đã duy trì và canh tân định chế hành chánh này để cho thích ứng với tình trạng chánh trị nước ta thời đó.(1)

Việc điều hành làng xã, nói khác đi, việc cai trị trong xã, từ xưa vẫn do những đại biểu của dân chúng cử ra theo những tục lệ cổ truyền, và những tục lệ tùy từng làng có đôi điều dị biệt. Triều đình không can thiệp tới việc đề cử này, và cho nếu triều đình có muốn can thiệp chưa chắc đã được vì phép vua thua lệ làng.

Thực ra, cho tới thế kỷ thứ XVII, các triều đại Việt Nam cũng đã nhiều lần muốn nhúng tay vào việc làng xã tại các làng quê, nhưng rút cuộc làng xã vẫn là của dân và chính dân đã luôn luôn bầu lấy những người lo việc dân, trong số những người đó phải kể tới xã trưởng, mà sau này là gọi lý trưởng.

Ta cứ hằng nói xây dựng dân chủ, có biết đâu rằng dân chủ đã có ở nước ta từ lâu đời bắt đầu từ làng xã và nền dân chủ này bắt nguồn tự óc tập thể của dân tộc ta qua các sinh hoạt hướng đời sống cộng đồng hết sức mạnh mẽ là hướng ẩm.

Dân chủ ở đây là dân chủ thực sự vì tất cả dân đinh đều tham dự trực tiếp hoặc gián tiếp vào công việc quản trị làng xã. Những chức vụ trong làng dành cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt nào ngoài niên kỷ, kiến thức và khả năng. (2)

Tìm hiểu về tổ chức làng xã, ta không thể không đi ngược lại thời gian mà bắt đầu từ lúc bắt đầu. Làng xã lập thành, dân chúng phải nghĩ ngay đến vấn đề tổ chức trong làng.

----- ----- -----
1. Vũ Quốc Thông. - Pháp chế sử Việt Nam - Tủ sách Đại học, Sàigon, 1946.
2. ...tous les habitants inscrits participent directement ou indirectement à l'Administration du village. Les fonctions commuanales sont ouvertes tous, sans autre distinction que celle de l'âge, du savoir et du mériete. - Nguyễn Hữu Khang. Sách đã dẫn.
----- ----- -----

TỔ CHỨC LÀNG XÃ THỜI XƯA

Tìm lại sử sách ta thấy danh từ xã Việt Nam xuất hiện vào khoảng từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV.

Trong Việt Nam Sử lược, ông Trần Trọng Kim có nhắc lại nước ta cuối thời Bắc thuộc, ông Khúc Hạo làm Tiết độ sử, lập ra bộ, phủ, châu, xã ở các nơi[1] nhưng cụ không nói rõ, các xã của ta xưa kia ra sao.

Làng Xã Dưới Các Đời Đinh, Tiền Lê Và Hậu Lý

Các đời Đinh, Tiền Lê, việc tổ chức làng xã cũng chưa được triều đình lưu tâm, mãi cho tới nhà Tiền Lý, các làng xã mới được chú ý tổ chức: các cơ sở chính trị và hành chính vững chãi của làng xã mới được thiết lập để trước là kiểm điểm nhân số, sau là củng cố việc tổ chức quốc gia ngõ hầu tạo sức mạnh chống đối quân xâm lăng tới từ phương Bắc và mở mang bờ cõi về phương Nam.

Tuy chỉ là những đơn vị nhỏ nhất, nhưng triều đình vẫn có cử các xã quan để cai trị, và mỗi làng đều có sổ dân đinh - đàn ông, - chia làm loại hạng.

Sổ dân đinh giúp việc kiểm tra dân số, và lần đầu tiên cuộc kiểm tra được thực hiện dưới đời vua Lý Nhân Tôn vào năm 1082, niên hiệu Anh Võ Chiêu Thắng.

Nhà vua đích thân theo dõi công việc kiểm tra. Đồng thời với sự kiểm tra dân số, nhà vua cho lập sổ địa bộ về đất đai của mỗi làng, phân loại các hạng điền thổ.

Làng Xã Dưới Đời Nhà Trần

Hết đời nhà Lý sang đời nhà Trần, việc tổ chức làng xã được chặt chẽ hơn, và Triều đình bổ dụng hai loại xã quan cho các làng: đại tư xã và các tiểu tư xã. Các tiểu tư xã phụ giúp các đại tư xã trong việc quản lý xã thôn. Ngoài ra, lại còn có thêm hai xã quan khác là xã chínhxã giám phụ lực với đại tiểu tư xã.

Đình làng bắt đầu được dựng lên để lấy nơi thờ phụng Thành hoàng, mặc dầu dân ta thờ Thành hoàng từ lâu đời. Có thể rằng trước khi trở thành một đơn vị hành chính, xã Việt Nam chỉ là một đơn vị tín ngưỡng mà những người cùng thờ chung một vị thần quây quần sống với nhau.

Hình như bắt đầu từ đời nhà Trần, tại mỗi xã đều đã có một hội đồng kỳ mục với tính cách tư vấn để các xã quan hỏi ý kiến về mọi công việc.

Các xã quan được tồn tại hầu như gần suốt đời nhà Trần, và chính vua Trần Thuận Tôn (1388-1397) đã bãi bỏ các xã quan, không hiểu vì lý do gì.

Làng Xã Dưới Thời Minh Thuộc

Đời nhà Hồ quá ngắn ngủi, việc tổ chức làng xã không có gì thay đổi, nhưng làng xã đã trải nhiều sóng gió dưới thời Minh thuộc, vì người Minh muốn đem những cơ cấu làng xã Trung Quốc đặt vào làng xã Việt Nam. Chúng bắt mỗi gia đình phải có một tấm hộ thiếp, tức là một sổ gia đình, và chúng lập ra sổ bìa vàng để ghi thuế má. Chúng chia dân chúng thành từng , mỗi lý gồm trăm mười gia đình, đứng đầu là người lý trưởng, danh từ lý trưởng nước Việt Nam bắt đầu có từ thời kỳ này. Lý của chúng thay làng Việt Nam. Lý trưởng được cử hàng năm với chức vụ hết sức nặng nề. Cứ mười năm, mỗi lý lại lập lại sổ dân đinh và sổ địa bộ, lấy gia hộ làm căn bản.

May thay, nhà Minh cai trị nước ta không lâu, và một khi chúng bị tống khứ khỏi đất nước Việt Nam thì những cơ sở do chúng đặt ra cũng không còn tồn tại.

Làng Xã Dưới Đời Nhà Lê

Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa tự Lam Sơn đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, và ngay sau đó nhà vua lo tới việc chỉnh đốn hành chính từ làng xã trở lên.

Các xã quan lại được lập lại. Mỗi làng từ một trăm dân đinh trở lên có ba vị xã quan, mỗi làng từ năm mươi dân đinh trở lên có hai vị, và các làng nhỏ hơn có một vị - ở đây tính theo dân đinh mà không tính theo gia hộ như dưới thời Minh thuộc.

Muốn giúp đỡ dân chúng, nhà vua cho chia lại ruộng đất để dân chúng canh tác, và các công điền công thổ cũng được chia lại cho các làng tùy theo dân số, và sự phân chia này đã thay đổi địa thế và ranh giới nhiều làng.

Việc tổ chức làng được giữ vững mãi cho tới đời vua Lê Thánh Tôn, nhà vua đã thay các xã quan bằng các xã trưởng, có điều xã trưởng có lẽ vẫn do triều đình chỉ định.

Các làng xã phải nộp thuế cho công quỹ, mỗi dân đinh phải gánh vác tùy theo khả năng tài chánh của mình, và mỗi dân đinh đều được hưởng khẩu phần công điền công thổ để canh tác, khẩu phần cứ sau một thời gian ba năm lại được xét lại tùy theo nhân số dân đinh.

Làng Xã Dưới Đời Nhà Lê Trung Hưng

Nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, nhưng trải qua mấy đời vua từ Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527 đến Mạc Mậu Hợp bị bắt giết năm 1592, triều Mạc không có thì giờ nghĩ tới việc tổ chức trong nước, vì còn luôn luôn bận đối phó với con cháu nhà Lê.

Nhà Lê Trung Hưng với vua Lê Trang Tôn khởi quân đánh Mạc kể từ năm 1533 cũng không có gì thay đổi về chế độ xã thôn. Mãi cho tới đời vua Lê Thần Tôn, niên hiệu Vĩnh Thọ (1653-1661), triều đình mới có sự lưu ý tới nền cai trị tại các làng xã. Mỗi xã vẫn có xã trưởng do triều đình bổ dụng đứng đầu, nhưng để giúp việc cho xã trưởng, triều đình có cử thêm cho mỗi xã một viên xã sứ và nhiều viên xã ty, số xã ty tùy theo số dân đinh từng xã. Những vị xã quan này, xã trưởng, xã sứ và xã ty tuyển chọn trong các người có học vấn, chịu trách nhiệm về công việc hành chính và tư pháp trong xã, dưới quyền kiểm soát của các quan châu, quan huyện, thừa ty và hiến ty, những quan chức của các quận và tỉnh.

Trong thời kỳ này các làng xã phải cung cấp lính cho triều đình, tính theo từng gia đình, tùy theo nhân số.

Việc cải cách của vua Lê Thần Tôn đã gặp phản ứng trong dân chúng, họ không lập những sổ đinh, sổ điền đúng theo sự kiểm tra, nghĩa là có sự ẩn lậu dân đinh và điền thổ để tránh bớt gánh nặng về sưu thuế và tạp dịch. Triều đình gặp sự phản ứng này đã phải hứa với dân chúng chỉ thu sưu thuế và phần tạp dịch theo những sở đinh sổ điền cũ.

Đời vua Lê Huyền Tôn, dưới niên hiệu Cảnh Tôn, nhà vua nghĩ đến chuyện tuyển lựa một cách đích đáng các xã quan, nhất là xã trưởng, có lẽ tại vì trước đây đã có nhiều sự lạm dụng trong việc chỉ định các viên chức này. Các xã trưởng cứ ba năm, công việc lại được xét lại, những người nào có công trạng đặc biệt, sẽ có thể được thăng chức huyện, và phần nhiều đều được thưởng phẩm hàm.

Nhà vua cũng tính đến sự đối phó với việc ẩn lậu đinh điền và quyết định thu sưu thuế theo sổ kiểm tra sau cùng được coi là bất di bất dịch, việc thu sưu thuế này nhằm mục đích tăng thu.

Đến đời vua Lê Dụ Tôn, niên hiệu Bảo Thái, các xã trưởng được nới rộng thêm quyền hạn trước, các xã quan phải đảm nhiệm thêm việc tuần phòng và việc thu sưu thuế.

Về sau đó, việc thu sưu thuế ngày càng thêm nặng, vì công khố cần có tiền để chi tiêu về binh hỏa giữa hai họ Trịnh - Nguyễn. Bị đóng thuế nặng, dân chúng thường bỏ làng để lập nghiệp nơi khác, ruộng đất bị bỏ hoang rồi bị lập trang trại bởi một số người lợi dụng, do đó dân bị thiệt thòi. Triều đình phải ra lệnh cấm lập trang trại vào năm 1711, dưới triều vua Lê Dụ Tôn, niên hiệu Vĩnh Thịnh. Cùng với lệnh này, các làng xã được áp dụng lệ làng thay cho phép vua. Quyền hạn của dân xã được rộng hơn, và làng xã càng có nhiều quyền tự trị.

Với quyền tự trị này, xã trưởng trước đây do triều đình chỉ định, dần dần do dân xã bầu lên và trở thành lệ làng kể từ đời các vua Lê Thuận Tôn và vua Lê Lý Tôn, từ năm 1732 đến 1740.

Việc dân đinh tự bầu lấy xã trưởng, khiến làng xã quyền tự trị càng rộng rãi hơn, và nền dân chủ nảy nở trong dân chúng ngay giữa thời đại đế quyền, nhưng chỉ ở trong phạm vi làng xã.

Làng Xã Dưới Đời Nhà Nguyễn

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước lập ra nhà Nguyễn. Mười một năm sau nhà vua ban hành Hoàng Việt hình luật tức là luật Gia Long, nhưng nhà vua cũng không sửa đổi lại việc tổ chức các làng xã, nhất là các cơ cấu trong dân, lúc đó hầu như đã trưởng thành.

Nhà Nguyễn chấp thuận việc bầu xã trưởng và sự tự trị của làng xã, nền tự trị ngày càng vững mạnh nhất là trong việc quản lý công điền công thổ.

Việc phân chia khẩu phần công điền công thổ tuy có các phủ, huyện, châu kiểm soát, nhưng trên thực tế chương trình hương chức trong làng vẫn tự làm lấy và mọi quyết định đều do ở nơi họ lập trước.

Cho đến cuối đời vua Tự Đức, quan của triều đình bổ ra chỉ đến phủ, huyện, còn từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự tôn của dân. Dân tự chọn lấy người của mình mà cử ra coi mọi việc trong hạt. Tổng là một khu gồm có mỗi làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do hội đồng kỳ dịch các làng cử ra coi việc thuế khóa, đê điều và mọi việc trị an trong tổng.

Làng hay xã là phần tử cốt yếu của dân. Phong tục lệ luật của làng nào riêng làng ấy. Triều đình không can thiệp đến, cho nên tục ngữ có câu ''phép vua thua lệ làng''. Làng có hội đồng kỳ dịch do dân cử ra để trông coi hết cả mọi việc. Hội đồng ấy có người Tiên chi và Thí chi đứng đầu, rồi có lý trưởng và phó lý do hội đồng kỳ dịch cử ra để thay mặt làng mà giao thiệp với quan tư, có tuần đinh chuyên coi việc cảnh sát trong làng. Khi một người nào can phạm việc gì thì quan trách cứ ở làng, cho nên ai đi đâu hay làm việc gì cũng phải lấy làng làm gốc.[2]

Qua các điểm trình bày trên, ta nhận thấy rằng làng xã, lúc đầu chịu sự chi phối của triều đình, kể từ đời nhà Lê đã dần dần đi đến chỗ tự trị, và những công điền, công thổ như ở chương đầu đã trình bày, chính là quốc gia công sản đã chuyển sang cho làng xã.

Làng xã là đơn vị nhỏ nhất của quốc gia, nhưng lại là đơn vị mạnh nhất, vì nếu tất cả các làng xã đều chống lại triều đình, lẽ tất nhiên không triều đại nào tồn tại được. Bởi vậy, có phép vua, mọi công dân vẫn tuân theo, nhưng lại có lệ làng mà dân đinh trong làng không bao giờ bỏ qua được.

Triều đình muốn tránh những phản ứng không đẹp của nhân dân đã đành chấp thuận nền tự trị của làng xã và nhiều khi phép vua đã đành chịu thua lệ làng.

--- --- ---
[1]. Trần Trọng Kim. - Việt Nam Sử lược, Tân Việt Saigon in lần thứ năm, trang 71
[2]. Trần Trọng Kim. - Sách đã dẫn, trang 48.
--- --- ---

TỔ CHỨC LÀNG XÃ DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC

Với hòa ước năm Giáp Tuất (1874), người Pháp bắt đầu sự thống trị tại Việt Nam, và đầu tiên, người Pháp chiếm đứt miền Nam nước Việt, rồi dần dà sau đó đến Bắc Việt và Trung Việt.

Chiếm giữ miền Nam, người Pháp nghĩ ngay tới việc cải tổ các cơ cấu hành chính, bắt đầu từ làng xã để tiện việc đô hộ. Họ để ý lưu tâm tới sự tự trị của làng xã Việt Nam.

Họ nhận thấy làng Việt Nam luôn luôn tránh sự nhòm ngó của người lạ. Người ta chỉ có thể vào trong làng một cách khó khăn, ngay đến các quan đại diện cho nhà vua, mặc dầu được đón tiếp kính cẩn theo lễ nghi của tục lệ, nhưng thường cũng chỉ biết có ngôi đình hoặc ngôi chùa, nơi họ được mời tới.

Sự tự do của làng xã muốn được hoàn toàn sử dụng cần phải có một bức thành thực sự dựng lên chung quanh làng. Đây là một gia đình đóng cửa bảo nhau những chuyện riêng, không cưỡng chế và cũng không chấp nhận sự hiện diện của một cái tai khách lạ.[1]

(La liberté de la commune a besoin, pour s’exercer pleinemen, d’élever autour d’elle un véritabie muraille. C’est une famille qui ferme ses portes pour discuter ses affaires personnelles, sans contrainte et sans admettre une étrangère.)

Lưu tâm tới các làng Việt Nam, người Pháp thấy rằng họ cần phải thay đổi các cơ cấu làng xã để tìm cách đặt công việc ở làng mạc dưới quyền kiểm soát của họ và làm nhẹ bớt quyền lực của các thân hào hương chức đối với dân làng.

Ta có thể hiểu dễ dàng tại sao người Pháp đã thay đổi như vậy, nếu ta biết trong những cuộc khởi nghĩa thường phát khởi từ các làng mạc và tinh thần quốc gia được bảo tồn tại các nơi đó.[2]

Tuy muốn thay đổi các cơ cấu này, song trước khi đi vào sự cải cách có lợi cho họ, họ cũng chờ đợi hai chục năm sau khi đã chiếm đứt miền Nam nước Việt mới ban hành nghị định đầu tiên vào năm 1940 ấn định việc cải tổ hành chánh xã tại Nam Việt, và trước khi ban hành nghị định này, các viên quan cai trị chủ tỉnh đã có một sự nghiên cứu kỹ lưỡng.

Việc cải tổ bắt đầu ở Nam Việt trước để đi dần tới Bắc Việt và Trung Việt.

Tại Nam Việt

Trước năm 1904, hội đồng hương chức tại các làng Nam Việt gồm những chức vụ chính sau đây:

Hương cả : đứng đầu vì lý do tuổi tác.
Thủ chỉ : giữ văn khố.
Hương chủ : giữ nhiệm vụ cố vấn chính trị.
Hương sư : giữ nhiệm vụ trung gian chính thức giữa làng và các quan lại.
Hương lão : cố vấn hội đồng.
Hương trưởng : cố vấn trong việc thi hành mệnh lệnh của các cấp trên.
Hương chánh : giữ chức cố vấn chính thức
Câu đương : giữ nhiệm vụ thẩm phán trong làng.
Hương quản : trưởng ban cảnh sát.
Thủ bộ : giữ nhiệm vụ thủ quỹ.
Hương thân : chịu trách nhiệm về hành chánh tổng quát (cùng với Hương hào).
Xã trưởng : giữ nhiệm vụ trung gian giữa làng và chính quyền.
Hương bộ : giữ các sổ thuế.
Hương hào : chịu trách nhiệm về hành chính tổng quát cùng với Hương thân.

Qua các chức vụ trên, thường thì Hương cả đứng đầu Hội đồng Hương Chức, nhưng riêng tại tỉnh Bà Rịa, nay là Phước Tuy, Hương chủ lại đứng trên Hương cả.

Hội đồng hương chức với các chức vụ chính nêu trên bị người Pháp coi là thiếu quy củ và cho là cơ cấu này đang bị đe dọa vì mọi hương chức đều thờ ơ với công việc xóm làng. Người Pháp nói là muốn nâng cao uy tín cho các chức vụ tại hương thôn nên cần một sự cải cách.

Thực ra với nền tự trị, làng xã Việt Nam có rất nhiêu ưu điểm mà chính người Pháp cũng nhận thấy, nhưng họ muốn dùng cái ưu điểm đó có lợi cho họ. Nghị định ngày 27 tháng 8 năm 1904 được ban hành thành lập ban Hội tề tại các xã, còn gọi là Hội đồng làng, mỗi nhân viên trong ban Hội tề lĩnh một chức vụ riêng biệt. Cũng vì mỗi nhân viên trong Hội đồng làng có một nhiệm vụ rõ rệt như vậy, nên vị thứ các vị kỳ hào được ổn định theo tính cách quan trọng hay không của các chức vụ mà họ phụ trách.

Ban Hội tề gồm các nhân viên với các chức vụ và thứ vị sau đây:

Hương cả: Hương chức đứng đầu; chủ tọa Ban Hội tề; giữ văn khố.
Hương chủ: Phó chủ tọa; giữ nhiệm vụ thanh tra các cơ quan của làng và tường trình cho Hương cả.
Hương sư: Giữ nhiệm vụ cố vấn trong việc giải thích luật lệ
Hương trưởng: Giữ ngân sách làng; trợ giúp các giáo viên, nhân viên ban chấp hành.
Hương chánh: hòa giải những vụ tranh chấp nhỏ giữa những người trong làng.
Hương giáo: chỉ dẫn cho các hương chức trẻ tuổi; thư ký hội đồng.
Hương quản: trưởng ban cảnh sát; kiểm soát hệ thống giao thông và chuyển vận.
Hương bộ: giữ sổ thuế và sổ chi thu của làng; trông nom công sở cùng vật liệu của làng.
Hương thân: giữ nhiệm vụ của một hương chức chấp hành, là trung gian giữa nhà cầm quyền tư pháp và ban Hội tề.
Xã trưởng: giữ nhiệm vụ của một hương chức chấp hành, là trung gian giữa làng và chính quyền; giữ triện của làng; giữ việc thu thuế cho chính quyền.
Hương hào: giữ nhiệm vụ của một hương chức chấp hành.
Chánh lục bộ: giữ sổ sách về hộ tịch; báo cho dân chúng biết để đề phòng những bệnh truyền nhiễm xảy ra trong làng.

Ngoài 12 nhân viên trên, ban Hội tề, tùy từng xã với tục lệ riêng của mình, có thể có một số viên chức khác kém quan trọng hơn.

Hương lễ: giữ nhiệm vụ chủ tọa các buổi tế lễ.
Hương nhạc: trưởng ban âm nhạc.
Hương ẩm: tổ chức hội hè và tiệc tùng.
Hương văn: soạn thảo các bài văn tế vị thần làng.
Thủ khoản: chịu trách nhiệm về ruộng nương và gìn giữ công điền.
Cai đình: chịu trách nhiệm trông nom gìn giữ chùa chiền...
v.v…

Về nhiệm vụ hương chức chấp hành của ba vị Hương thân Xã trưởng và Hương hào phải kể việc giữ gìn trật tự an ninh, việc thi hành những quyết nghị của thượng cấp và của tòa án.

Việc tuyển lựa các hương chức vào ban Hội tề, nghị định năm 1904 ghi là những người này sẽ được tuyển lựa trong số các điền chủ trong xã.

Sở dĩ người Pháp tin dùng các điền chủ là vì những người này vì quyền lợi của mình sẽ không có những hành động chống đối với những người không có tư sản, và do đó không có quyền lợi nhiều. Người Pháp với nghị định 1904 đã bắt đầu tạo ra lớp cường hào ác bá để làm tay sai cho chúng.

Tuy vẫn tôn trọng tục lệ của dân làng, nhưng những tục lệ sẽ do chính chân tay người Pháp bảo toàn. Người Pháp đã khôn khéo đặt tại các làng tùy theo tục lệ địa phương một số các chức vụ có tính chất phong tục nhiều hơn là tính chất hành chánh.

Ngoài ra, cùng với việc thành lập ban Hội tề, người Pháp đã phục hồi lại tục lệ thăng chức các hương chức. Nói rằng để phục hưng tục lệ cổ truyền của dân Việt Nam, nhưng chính ra người Pháp đã dùng sự thăng chức này làm một sợi dây xích để trói buộc các hương chức đứng vào phe họ, có chịu tuân theo lời họ, hương chức mới có hy vọng được thăng chức.

Theo tục lệ này thì một kỳ hào ở cấp cuối cùng (tức là Hương hào) muốn trở thành vị Hương cả trong xã (tức là vị Chủ tịch Hội đồng xã, giữ chức vụ cao nhất), cần phải lần lượt vượt qua tất cả các cấp bậc ở dưới.[3]

Với sự cải cách năm 1904, người Pháp tuy tạo ra một lớp cường hào ác bá, sẵn sàng làm tay sai cho họ, nhưng vẫn còn nhiều sự dè dặt, nhất là trong vấn đề tuyển lựa nhân viên ban Hội tề, quyền tuyển lựa tuy không nói rõ nhưng còn ở trong tay dân làng, và các luật lệ địa phương tại các xã vẫn được tôn trọng mặc dầu có sự giám hộ của chính quyền thuộc địa. Người Pháp thấy rằng với chế độ làng xã 1904, họ chưa thực quyền nắm hẳn công việc quản trị làng xã, nên hơn hai chục năm sau, năm 1927, họ lại cải cách ban Hội tề để họ có thể can thiệp một cách triệt để hơn vào các công việc làng xã.

Trước khi cải cách ban Hội tề, họ nêu lên lý do sự thiếu hữu hiệu của ban này. Trong thông tư ngày 24-11-1926, viên Thống đốc Nam Kỳ gửi cho các Chủ tỉnh, đã nhắc tới sự khó khăn gặp phải trong việc tuyển lựa nhân viên ban Hội tề. Giai cấp thượng lưu bản xứ nhất là giới địa chủ và giới trí thức, không chịu tham gia ban Hội Tề, khiến các chức vụ làng xã lọt dần vào tay những kẻ bất tài và thiếu lương tâm.

Để tránh tệ hại thực sự hoặc giả tưởng trên, nghị định ngày 30-10-1927 của Toàn Quyền Đông Dương ra đời. Ban Hội tề được gọi là Hội đồng kỳ hào và gồm 12 viên chức chính. Viên Chánh lục bộ trước không được xếp vào hạng kỳ hào nay được nâng lên hạng này.

Nhiệm vụ của các viên chức khác trong ban Hội tề cũng có sự thay đổi, và quyền hành chỉ huy được đặt vào trong tay mấy vị Hương cả, Hương chủ và Hương sư. Căn cứ theo nghị định 1927, dưới đây là nhiệm vụ mới của nhân viên ban Hội tề, so với nhiệm vụ ấn định bởi nghị định năm 1904:

Hương cả: ngoài các nhiệm vụ cũ thêm nhiệm vụ trông nom tất cả các cơ quan trong làng, nhưng chuyển giao công việc giữ văn khố cho Hương bộ.
Hương chủ: giữ thêm nhiệm vụ thủ quỹ và giao nhiệm vụ thanh tra cho Hương sư.
Hương sư: giải trừ nhiệm vụ cũ. Trở thành nhân viên trong ban chấp hành giữ nhiệm vụ thanh tra và nhiệm vụ phó chủ tọa.
Hương trưởng: giải trừ nhiệm vụ nhân viên ban chấp hành và nhiệm vụ giữ ngân sách làng; giữ nhiệm vụ trông nom việc học.
Hương chánh: thêm nhiệm vụ cố vấn cho các viên chức chấp hành.
Hương giáo: vẫn nguyên nhiệm vụ cũ.
Hương quản: thêm nhiệm vụ phụ tá của ông Biện lý.
Hương bộ: thêm nhiệm vụ giữ văn khố và giữ ngân sách làng.
Hương thân: vẫn nguyên nhiệm vụ cũ.
Xã trưởng: vẫn nguyên nhiệm vụ cũ.
Hương hào: thêm các nhiệm vụ Trưởng ban cảnh sát làng, nhiệm vụ thi hành luật lệ về đường sá và nhiệm vụ tống đạt giấy tờ của tòa án.
Chánh lục bộ: như cũ.

Với sự cải cách mới, như trên đã nói, chức vụ chỉ huy cả ban Hội tề lẫn làng xã nằm vào trong tay ba viên chức đầu, và riêng vị Hương cả được quyền chuyên biệt chỉ huy mọi cơ quan của làng. Vai trò của Hương cả do đó được rõ rệt hơn và ảnh hưởng của vị này cũng trở nên quan trọng đối với dân làng; chính ảnh hưởng quan trọng này đã là đầu mối của nạn cường hào ác bá và nạn này xảy là rất hợp ý muốn của người Pháp. Gia dĩ việc tuyển lựa các viên chức xã, người Pháp lại nhằm tìm một lớp người có đủ bảo đảm về lòng trung thành đối với nước Pháp; những địa chủ, những người giàu có, những công chức các ngạch từ trung đẳng trở lên hồi hưu từ dịch, các quân nhân trong quân ngũ thuộc địa giải ngũ với các cấp bậc đội trở lên mới được ứng cử vào hội đồng kỳ hào. Để có thể tuyển lựa dễ dàng vào ban Hội đồng này những người khả dĩ có thể tin cẩn ở lòng trung thành của họ được, nguyên tắc thăng cấp trước đây bó buộc các kỳ hào phải lần lượt vượt qua các cấp bậc dưới tuy vẫn được duy trì nhưng được áp dụng một cách mềm dẻo, linh động hơn. Với sự mềm dẻo linh động này, nhiều chân tay của Pháp được xung vào ban kỳ hào các xã.

Mặc dầu hậu ý của người Pháp là muốn giao nhiều chức vụ các xã cho bọn chân tay của họ, nhưng họ cũng không dám phạm vào tục lệ cổ truyền một cách trắng trợn, nghĩa là các kỳ hào mới vẫn phải do sự lựa chọn của các kỳ hào hiện diện trong ban Hội tề chỉ định. Tuy nhiên, với sự cải cách mới, các chủ tỉnh có quyền nhiều trong việc tuyền lựa kỳ hào, và việc tuyển lựa này muốn trở thành nhất định phải có sự duyệt y của chủ định.

Nghị định ngày 30-10 - 1927 được áp dụng cho tới hết thế chiến thứ hai. Trong thời gian này vấn đề cải tổ chế độ hành chánh xã trong Nam lại được đặt ra sau cuộc khởi nghĩa đẫm máu của anh em binh sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Yên Bái hồi tháng 2 năm 1930 [4] Tháng 8-1930, Thống Đốc Nam Kỳ cho thành lập một Hội Đồng Cải Cách với mục đích cải thiện đời sống dân chúng. Hội đồng này đã đề nghị một sự cải cách sâu rộng chế độ hành chánh xã thôn và muốn các xã tại Việt Nam được tổ chức như các xã bên Pháp, nghĩa là trong xã sẽ có các hội viên Hội đồng xã và các viên chức hàng xã. Đề nghị này chỉ ở nguyên trong vòng đề nghị vì chính quyền Pháp đâu có muốn sự cải cách sâu rộng vì quyền lợi dân chúng ấy. Họ cho là không thích ứng với xứ thuộc địa này, mà lại có sự nguy hiểm là sẽ đảo lộn trật tự của các xã, và nhất là, người Pháp sẽ khó nắm nổi được các Hội viên của Hội đồng xã dự định kia. Chế độ 1927 cứ được áp dụng cho đến sau cuộc bại trận của Pháp. Khi đó, trước mọi biến chuyển của tình hình chính trị tại Đông Dương, chính quyền Pháp lại nghĩ tới sự cải cách, và Toàn Quyên Đông Dương lại có ký nghị định ngày 5-1-1944 để cố gắng tập trung quyền hành một cách chặt chẽ trong việc chỉ định các hương chức tại Nam Việt. Nghị định quy định rõ ràng thể thức tuyển lựa các hương chức. Hương chức phái lập một ban danh sách ứng cử viên để một hội đồng gồm tất cá các hương chức, cựu hương chức, cựu công chức và cựu binh sĩ đã từng cư ngụ ở trong làng được ít nhất là hai năm căn cứ vào đó mà tuyển lựa. Những sự bổ nhiệm vẫn phải được vị tỉnh trưởng phê chuẩn, như trước. Một mặt khác các ứng cử viên phải đã có tên ghi trong sổ ghi dân số của làng ít nhất được hai năm, có đóng thuế thân ở làng và không bị can án.[5]

Ngoài ra, với chế đội 1944, có thêm hai hạng ứng cử viên mới:

- Những người có học từ bằng Thành chung trở lên.

- Những binh sĩ tuy không có bằng cấp gì, nhưng đã tỏ ra can đảm trong khi lâm trận và được thưởng Anh Dũng Bội tinh. Những ứng viên này chỉ cần biết đọc và biết viết.

Với nghị định 1944, người Pháp kiểm soát chặt chẽ hơn việc tuyển lựa viên chức làng xã và nhờ sự kiểm soát này, họ dễ đặt vào hội đồng kỳ hào những người trung thành với họ. Chỉ riêng với thành phần ứng cử viên ta cũng thấy rằng, những người này, vì quyền lợi sẵn có của họ, họ sẽ không phản bội nước Pháp.

Chế độ 1944 hay hoặc dở và ảnh hưởng ra sao đến các tổ chức thôn xã, chưa có thể biết được, đã xảy ra cuộc đảo chính 9-3-1945, và với cuộc đảo chính này người Nhật đã thay thế người Pháp ở Đông Dương, nghĩa là ở cả Việt Nam trong đó có Nam Việt.

Qua các giai đoạn trình bày trên, ta thấy rằng trong thời kỳ thống trị Việt Nam, người Pháp đã dần dần nắm hết quyền kiểm soát nền hành chính xã, và lấn hết quyền tự trị xã thôn của ta tại Nam Việt, và với sự lấn át này, bao nhiêu tập tục nghìn xưa của ta, đã bị người Pháp dần phá hủy để tại nên một lũ cường hào ác bá tay sai.

Tại Bắc Việt

Chế độ làng xã tự trị tại Việt Nam là một chế độ tốt đẹp, và như trên đã trình bày có rất nhiều ưu điểm, nhất là về phương diện cai trị và an ninh trật tự xã hội. Hàng xã phải chịu trách nhiệm về hành động của dân làng đối với quốc gia. Khi người Pháp đặt chân sang đất nước ta, họ cũng không phủ nhận những ưu điểm của nền tự trị này. Paulin Vial, một viên quan cai trị Pháp trong cuốn Trung và Bắc Kỳ (L’Annam et le Tonkin) đã viết:

Đó là phương pháp duy nhất thích hợp với sự an toàn của chúng ta, vì nó chia rẽ dân bản xứ bằng cách thừa nhận cho họ sự tự trị các làng xã, một điều họ rất quan tâm đến. Phương pháp đó đã được đem ra thí nghiệm rồi.

Đó là phương pháp có kết quả tốt. Nó vừa thỏa nguyện vọng của người An Nam vừa mang lại an ninh cho các nhà cầm quyền Pháp, không cho nhân dân có thể liên kết với nhau trong một hành động chung để chống lại chúng ta.[6]

(Cést le seul système qui fut compatible avec notre sécurité car il divisait la population en lui laissant l’autonomie den vil - lages à laquelle elle est attachée. L’expérience de ce système a déjà été faite.

C’est le seul ait donné de bons résultats. Il donne satisfaction aux Annamites et sécurité aux autorités francaises, ne permet pas aux habitants de s’unir contre nous dans une action générale).

Trong cuốn L’Annam d’autrefois, viên Toàn Quyền Pierre Pasquier cũng cho sự tự trị làng xã Việt Nam, là một lợi khí thống trị màu nhiệm.[7]

Nhận thấy những ưu điểm của làng xã Việt Nam, nhưng chính quyền Pháp lại muốn những ưu điểm này phải là những công cụ để họ thống trị dân Việt Nam, như đã trình bày, chứ không phải đấy là những cơ cấu để thúc đẩy dân Việt Nam chống đối lại họ.

Họ đã sửa đổi, đã cải cách có lợi cho họ như trong cuộc cải cách hội đồng hương chức tại Nam Việt. Và ở Bắc Việt họ cũng nghĩ đến sự cải cách, nhưng thực hiện chậm hơn vì dân khí ở miền này. Họ muốn rút kinh nghiệm ở miền Nam trước khi có sự cải tổ ở miền Bắc, và đồng thời họ muốn dùng thời gian để vuốt ve dân chúng Bắc Việt làm cho đân khí dịu đi, tinh thần chống đối họ bớt mạnh mẽ. Họ đã chờ mãi cho tới năm 1921 mới có sự cải tổ đầu tiên, trong khi ở Nam Việt, ngay từ năm 1904, họ đã can thiệp vào nên tự trị của dân làng. Họ chờ để tạo nên được những yếu tố thuận tiện, và nhất là họ chờ cho lớp sĩ phu có khí tiết, có uy tín với tuổi tác phải lướt vào quá khứ, họ mới cải tổ làng xã để tránh sự phản kháng có thể rất hiệu quả của lớp sĩ phu này.

Năm 1921, khi họ cải tổ cơ cấu làng xã Bắc Việt tuy mục đích chính là mục đích chính trị nhằm giảm bớt uy thế của các kỳ hào, tước bớt vây cánh của những người này, ngõ hầu có thể ngăn giữ sự xúi giục dân xã nổi lên chống Chính phủ bảo hộ, nhưng họ vẫn nêu ra lý do ngăn ngừa mọi lạm dụng để bài trừ nạn cường hào ác bá.

Thực ra, phải nhận rằng với sự hiện diện của người Pháp, với ưu quyền của họ dành cho những tay em, với tình trạng nước nhà trong giai đoạn bị trị, làm sao mà tránh được sự lạm dụng, làm sao mà khỏi được nạn cường hào ác bá.

Dựa vào cớ bài trừ nạn lạm dụng và nạn cường hào ác bá, người Pháp đã thực hiện một cách hết sức táo bạo sự cải cách các cơ cấu làng xã tại Bắc Việt, năm 1921.

Với sự cải cách này, trước hết họ thành lập Hội đồng tộc biểu, có nhiệm vụ quản trị công việc làng xã, do dân xã bầu ra ba năm một lần, và gồm một số nhân viên gọi là Tộc biểu. Tộc biểu chính, nghĩa là đại biểu của từng gia tộc, nghĩa là của từng họ. Mỗi họ có quyền được bầu một số tộc biểu, và mỗi xã số tộc biểu cũng thay đổi tùy theo dân số, nhưng không quá số tối đa là 20 người mỗi làng.

Muốn ứng cử tộc biểu, phải 25 tuổi và phải có tài sản trong làng. Tộc biểu do các dân đinh từ 18 tuổi trở lên mà chưa phạm án đến mất quyền công dân, bầu ra.

Các tộc biểu chọn lấy một vị Chủ tịch gọi là Chánh Hương hội và một Phó Chủ tịch gọi là Phó Hương hội. Chánh, phó Hương hội thay cho tiên, thứ chỉ về thời trước.

Trong việc bầu cử tộc biểu nếu có sự tranh chấp phải do các viên tri huyện, tri phủ phân xử, nếu không xong. Tỉnh trưởng người Pháp, viên Công sứ, sẽ quyết định sau khi lấy ý kiến của vị tỉnh hiến người Việt là vị Tuần phủ hay Tổng đốc.

Ở đây ta thấy chính quyền Pháp đã can thiệp rõ rệt vào việc quản lý làng xã, và đã lấn áp sự tự trị cổ truyền của đơn vị căn bản này của quốc gia.

Ngoài ra, những tộc biểu được bầu phải có sự chấp nhận duyệt y của viên Công sứ.

Hội đồng tộc biểu còn mang tên là Hội đồng Hương chính là cơ quan quyết nghị trong xã. Chủ tịch Hội đồng là Chánh Hương hội, giữ việc chấp hành, có Phó Hương hội phụ tá. Dưới quyền Chánh Hương hội có một số nhân viên giúp việc mà quan trọng nhất là Lý trưởng rồi đến Phó lý, Thư ký và Thủ quỹ.

Lý, Phó trưởng vẫn do dân bầu theo lệ xưa, còn thư ký và thủ quỹ được lựu chọn trong hoặc ngoài hàng các Tộc biểu.

Với nghị định năm 1921, một làng có một ngân sách. Thành lập ngân sách này, chính quyền Pháp nhằm sự kiểm soát tài nguyên của làng xã, nhưng vẫn nêu lên là để ngăn chặn mọi sự lạm dụng.

Với chế độ 1921, chính quyền Pháp đã xâm nhập vào việc quản trị làng xã ở Bắc Việt một cách rõ rệt, nhưng họ còn cho là chưa đủ, nên viên Thống sứ Bắc kỳ, năm sau đã ký nghị định ngày 25-6-1922 để ấn định các điều kiện được ứng cử Lý, Phó trưởng ứng cử viên phải từ 25 đến 50 tuổi, biết đọc, biết viết, có hạnh kiểm tốt và nhất là phải trung thành với Chính phủ bảo hộ. Ngoài ra lại phải có tư sản để bảo đảm.

Lý trưởng là người nắm nhiều quyền hành theo tục lệ trong làng mặc dầu trên vị này có vị Chánh Hương hội, vậy mà những điều kiện ấn định cho ứng cử viên như trên, ta thấy rằng, người đắc cử tất nhiên phải đứng về phe chính quyền để giữ lấy quyền lợi của mình. Nạn cường hào ác bá với sự lựa chọn này càng bành trướng mạnh, vì họ chính là những tay em của Pháp và được Pháp bênh vực, ấy là chưa kể, tuy nói rằng dân làng bầu cử lý, phó trưởng, nhưng chính ra chỉ những tay sai của Pháp mới được ở trong cử tri đoàn; Hội viên Hội đồng Hương chính hiện dịch, hội viên hàng tỉnh, nghị viên hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ có ghi tên trong làng, đang làm việc hoặc đã nghỉ việc, các cựu Tổng lý và các Tổng lý hiện dịch có ghi tên trong xã và trương tuần.

Lý, Phó trưởng được cử tri đoàn hạn chế trên bầu ra nhưng cũng phải được bổ nhiệm của vị Công sứ qua một tấm bằng do viên Công sứ và vị tỉnh hiến Việt Nam đồng ký.

Chính quyền Pháp đã can thiệp một cách sâu rộng vào công việc quản trị làng xã như trên trình bày, nhưng vẫn chưa hết: viên Công sứ đầu tỉnh còn có quyền đặc cách bổ nhiệm Lý, Phó trưởng trong nhiều trường hợp.

Khi một xã chưa có Hội đồng Hương chính dự liệu bởi nghị định 1921;

Khi chỉ có một người ra ứng cử hay được chấp thuận để ra ứng cử chức vụ Tộc biểu mà thôi;

Khi khuyết chân Lý trưởng và trong xã có một viên Phó lý đã làm việc trong sáu năm rồi.

Qua các điểm trình bày trên, ta thấy rằng Chính quyền Pháp với nghị định 1921 đã bãi bỏ hẳn Hội đồng kỳ hào cổ truyền và gạt các nhân viên trong Hội đồng này ra ngoài công việc quản trị làng xã, công việc từ xưa vẫn do họ đảm nhiệm. Việc cải cách của người Pháp đã gặp sự phản ứng của dân chúng, trước hết là sự phản ứng tiêu cực của các cựu hương chức trong Hội đồng kỳ hào, không tham gia vào công việc làng xã. Và từ sự phản ứng tiêu cực này đã chuyển sang thế khác: sự xung đột có hại cho việc quản trị làng xã giữa các cựu hương chức này với nhân viên Hội đồng tộc biểu mới, phần nhiều kém tài đức và thiếu kinh nghiệm. Và hậu quả của sự xung đột là sự phản đối công khai hoặc ngấm ngầm chính quyền Pháp, sự thành hình của những đảng cách mệnh và sự hưởng ứng của phần đông dân chúng do sự tham gia của một số các cựu hương chức có uy tín.

Trước tình trạng này, người Pháp hết sức bối rối. Họ thấy cần phải sửa đổi lại quy chế làng xã để xoa dịu bớt sự bất bình của dân chúng và nhất là của các cựu hương chức của Hội đồng Kỳ hào cổ truyền.

Và ngày 25-2-1927, Thống sứ Bắc Kỳ đã phải ký một nghị định sửa đổi lại quy chế quản trị làng xã, và quy chế 1927 này đã được áp dụng trong gần 15 năm, cho tới năm 1941. Nghị định 25-2-1927 phục hồi lại một phần những tục lệ cổ truyền đã bị bãi bỏ bởi nghị định 1921, việc tái thiết lập bên cạnh Hội đồng Tộc biểu, Hội đồng Kỳ mục, giữ vai trò kiểm soát hơn là quản trị, và thành phần gồm các cựu kỳ hào, cực kỳ lý, những người đã có thái độ chống đối Hội đồng Tộc biểu trước đây.

Tuy Hội đồng Kỳ mục được thành lập lại, nhưng thành phần có hơi chặt chẽ hơn xưa, chỉ gồm những người hoặc đỗ đạt hoặc có phẩm hàm hoặc đã giữ các chức vụ cấp tổng hay cấp xã, riêng với hạng thứ ba này lại cần phải là những người cư trú ngay trong xã.

Số kỳ mục không hạn chế và nhiệm kỳ cũng không hạn định.

Chính quyền Pháp, trong việc kiểm soát làng xã giữ quyền duyệt y danh sách Kỳ mục cho các viên Công sứ, và danh sách này một bản được lưu giữ tại tòa sứ. Mỗi khi có sự thay đổi, các chức dịch hàng xã phải trình ngay với chính quyền.

Theo nghị định 1927, cơ quan chấp hành xã vẫn là Chánh Hương hội có Phó Hương hội phụ tá và có một số các chức dịch giúp việc: Lý trưởng, Phó lý, Trương tuần, Thủ quỹ và Thư ký. Ngoài ra còn thêm hai hương chức mới là Chương bạ giữ sổ địa bạ và Hộ lại giữ việc sinh tử giá thú.

Lý, Phó trường vẫn do sự bầu cử như cũ cho đến năng 1930, mới có thể lệ chỉ định. Theo thể lệ chỉ định này, phương pháp bầu cử Lý trưởng càng ngày càng ít áp dụng. Các Phó lý có ba năm thâm niên có thể được đặc cách bổ nhiệm làm Lý trưởng.

Chỉ còn hai trường hợp bầu cử Lý trưởng:

Trong xã có nhiều Phó lý có đủ điều kiện để được đương nhiện bổ nhiệm Lý trưởng.

Trong xã không có một Phó lý nào đủ điêu kiện đề được đương nhiên cải bổ Lý trưởng.

Nghị định 1927 vãn để sự kiểm soát làng xã cho các viên chức hàng tỉnh, nhưng để tỏ ra tôn trọng hiệp ước Bảo hộ, chính quyền Bảo hộ trao quyền bổ nhiệm Lý trưởng cho các vị định hiến Việt Nam và các viên Công sứ chỉ duyệt y nghị định của các vị trên. Việc duyệt y nghị định này là tất cả, vì có thể có trường hợp viên Công sứ từ chối việc duyệt y.

Mặc dầu người Pháp khôn khéo, bề ngoài ra vẻ áp dụng hiệp ước bảo hộ Bắc Việt với sự tái thiết lập Hội đồng Kỳ mục, nhưng họ vẫn không đạt được kết quả mong muốn. Họ vẫn gặp thái độ bất hợp tác của những người trí thức và có tiết tháo, cũng như thái độ chống đối của phần đông dân chúng với các đảng cách mạng chống họ mạnh mẽ hơn (Việt Nam Quốc Dân Đảng, 1930, Việt Nam Phục Quốc Hội, 1940 v.v...).

Rồi đến năm 1941, với tình trạng mới gây nên bởi cuộc đệ nhị thế chiến tại Tây phương, bởi sự bại trận của nước Pháp và nhất là bởi sự hiện diện của quân đội Nhật Bản trên các bán đảo Đông Dương, họ nhận thấy cần phải cải tổ lại nền hành chính hương thôn ở Bắc Việt để nắm vững lấy dân chúng thôn quê, ngăn chặn mọi mưu mô nổi dậy lật đổ chính quyền Bảo hộ Pháp.

Muốn như vậy họ phải đánh lạc hướng vấn đề và họ phải thỏa mãn một phần nào sự đòi hỏi của dân chúng, nhất là giai cấp trung lưu mà họ hy vùng có thể lợi dụng được bằng cách cho tham dự, trong một phần rất nhỏ, vào công việc điều khiển guồng máy hành chánh.

Với thâm ý trên, Thống sứ Bắc kỳ, đã đệ trình Hoàng đế Việt Nam phê duyệt đạo dụ ngày 23-5-1941 tổ chức lại nền hành chính xã tại Bắc Việt.

Đây là cuộc cải lương hương chính lần chót của người Pháp tại Bắc Việt.

Với sự cải lương này, Hội đồng Tộc biểu thiết lập tù năm 1921 bị bãi bỏ, cũng như Hội đồng Kỳ mục mới thiết lập năm 1927, và trong làng một Hội đồng Kỳ hào được ra đời, với một thành phần rộng rãi, gồm tất cả các dân đinh trong xã từ 21 tuổi trở lên có đủ điều kiện văn bằng hoặc phẩm hàm, hoặc đã giữ các chức vụ tổng lý trong thời gian ít nhất ba năm, như vậy tổng số kỳ hào không hạn định; vị thứ các kỳ hào được ấn định theo tính cách quan trọng của phẩm hàm, và vị chủ tịch là người có phẩm hàm cao nhất.

Vì số kỳ hào không hạn định, nên nhiều xã rất đông, trên 20 người. Trong trường hợp này Hội đồng Kỳ hào có thể ủy quyền cho một ủy ban Quản trị gồm có 7 nhân viên, chọn trong số các Kỳ hào có phẩm hàm cao nhất.

Hội đồng Kỳ hào giống như Hội đồng Kỳ mục trước khi có mọi sự cải cách, chỉ khác ở chỗ bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính quyền Bảo hộ đối với việc chỉ định các kỳ hào, và danh sách kỳ hào phải đệ nạp chính quyền để tiện việc theo dõi. Trong trường hợp xã nào có Ban Quản trị, việc chỉ định cũng như mọi việc thay thế phải được chính quyền chuẩn y.

Cơ quan chấp hành theo dụ 23-5-1941 vẫn là lý, phó trưởng với một số các nhân viên thừa hành khác: Hộ lại, chưởng bạ, thư ký, thủ quỹ và trương tuần.

Từ Lý, Phó trưởng tới các nhân viên thừa hành đều là các nhân viên chỉ định và trường hợp bầu cử rất ít khi có, và nếu có cũng chỉ do nhân viên Hội đồng Kỳ hào bầu mà thôi, và thường chỉ có bầu cử Phó lý, còn Lý trưởng là do các Phó lý được tuyển nhiệm lên.

Mọi việc bổ nhiệm các hương chức này đều do vị định hiến Việt Nam và phải được sự chuẩn y của viên Công sứ Pháp, duy chỉ có Trương tuần thì do Hội đồng Kỳ hào tuyền lựa theo tục lệ trong làng.

Việc cải cách này cũng không mấy làm hài lòng dân chúng, tuy giai cấp trung lưu được tham dự nhiều vào công việc hàng xã, nhưng những, nhân viên thừa hành, nhất là các Lý, Phó trưởng, chưởng hạ, hộ lại và thư ký, với sự kiềm soát chặt chẽ, với sự chỉ định thay cho việc bầu cử, người Pháp đã nắm chặt quyền quản trị làng xã trong tay, và những người được chỉ định muốn làm hài lòng quan trên để hy vọng được chỉ định vào chức vụ khác, như phó lý được chỉ định Lý trưởng, thường là những tay sai trung thành của Pháp, và luôn luôn trung thành với chính phủ Bảo hộ, tức là đi ngược lại quyền dân. Sự chống đối trong dân chúng vẫn ngấm ngầm cho đến ngày 9-3-1945, ngày chính quyền Pháp ở Đông Dương bị lật đổ do quân đội Nhật Bản.

Tại Trung Việt

Trung Việt tức là Trung kỳ dưới thời Pháp thuộc. Tuy là một xứ bảo hộ, cũng như Bắc Việt, nhưng ở đây có Triều đình Huế với danh nghĩa cầm đầu Quốc gia dưới chính quyền Bảo hộ, nên người Pháp tuy muốn xâm nhập vào các công việc của người Nam vẫn phải tôn trọng quyền cai trị của các Nam quan và chỉ đành thiết lập những phương tiện để kiểm soát sự cai trị này.

Tôn trọng quyền cai trị của các Nam quan, người Pháp không dám vội vàng động tới việc cải cách các cơ cấu làng xã để nhúng tay vào việc quản lý những đơn vị căn bản này.

Họ phải đợi cho tới năm 1942 mới bắt đầu cải tổ nền hành chánh xã tại Trung Việt do chỉ dụ 5-1-1942 của Hoàng đế Việt Nam. Chỉ dụ Hoàng đế ký, nhưng nội dung do chính quyền Pháp sửa soạn.

Chỉ dụ 1942 về tổ chức hành chánh xã tại Trung Việt dựa trên những điêu khoản của đạo dụ 1941 về tổ chức làng xã tại Bắc Việt, nghĩa là công việc quản trị trong làng do Hội đồng Kỳ hào.

Trước đây, tại các xã vẫn có một Hội đồng Kỳ hào, nhưng việc tuyển lựa các hội viên hoàn toàn do tục lệ mỗi xã quy định, do đó sự kiểm soát của các cấp trên hầu như vô hiệu. Với đạo dụ 1942, những điều kiện để tham dự Hội đồng Kỳ hào được ấn định rõ ràng cũng như thành phần của hội đồng này.

Muốn tham dự Hội đồng Kỳ hào phải là dân xã lương thiện không can án, trung thành với chính phủ Nam triều và chính phủ Bảo hộ, có phẩm hàm, có khoa cử, tổng lý và ngũ hương, cựu tổng lý và ngũ hương đã từ dịch sau ba năm làm việc.

Hội đồng Kỳ hào ủy quyền cho một ủy ban Thường trực để giải quyết các công việc thường xuyên của xã - xã nào cũng có ủy ban, không giống như ở Bắc Việt chỉ những xã lớn mới có.

Cơ quan chấp hành của xã gồm lý trưởng, có Phó lý và năm viên chức thừa hành gọi là ngũ hương giúp việc. Ngũ hương là:

Hương bộ: có nhiệm vụ quản thủ văn khố xã.
Hương bản: giữ quỹ của xã.
Hương kiểm: giữ nhiệm vụ cảnh sát hành chánh và tư pháp trong làng.
Hương mục: trông coi, tu bổ các công sở, đường sá trong làng.
Hương dịch: thông tin xã và vệ sinh trong thôn.

Lý trưởng trước đây do dân bầu, với chế độ 1942 việc bầu cử được thay thế bằng phương pháp đương nhiên chỉ định bởi vị Nam quan đầu tỉnh sau khi đã thỏa hiệp với vị Công sứ Pháp. Người được chỉ định là Phó lý của xã có nhiều thâm niên công vụ, và khi có từ hai Phó lý đồng thâm niên công vụ, người nhiều tuổi hơn sẽ được chỉ định. Phương pháp bầu cử chỉ được dùng đến khi nào trong xã không có người Phó lý nào cả.

Phó lý và ngũ hương do Hội đồng Kỳ hào lựa chọn và các quan tỉnh duyệt y.

Trong việc cải cách nền hành chính làng xã Trung Việt, chính quyền Pháp không ngoài mục đích kiểm soát chặt chẽ các viên chức làng xã và đã đưa dần vào cơ quan quản trị những người trung thành với họ giống như khi họ cải cách lại nên hành chính xã tại Bắc Việt vào năm 1941.

Trên hình thức, nếu không xét kỹ ta thấy thành phần như không thay đổi vì cơ quan quyết nghị của xã vẫn là Hội đồng Kỳ hào, và cơ quan chấp hành vẫn chỉ gồm có Lý, Phó trưởng và ngũ hương, nhưng nếu đi sâu vào việc tuyển lựa, ta thấy ngay dã tâm của chính quyền Pháp muốn dân bãi bỏ phương pháp bầu cử bằng phương pháp chỉ định để có thể đặt tay sai của họ vào Hội đồng Kỳ hào và nhất là vào các chức vụ chấp hành. Ngoài ra, họ cũng đặt ra sự kiểm soát chặt chẽ. Chế độ 1942 tồn tại cho đến ngày 9-3-1945 của Trung Việt cũng như chế độ 1941 tại Bắc Việt.

* *

Xét chung về việc tổ chức làng xã dưới thời Pháp thuộc, ta thấy người Pháp tuy bắt đầu sự cải cách ở ba miền Nam, Bắc, Trung trong ba thời kỳ khác nhau, nhưng cuối cùng họ đã thống nhất việc tổ chức trên đại cương trên cả ba vùng qua sự tương đồng của nghị định ngày 5-1-1944 với các đạo dụ ngày 23-5-1941 và 5-1-1942, với phương pháp chỉ định các hương chức và kiểm soát chặt chẽ cơ quan quyết định của xã.

----- ----- -----
[1]. P.Pasquier. – L›Annam d’autrefois. (Trang 54) lls›est toujours dérobé aux regards de I›étranger. On ne peut y pénétrer que difficilement et mème les mandarins représentant I’autorité de I›empereur, tout en y étant recus avec le respect et le cérémonial voulu par les rites et la coutume, n›en connaissent souvent que la maison commune, le đình ou la pagode où ils sont conduits.
[2]. Nguyễn Xuân Đào. - Tổ chức hành chánh tại cấp xã việt Nam. - Khảo sát về những diễn biến trong lịch sử.
[3]. Vũ Quốc Thông. - Pháp chế sử Việt Nam. - Tủ sách ĐạiI học, Saigon 1966.
[4]. Vũ Quốc Thông - Sách đã dẫn.
[5]. Nguyễn Xuân Đào. - Tài liệu đã dẫn.
[6]. Vũ Quốc Thông dịch, trong sách đã dẫn
[7]. Un organe qui est un merveilleux outil de gouvernement.
----- ----- -----

TỔ CHỨC LÀNG XÃ SAU THÁNG 8.1945[1]

Chính quyền Pháp bị lật đổ, nhưng việc tổ chức làng xã Việt Nam vẫn được duy trì trong khi người Nhật thay thế người Pháp tại Đông Dương. Mãi cho tới tháng 8-1945, Việt Minh nắm quyền, việc tổ chức làng xã mới được sửa đổi lại.

Việc tổ chức làng xã tại Việt Nam, Việt Minh căn cứ vào bản hiến pháp năm 1946 chia nước Việt Nam thành kỳ, tỉnh, thị xã tại các vùng đô thị, huyện và xã tại các vùng quê. Không có tổng, đơn vị giữa làng và huyện như trước.

Mỗi xã bất kể Trung, Nam, Bắc có hai cơ quan đại diện là Hội đồng nhân dân và ủy ban Hành chính. Hội đồng nhân dân do phổ thông đầu phiếu bầu lên, và hội đồng này lại tự bầu lấy ủy ban Hành chính.

Tùy theo dân số, ủy ban nhân dân gồm từ 18 đến 25 nhân viên từ năm tới bảy nhân viên dự khuyết.

Những điều kiện ứng cử và bầu cử đều nhất loạt thay đổi. Bất cứ ai, 18 tuổi trở lên đều được ứng cử và bầu cử. Điền kiện cư trú cũng rút, ứng cử thì sáu tháng, bầu cử thì ba tháng.

Ủy ban Hành chính xã gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch, một thủ quỹ, một thư ký, một ủy viên phụ trách việc duy trì an ninh và hai ủy viên dự khuyết.

Theo nguyên Các, ai đủ điều kiện cũng được ứng cử vào Ủy ban Nhân dân.

Cuộc bầu cử ủy ban Hành chính xã phải được ủy ban cấp tỉnh chấp thuận mới có hiệu lực.

Cũng như dưới thời Pháp thuộc, mọi quyết định của Hội đồng nhân dân xã phải được phê chuẩn của cấp tỉnh mới có giá trị, tuy rằng nhân dân theo nguyên tắc có quyền phế bỏ Hội đồng nhân dân để đời bầu cử lại.

---------
[1]. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (sau Cách mạng tháng 8-1945)
---------

Tổ Chức Làng Xã Trong Thời Kỳ Pháp Trở lại Chiếm Đóng Nam kỳ

Ngay sau khi trở lại Nam Kỳ, người Pháp thành lập Chính phủ lâm thời ở Nam Kỳ, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh cầm đầu Chính phủ này mệnh danh là Chính phủ tự trị Nam Kỳ.

Dưới Chính phủ tự trị Nam Kỳ, tại xã có ban Hội Tề gồm tám hội viên do phổ thông đầu phiếu bầu lên. Ban Hội tề tự phân làm hai ủy ban, một ủy ban do vị Hương cả đứng đầu phụ trách các việc hành chánh tư pháp và các công tác xã hội, và một ủy ban do vị Hương chủ đứng đầu phụ trách các vấn đề tài chính, kinh tế và nghi lễ.

Ban Hội tề này không tồn tại bao lâu, vì sau đó, chính phủ Nam Kỳ tự trị không còn nữa, được thay thế bằng Chính phủ Lâm thời Việt Nam do tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, kế đó Bảo Đại trở lại Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trước tình thế rối bời của đất nước đã trao cho các Tỉnh trưởng quyền bổ nhiệm các Hội đồng xã để điều khiển công việc hành chính trong làng, và các chức dịch trong làng xã đương nhiên trở thành một bộ phận của toàn bộ hệ thống hành chính tập quyền.

Việc bổ nhiệm hương chức làng xã được tồn tại cho đến năm 1953. Sắc lệnh ngày 19-3-1953 được ban hành để tổ chức lại nền hành chính xã.

Theo Sắc lệnh này mỗi làng có một Hội đồng hương chánh gồm tới đa là chín người do dân chúng bầu lên bằng lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu. Ba nhân viên đứng đầu là Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Chánh thư ký.

Với tổ chức mới này, tổ chức làng xã đã trở lại khuôn mẫu Hội đồng xã cổ truyền trong một phần nào nhưng vẫn có sự giám sát của cơ quan cấp tỉnh.

Thực ra Sắc lệnh 1953 đã ra đời với ý muốn cố gắng thử tái lập một nền hành chính của thời kỳ Pháp đô hộ với sự mở rộng quyền kiểm sát của các cấp trên, song song với việc gìn giữ lại một vài tập tục cổ truyền về nền tự trị xã thôn.

Tổ Chức Làng Xã Dưới Chính Quyền Ngô Đình Diệm

Hội nghị Genève kết thúc và sự phân đôi nước Việt Nam. Ở Miền Nam Ngô Đình Diệm đã truất phế Bảo Đại để tổ chức bầu cử đưa mình lên ngôi vị tổng thống.

Làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm đã cải tổ nền hành chính Việt Nam, trong đó có tổ chức hành chính xã.

Ngày 18-6-1956, Phủ Tổng thống đã gửi thông tư cho các Tòa tỉnh trưởng để thay thế Hội đồng Hương chính bằng một ủy ban Hành chính, gồm một Chủ tịch, một Phó chủ tịch phụ trách những vấn đề tài chính, xã hội và kinh tế và một ủy viên Cảnh sát. Những làng lớn có thể có thêm hai phụ tá trông coi việc hành chính và tài chính. Những nhân viên của ủy ban Hành chính này do Tỉnh trưởng lựa chọn trong những người địa phương có lòng trung thành với chế độ.

Ngày 24-10-1956, ủy ban Hành chính lại được đổi thành Hội đồng xã, với từ ba đến năm nhân viên do Tỉnh trưởng vẫn lựa chọn như trên, những xã lớn có thể có thêm một số phụ tá. Các tỉnh trưởng phải kiểm soát và theo dời các Hội đồng xã để ngăn cấm mọi hoạt động từ hành vi đến ngôn ngữ thiếu trung thành với chế độ.

Chính quyền Ngô Đình Diệm sau đó, với đạo dụ ngày 24-10-1956, đã chính thức đặt cho làng xã một pháp chế, nhưng tất cả mọi tổ chức về hành chính của Ngô Đình Diệm đã sụp đổ cùng với chế độ vào ngày 1-11-1963.

Tổ Chức Làng Xã Ở Miền Nam Sau Ngày 1-11-1963

Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ kéo sụp đổ theo nhiều cơ cấu trước đây được thiết lập để phụng sự chế độ, và trong những cơ cấu này phải kể các tổ chức hành chính tại làng xã.

Chính quyền Sài Gòn sau ngày 1-11-1963, muốn tại các làng xã, người địa phương lo liệu công việc địa phương, hành chính địa phương gồm những nhà chức trách, xuất thân tại mỗi địa phận, đứng ra gánh vác những công việc riêng cho địa phận mình. Những công việc riêng này phát sinh từ những đặc tính của mỗi địa phận, từ những nhu cầu riêng của dân chúng trong vùng.[1]

Để thực hiện ý muốn trên, ngày 31-5-1964, Chính quyền Sài Gòn đã ban hành sắc lệnh để thay thế Hội đồng xã duy nhất của chế độ Ngô Đình Diệm bằng 2 cơ quan, một cơ quan quyết nghị là Hội đồng nhân dân xã và một cơ quan chấp hành là ủy ban Hành chính xã. Ủy ban nhân dân xã do nhân dân bầu lên, ủy ban nhân dân đề cử ủy ban hành chánh lên chính quyền tỉnh để chấp nhận.

Sắc lệnh 1964 tổ chức làng xã với các mục tiêu: Phân quyền cho nhân dân xã quyền quyết nghị về các vấn đề của xã.

Dân chủ hóa hạ tầng cơ sở qua việc phổ thông đầu phiếu để bầu Hội đồng nhân dân xã, các Trưởng ấp và Phó trưởng ấp.

Giúp đỡ xã thôn phát triển đồng đều với phương tiện chung do ngân sách quốc gia cung ứng.

Với cuộc thí nghiệm, nhiều khuyết điểm đã được các cơ quan cấp trên nêu ra:

Hội đồng nhân dân xã thường chỉ có hình thức mà không có thực quyền. Việc giải quyết các vấn đề của xã thường tùy thuộc cơ quan chấp hành xã, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của tỉnh, quận.[2]

Tính cách đại diện của Hội đồng bị thu hẹp vì điều kiện cư trú chỉ vào sáu tháng, khiến nhiều người chưa hiểu biết rõ về làng xã cũng được bầu vào Hội đồng này, và như vậy, sự hiện diện của họ không có lợi cho công việc hàng xã. Hơn nữa, việc bầu cử theo từng ấp có thể có sự hiểu lầm là các hội viên đại diện cho ấp thay vì cho xã.

Nhiệm kỳ của Hội đồng quá ngắn, chỉ có hai năm, Hội đồng chưa đủ thì giờ để thực hiện những chương trình hoạch định, lại thêm dân xã luôn luôn bị bận tâm về bầu cử.

Còn về ủy ban Hành chánh, những khuyết điểm cũng không phải là ít. Theo tài liệu huấn luyện viên chức xã ấp của Tổng Bộ Xây dựng (Sài Gòn) 1967, có các khuyết điểm dưới đây:

Thiếu thuần nhất nội bộ và thống nhất chỉ huy.

1) Các ủy viên được đặt dưới sự bảo trợ trực tiếp của các bộ chuyên môn về phương diện công tác cũng như về phương diện thù lao khiến cho các đương sự trở thành viên chức chuyên môn và có khuynh hướng thoát ra ngoài sự chỉ huy của Chủ tịch ủy ban Hành chính xã.

2) Sự đãi ngộ giữa các ủy viên có sự chênh lệch (trường hợp ủy viên Cảnh sát và An ninh được tuyển dụng và hưởng lương theo chế độ công nhật CI/1).

Không có lực lượng cơ hữu xã.

- Chủ tịch ủy ban Hành chính xã không thể sử dụng dân vệ trong khi thi hành nhiệm vụ về phòng thủ và an ninh.

- Chủ tịch ủy ban Hành chánh xã không đủ quyền lực bảo đảm sự tự trị của ngân sách xã.

Thành phần ủy ban chưa đầy đủ.

1) Chủ tịch ủy ban Hành chánh xã kiêm nhiệm chức vụ ủy viên Hộ tịch nhưng không có người giúp đỡ về các công việc vật chất.

2) Thiếu hẳn các chức vụ ủy viên canh nông và ủy viên Xã hội, để phục vụ chương trình cải cách điền địa, cải tiến xã hội.

- Thiếu bảo đảm trong tình trạng công vụ.

Sự bổ nhiệm các viên chức xã ấp thường dựa vào tình cảm nhiều hơn khả năng, khiến các đương sự dễ bị sa thải.

Sự đãi ngộ không tương xứng.

Giá biểu tối thiểu phụ cấp viên chức xã ấp (Trừ Ủy viên Cảnh sát và An ninh) còn thấp kém, chưa đem lại đủ yếu tố khích lệ trong năng suất công tác và giữ được đức tính liêm chính.

Để sửa chữa những điều khiếm khuyết nêu trên, Chính quyền Sài Gòn đã ban hành sắc lệnh ngày 14-12-1966 ấn định việc cải tổ nền hành chính xã ấp nhằm các mục tiêu:

Khôi phục vị trí đơn vị hành chánh căn bản của xã trong cộng đồng quốc gia. Cử tri sẽ trực tiếp bầu Hội đồng nhân dân xã, và Hội đồng này sẽ bầu chủ tịch ủy ban Hành chánh xã và xét định việc bổ nhiệm Phó Chủ tịch và các ủy viên trong ủy ban Hành chánh xã. Xã thu hồi lại tất cả những quyền hạn của xã qua Hội đồng dân cử.

Ngoài ra, xã được trọn quyền sử dụng tài nguyên của xã để thực hiện chương trình công ích trong xã.

Tăng thêm hiệu năng cho guồng máy hành chánh xã.

a) Thống nhất chỉ huy; Chủ tịch ủy ban Hành chánh xã sẽ bổ nhiệm và bãi nhiệm Phó Chủ tịch và các ủy viên và có toàn quyền điều khiền ủy ban.

b) Dùng người hợp lý: việc bổ nhiệm và bãi nhiệm các viên chức xã ấp phải được Hội đồng nhân dân xã thỏa hiệp.

Việc bổ nhiệm còn phải căn cứ theo những điều kiện do Tỉnh ấn định chung cho mọi ứng viên và riêng cho mỗi chức vụ.

c) Huấn luyện đầy đủ.

d) Đãi ngộ tương xứng: tăng giá biểu phụ cấp các viên chức xã ấp và phụ cấp đồng đều giữa các ủy viên.

e) Tăng cường văn phòng xã để xã có phương tiện làm việc: thiết lập chức vụ Chánh, Phó thư ký và cung cấp thêm phương tiện vật chất như dụng cụ, văn phòng phẩm.

f) Đặt thêm những chức vụ cần thiết: ủy viên Canh nông để phụ trách chương trình cải cách điền địa và ủy viên Xã hội phụ trách các vấn đề văn hóa, giáo dục, xã hội, y tế và để lo việc kiến thiết cùng phát triển xã.

Theo sắc lệnh ngày 24-12-1966, Hội đồng nhân dân xã gồm từ sáu đến mười hai hội viên tùy theo xã to nhỏ, do dân trong toàn xã bầu lên theo thể thức phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín.

Hội viên đắc cử với số phiếu nhiều nhất giữ nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng. Hội viên đắc cử với số phiếu kế tiếp giữ nhiệm vụ Phó Chủ tịch.

Trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã đắc cử Chủ tịch ủy ban Hành chánh xã, các hội viên đắc cử kế tiếp sẽ giữ, theo thứ tự số phiếu đạt được trong cuộc bầu cử, các chức vụ Chủ tịch và Phó Chủ tịch.

Trong trường hợp Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã đắc cử Chủ tịch ủy ban Hành chánh xã, hội viên đắc cử có số phiếu kế tiếp sẽ giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã.

Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân xã là ba năm, và các Hội viên có thể được tái cử.

Hội đồng nhân dân xã có thể bị giải tán bởi Chính phủ và các hội viên có thể bị giải nhiệm bởi Tỉnh trưởng.

Hội đồng nhân dân xã có quyền quyết định sau cuộc thảo luận về các vấn đề liên can tới xã, các quyết nghị thường sẽ do ủy ban Hành chánh thi hành.

Những quyết nghị quan trọng phải được các bộ sở quan chấp thuận hoặc Tỉnh trưởng duyệt y tùy theo trường hợp mới được thi hành.

Như trên đã trình bày, theo Sắc lệnh 1966, Hội đồng nhân dân xã có quyền bầu Chủ tịch ủy ban Hành chính xã và xét định việc bổ nhiệm Phó chủ tịch và các ủy viên trong ủy ban này.

Thành phần ủy ban Hành chánh xã gồm:

Chủ tịch kiêm ủy viên Hộ lại,
Phó Chủ tịch kiêm ủy viên Kinh tài.

Từ một đến bốn ủy viên phân chia các chức vụ kể sau:

Ủy viên An ninh
Ủy viên Tuyên vận
Ủy viên Xã hội
Ủy viên ủy viên Canh nông.

Nhiệm kỳ của ủy ban Hành chánh xã chấm dứt cùng một lúc với nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân xã.

--- --- ---
[1]. Tài liệu huấn luyện viên chức xã ấp, quyển I. - Tổng Bộ Xây dựng, Phủ Đặc Ủy Hành chánh, 1967.
[2]. Bộ tổng xây dựng – Phủ Đặc Ủy hành chánh – Tài liệu đã sẵn.
--- --- ---

Kết Luận

Chúng ta đã xét qua lịch trình biến diễn của tổ chức nền hành chánh xã từ khi lập quốc tới ngày nay, lúc đầu làng xã do các xã quan của triều đình bổ nhiệm điều khiển, nhưng vẫn có sự tự trị riêng của dân làng, và dần dần cho tới triều Lê, các xã quan bổ nhiệm được thay thế bằng các hương chức do dân bầu ra. Nên tự trị làng xã càng vững chãi cho tới thời Pháp thuộc, người Pháp tìm cách xâm nhập vào việc quản trị làng xã, nhưng vẫn không dám trắng trợn thay đổi hẳn tục lệ của dân làng.

Việc tổ chức làng xã ngày nay đã hợp với nguyện vọng của dân chưa? Thời gian sẽ trả lời chúng ta liệu tổ chức làng xã đã thật đáp ứng với nhu cầu của quốc gia qua nguyện vọng của người dân chưa.

Xã là đơn vị căn bản trong hệ thống tổ chức quốc gia, và tuy nhỏ nhưng tầm quan trọng lại rất lớn vì đây là đơn vị nòng cốt để kết hợp và tổ chức dân chúng.

https://i.imgur.com/6phmNxL.png