Nhận diện một làng quê

Tác giả: Toan Ánh
Đơn vị xuất bản: Nxb Trẻ

Tôi sinh ra ở làng tôi. Nhỏ, tôi đi học ở làng, và ở làng cho đến lớn, cho đến một ngày ra tỉnh rồi tôi ra Hà Nội. Lâu lâu tôi lại về làng. Làng tôi vẫn như xưa, vẫn như hồi tôi còn để chỏm, ngày ngày cắp sách tới ông đồ, ăn mày đạo Thánh dăm ba chữ. Làng tôi không thay đổi gì, từ hình thể đến dân làng. Có khác chăng đó là những thằng bạn thả diều, đánh bi của tôi từ thuở nhỏ đã lớn, những cái đĩ thằng cu, xưa kia đầu chốc, cởi truồng, đã thay hình đổi dạng thành những cô gái làng xinh đẹp đỏm dáng, thành những cậu trai làng khỏe mạnh cần cù thương yêu miếng đất mảnh vườn, xoắn xuýt với thửa ruộng mẫu ao... còn những cô gái làng xưa, nay đã có chồng, có cô lại con dắt con díu, con bồng con mang.

Ngắm lại những cô gái xưa tôi thầm yêu trộm nhớ đã là những thím nọ, mợ kia với chiếc áo hở lườn, với đôi vú thỏng dưa gang, vừa vội vã đi hớt bèo cho lợn, vừa vội vã tắm cho ba bốn đứa con thơ, tôi giật mình thấy thời gian đi mau chóng.

Câu ca dao ở đâu phảng phất tới với tôi:

Anh đi em chửa có chồng
Anh về con dắt, con díu, con bỗng, con mang
Con thì chẻ nứa đan sàng
Con thì cắp sách, con mang cạnh sườn!

Và những thằng bạn thuở nhỏ của tôi, thường cùng tôi vật nhau lúc chăn trâu, thường tôi ê-a quyển ''Hán tự Tân thu'' cũng đã là những anh chồng ngoan ngoãn chăm lo vườn tược ruộng nương, có anh đã có hai ba con!

Anh nào anh ấy bộ mặt nghiêm trang đứng đắn, đi ra khỏi ngõ là áo dài khăn lượt trông thật đạo mạo.

Những người lớn thì đã bắt đầu già. Có người tóc điểm hoa râm, có người mắt đã bắt đầu đeo kính. Còn các cụ già, nhiều cụ đã không còn nữa! Các cụ đã ăn xôi nói theo danh từ hài hước quê mùa! Hỏi thăm các cụ, các người thản nhiên trả lời: Các cụ đi với ông sáu Tấm!

Ấy cái khác của làng tôi chỉ có thế! Còn đâu vẫn vào đấy.

Cổng làng

Đầu làng vẫn chiếc cổng xây, hai bên hai rặng tre kéo dài, dài cho đến hết vòng làng. Trên cổng làng chiếc mái hơi cong cong và dưới mái mấy chữ nho đóng khung trong một hình chữ nhật hầu như gần mờ nhạt hết, nét mực đen trên nền trắng cũng đã đổi màu vì phong sương với lớp rêu lờ mờ phủ.

Hai bên cổng, thành hình hai cột trụ, vẫn đôi câu đối tự bao giờ, chữ không còn hẳn rõ mực, nhưng vì đắp nổi lên, nên trải qua bao mưa gió, rêu phủ lờ mờ, đôi câu đối vẫn rõ ràng với người tỉnh mắt.

Đường làng

Con đường từ ngoài đi vào làng cũng vẫn chẳng khác xưa, đi từ đường cái lớn, ngòng ngoèo trên những bờ ruộng, xuyên qua cổng đầu làng, đi vào trong làng, rồi dần dần đi suốt làng cho tới cổng cuối làng. Cổng cuối làng cũng chẳng khác gì cổng đầu làng, nếu không có những chữ đại tự ghi trên cổng, không giống những chữ đại tự ở cổng đầu làng cũng như đôi câu đối hai bên thành cổng mà nội dung khác hẳn đôi câu đối ở cổng đầu làng.

Đến đây con đường lại chui qua cổng cuối làng để ra đồng ruộng, bỏ mặc hai rặng tre, hai bên cổng, của lũy tre làng ngơ ngác.

Con đường đi như dường luyến tiếc làng tôi uốn éo qua mấy bờ ao, mấy bờ ruộng cho tới mãi xa xa mới chịu ẩn mình dưới những ruộng mạ con gái xanh mơn mởn ở hai bên.

Con đường làng này, không phải nó đã đi thẳng một mạch từ đầu làng tới cuối làng đâu. Vào trong làng nó đã tách ra làm năm bảy nhánh đi vào năm bảy xóm lượn qua những bờ ao vườn chuối để đi đến tận từng nhà.

Có một nhánh đường đi thẳng một mạch từ con đường chính tới cửa đình làng, rồi đi men đình để vào một xóm mé trong. Lại có một nhánh, sau khi tách rời khỏi con đường chính, đi ngay vào chiếc giếng giữa làng có lẽ để thăm ngó các cô gái làng kín nước và để nghe các cô nói chuyện bông đùa với nhau, gán cho nhau những anh trai làng xem chừng có ý ngấp nghé các cô! Tiếng cười các cô giòn giã, giọng nói các cô trong trẻo ngây thơ!

Giếng làng nằm dưới một gốc đa lớn bóng vùng rất xa làm râm mát cả một khu. Cây đa không biết mọc tự bao giờ và mọc ở đó tới đến bao giờ? Khi tôi lớn lên cây đa đã có, và mẹ tôi cũng đã bảo tôi hồi nhỏ mẹ tôi cũng hàng ngày ra giếng gánh nước và nghỉ mát dưới gốc đa. Rễ đa lủng lẳng muốn ăn xuống tới đất, nhưng chỉ lủng lẳng vậy thôi, khó bao giờ mà ăn xuống đất được, vì lũ trẻ con chúng tôi đời đời thường níu lấy rễ cây đánh đu, khiến cho rễ cứ trụi dần và chỉ dài tới một mức nào là hết cỡ.

Cây đa ở giếng làng như có vẻ hiền từ. Dưới gốc đa loáng thoáng vài ba chiếc bình vôi, thỉnh thoảng có người tới cắm dăm ba nén hương! Và chỉ có thế thôi, không có bàn thờ, cũng không có bình vôi treo lủng lẳng vào các rễ phụ như ở cây đa đầu làng.

Cây đa đầu làng

Cây đa đầu làng quả thật dễ sợ hơn cây đa trên bờ giếng. Cây đa trên bờ giếng đã già, nhưng cây đa đầu làng lại cổ thụ hơn. Trông to lớn vô cùng với nhưng rễ phụ ăn hẳn xuống đất cũng đã biến thành những thân cây khác. Dưới gốc cây rễ bò lổm ngổm, khi nổi trên mặt đất, khi lửng lơ nửa chìm nửa nổi tạo nên những cái hốc ăn sâu vào rễ cây, hoặc ăn sâu xuống mặt đất. Các cụ bảo rằng trong các hốc đó có ngựa ngài ở, và các cụ giải thích ngựa ngài là những cặp rắn có mào, có khi là những cặp rắn trắng toát với mào đỏ chót. Không biết các cụ có đã trông thấy ngựa ngài thật không nhưng nghe lời các cụ tả, khi thế này, khi thế khác, và các cụ bảo ngựa ngài có phép biến hóa, muôn hình vạn trạng.

Ngay ở gốc cây đa, không biết ai đã xây từ bao giờ một bàn thờ nhỏ, với bài vị có bốn chữ Đại thụ linh thần. Bàn thờ có bát hương, hàng ngày hương nghi ngút cháy, và chân hương bao giờ cũng chật ních, màu đỏ xen lẫn màu xám của tàn hương. Lại có bình hoa, thường thấy cắm mấy bông huệ, mùi thơm quyện với mùi hương theo gió lan tủa ra xa. Hai bên mé bàn thờ là những bình vôi không biết của ai mang tới đặt ở đấy, to nhỏ đủ hạng, vôi ở miệng bình đã khô, và nhiều bình vôi màu trắng đã ngả sang một màu khác, màu tro nhạt hoặc màu vàng xám.

Và cả ở những rễ cây cũng lủng lẳng theo những hình vôi, mỗi cơn gió mạnh lại đưa đi đưa lại, các cụ bảo đêm hôm trông như những chiếc đầu lâu của bọn giặc Cờ Đen khi bị giết và bị bêu đầu.

Ở bàn thờ, còn có mấy đài rượu, mấy trăm vòng hoa ngũ sắc, và ở bên cạnh có treo những đôi hài xanh đỏ, những chiếc nón chóp, nón thượng bằng giấy trắng hoặc giấy màu với những quai tua sặc sỡ. Đấy là những nón của các bà, các cô, các cậu trú ngụ tại cây đa.

Gặp những ngày có gió, gió rung lá đa, gió lùa vào những cành đa rít lên như những tiếng hú, đêm khuya nghe rất ghê rợn. Rồi những lá vàng rụng xuống, lác đác, lạnh lùng như tiếng thì thầm của những âm hồn đang cùng nhau to nhỏ ở các cành đa.

Những câu chuyện về cây đa đầu làng

Theo lời các cụ, những đêm khuya thanh vắng có các bà các cô đánh võng trên cành cây, tiếng kẽo cà kẽo kẹt vang đi rất xa, lại có bà vừa đánh võng vừa ru con, tiếng hát véo von thật là thánh thót. Có cụ nói rằng, áo các bà xanh đỏ lờ mờ ẩn hiện những đêm sáng trăng xuống. Ai đi về đêm, bắt gặp các bà các cô đánh võng đều phải nín thở cắm đầu cắm cổ chạy cho mau. Lại có người bảo, sáng sớm, những người đi làm đồng hoặc đi chợ qua gốc đa, có khi gặp bóng hai ba cô áo màu tha thướt tóc vấn đuôi gà, tung tăng đi từ cổng làng đến gốc đa thì biến mất.

Nghe nói mà rợn gáy! Thủa còn nhỏ, tôi không bao giờ dám đi qua gốc đa vào lúc chạng vạng tối, hoặc khi trời chưa sáng hẳn và cũng không bao giờ, khi có việc đi qua đầu làng tôi lại dám dừng chân đứng lại nơi này. Phải qua đó là tôi rảo cẳng bước cho mau. Còn khi tôi đã lớn, ra tỉnh và Hà Nội ở, thỉnh thoảng có dịp về làng, cũng rất ít khi tôi đi qua nơi đây vào lúc tối trời. Có một đôi lần qua đó, chỉ thấy âm u vắng vẻ với một sự yên lặng tĩnh mịch đến lạnh người. Gió đông nổi lên, lá trên cây xào xạc, mùi hương lẫn mùi hoa huệ ở bàn thờ đưa ra thoang thoảng giữa gió khuya...

Đêm khuya, nếu có tiếng chó cắn nhát gừng về phía đầu làng, các nhà các cụ bảo các con:

Các bà các cô lại đi thăm làng!

Cây đa đầu làng cứ xanh tốt và sự hãi hùng của dân làng vẫn tồn tại đời này qua đời khác đối với những câu chuyện đã được kể lại về cây đa, về những ông bình vôi, về bàn thờ và nhất là về các bà, các cô, các cậu...

Dân làng hãi hùng nhưng dân làng vẫn kính cẩn không ai dám buông một lời nhạo báng, và cũng chẳng ai bảo ai là mê tín dị đoan.

Những ngày rằm, mồng một, những ngày lễ lạc, nếu người ta có cúng lễ ở nhà, nếu người ta có lên lễ ở chùa, thì ở gốc đa này, nơi bàn thờ cũng có nhiều bà nhiều cô trong làng mang đồ tới lễ bái. Những hôm đó, quang cảnh gốc đa đỡ vắng vẻ âm u.

Cây đa đầu làng, thường làng nào cũng có, và có lẽ cây đa nào cũng tương tự giống nhau. Câu ca dao ta có nhắc tới cây đa:

Đầu làng có một cây đa
Cuối làng cây gậy, ngã ba cây dừa
Dù anh đi sớm về trưa
Xin anh nghỉ bóng mát cây dừa nhà em!

Bóng mát cây dừa có lẽ có người đi sớm về trưa dừng chân nghỉ cho đỡ mệt nhất là trai gái làng, còn bóng mát cây đa, quả thật ở làng tôi, tôi không thấy mấy ai dừng chân nghỉ bước! Qua đấy người ta ngả nón đi cho mau, và ngày xưa người ta còn cưỡi ngựa, tôi còn được nhắc lại là người ta vẫn xuống ngựa dắt đi qua bàn thờ hẻo lánh này. Hẻo lánh vì cây đa ở đầu làng ngoài lũy tre xanh, hẻo lánh vì tuy gọi là đầu làng, nhưng khi đi khỏi cổng làng chưa phải là có nhà cửa dân làng ngay, hai bên đường làng ở nơi đây còn có mấy ao cá, mấy vườn cây vắng vẻ.

Ông bình vôi

Ở trên có nói tới các bình vôi đặt ở gốc đa bờ giếng cũng như gốc đa đầu làng.

Đây là phong tục dân quê.

Dân Việt Nam thường ăn trầu, và mỗi miếng trầu gồm một miếng lá trầu không, có quệt chút vôi cuộn tròn lại, công việc này gọi là têm trầu, một miếng cau một miếng vỏ cây.

Do sự ăn trầu của toàn dân Việt Nam trước đây nên mỗi nhà đều có một bình vôi, và tục còn cho rằng bình vôi tượng trưng cho quyền nội tướng của bà nội trợ nên được gọi tên là ông bình vôi. Bình vôi đựng vôi, vôi trên mép khô dần vì mỗi khi lấy vôi ra nhiều, người ta lại quệt vào mép bình. Sau một thời gian, miệng bình vôi nhỏ dần, cho đến ngày bị lấp hẳn và bình vôi không dùng được nữa.

Bình vôi này, người ta không đem vứt đi, vì xưa nay vẫn được tôn trọng là ông bình vôi, mà người ta đem đặt tại miếu thờ, tại gốc đa, gốc si, gốc đề, nơi có thờ, hoặc tại bên các đình chùa.

Do đó các cây đa đầu làng, dân làng thường mang những bình vôi cũ tới để, và có người lại đem buộc hẳn lên các rễ đa treo lủng lẳng.

Lũy tre làng

Cây đa cách lũy tre làng đến ngoài chục thước, những cây tre ngả đầu xuống, những cành đa như vươn tay ra, đôi bên cũng còn cách nhau một quãng khá xa.

Lũy tre làng tôi giống bất cứ lũy tre làng nào, bao bọc chung quanh làng, hai rặng tre hai bên đi từ cổng đầu làng tới cổng cuối làng.

Tre già thì măng mọc, luôn luôn lũy tre lúc nào cũng xanh tốt, và chịu đựng đủ nắng mưa gió rét.

Tre mọc rất dày, lũy tre che chở cho làng. Bên trong lũy tre đôi nơi có ao cá, có vườn rau, hoặc có khi một vài ngôi nhà không cách xa lũy tre là mấy.

Có những gia đình ở gần lũy tre, đất cát ăn liền với lũy tre; những gia đình này đôi khi có người trổ một chiếc cổng gai để tiện đường ra ngoài ruộng, khỏi phải đi qua cổng làng. Chiếc cổng gai này, ban ngày tuy mở nhưng ban đêm bao giờ cũng đóng kín để đề phòng bọn đạo tặc.

Nếu ai có dịp đi qua cánh đồng nhìn vào làng tôi gặp lúc chiếc cổng tre giương lên, một cô gái làng chít khăn mỏ quạ, mặc ăn cánh nâu non, yếm mỡ gà với khuôn mặt trái xoan, với hai con mắt long lanh sáng, điểm thêm nụ cười chúm chím như hoa hàm tiếu, tuy vậy cũng để lộ mấy chiếc răng cửa đen nhức như hạt huyền và đều đặn như hạt lựu giữa đôi môi tươi thắm, ắt phải có cảm tưởng như được ngắm một bức tranh linh động giữa thiên nhiên. Cô gái làng có thể đang đứng bên cột tre, một tay giơ cao vịn vào cành tre. Cô đứng làm gì?

Ai có biết, nhưng nhìn cô thấy đáng yêu với vẻ ngây thơ. Có khi cô lại cất tiếng hát vài câu ca dao, tiếng vang êm ái nghe thật là quyến rũ:

Chẳng tham ruộng cả ao sâu
Tham vì anh tú tốt râu mà hiền,
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Hỡi ai là anh tú, hỡi ai là anh đồ, nghe cô ca lòng có động lòng chăng tá?

Cô gái quê quả thật là bông hoa của đồng ruộng!

Cô đã làm cho bao chàng trai say mê, và chính cô cũng đã từng bao lần tơ lòng rung động trước nỗi niềm tha thiết của những trai làng!

Chiếc cổng ở giữa lũy tre, thường là chiếc cổng tán cho nên lúc đóng mở không phải đẩy ra đưa vào, mà phải giương lên hạ xuống. Cả chiếc cổng là một khung tre, có những cành tre buộc chặt níu vào thành khung, giữa khung treo chiều ngang là một thanh tre nguyên ống để giữ cho khung cổng được chắc chắn.

Chiếc khung tre này hình chữ nhật, to bằng chiếc cổng gỗ với cả hai cánh, phía trên, được buộc vào một thanh tre ngang, buộc không chặt lắm, nhưng dây chắc để cổng có thể giương lên hạ xuống dễ dàng. Cổng giương lên có chiếc cột đỡ, chiếc cột tre đóng chắc vào giữa thành mé dưới cổng và cao bằng chiều dọc cổng. Khi cổng hạ xuống, cột tre này được lồng vào một chiếc cọc đóng dưới đất qua một lỗ đục suốt thân cột để giữ cho người ở mé ngoài không thể tự mở lấy cổng được.

Thường thường ban đêm, có thêm những cành tre gai đắp vào cổng cho cổng thêm chắc chắn. Chiếc cổng tre tuy đơn sơ nhưng rất đắc dụng và kẻ gian phi cũng không phải dễ dàng gì mà qua lọt được cổng này.

Cánh đồng làng

Cô gái quê đứng trước chiếc cổng tăng vẻ đẹp cho lũy tre làng, và ở nơi đây nhìn ra cô thấy cánh đồng làng bát ngát, những thửa ruộng nối liền những thửa ruộng, tùy theo từng tháng trong năm đây là những ruộng lúa đã chín vàng, cây lúa bông nặng trĩu ngả đầu xuống bờ ruộng hoặc đây là những ruộng mạ mới cấy, mạ xanh mơn mởn như tơ nõn. Theo những luồng gió, hương lúa hương mạ mát dịu hoặc thơm phức bốc lên. Trên không trung vài con cò trắng vụt bay qua, rồi bỗng sà xuống một thửa ruộng giữa cánh đồng.

Xa xa, vút tầm mắt, một ngôi làng với lũy tre xanh bao bọc, như một chiếc cù lao nổi bật trên đồng ruộng.

Cảnh một làng quê Việt Nam, làng tôi cũng như hầu hết trăm nghìn làng khác ở trung du và trung châu, bên ngoài thường tương tự như nhau. Các tác giả ngoại quốc rất chú ý tới làng mạc của chúng ta, và dưới ngòi bút của họ làng quê chúng ta thường được tỉ mỉ tả lên với những thưa ruộng, với lũy tre xanh tốt.

Ruộng nương... Thật là linh hoạt, và quang cảnh vui tươi. Không một chút gì giống những đồng lầy đất nước chúng ta. Ở đây, mỗi mẫu đất ẩm thấp đều được trồng trọt, chăm nom và có người. Trong khoảng không đầy một mẫu đất, có thể đếm được tới trăm chiếc nón chóp của dân làng. Khắp mọi chỗ, người dân quê đều làm việc, gập mình xuống, cấy lúa. Hoặc hái trong tay, họ gặt lúa. Nơi khác, họ đang cày ruộng, đi sau những con trâu. Lại có những con trâu khác nghỉ ngơi, đầm mình trong nước sâu hơn chỉ lòi lên những chiếc đầu với sừng và mình đen, ở trên ngồi chồm hỗm một chú bé trần truồng. Thỉnh thoảng một đàn cò trắng vụt bay lên.[1]

Tác giả tả cánh đồng một làng quê Việt Nam có thể là làng tôi, mà cũng có thể là bất cứ làng ai cũng được.

Cánh đồng làng nào mà chẳng vậy, bao giờ chẳng có người làm đồng, bao giờ không có mấy chú bé chăn trâu, và nhất là những đàn cò trắng, đồng quê ở đâu mà không có!

Làng tôi nằm trong lũy tre xanh, giữa cánh đông bát ngát...

--- --- ---
[1]. La rizière... Qu›etle est vivante, gaie d›aspect! Elle ne res semble en rien au marais de chez nous. Chaque lopin de terre humide est ici cultivé, soigné, peuplé. Dans moins dun hectare vous comptez les chapeaux coniques de cent villageois. Partout, des gens travaitlent, penchés, repiquant les pieds de riz. Ou, serpe à la main, ils récoltent. Ailleurs, des hommes labourent, dernère les buffles. D›autres buffles au repos, se baignent dans leau plus profonde d›où émergent seulement leurs têtes encomées et leur échine noire oùs ‹accroupit un enfant nu. À chaque instant se lève un voi d‹aigrettes blanches. PIERRE BILLOTEY, - L›lndochine en Zigzags. - Albin Michel éditeur, 1929. Text of Footnote.
--- --- ---

Sông làng

Làng tôi lại có một con sông, không phải, đúng ra là một con ngòi nhỏ. Con ngòi này, chỉ rộng hơn một con kênh, không chảy qua làng, chỉ lượn qua cánh đồng làng như muốn đem làn nước bạc tương phản với lúa xanh xanh.

Con ngòi tuy nhỏ nhưng rất có ích cho làng tôi. Đồng ruộng nhờ nó thêm màu mỡ, dân làng, nhiều gia đình sống thêm về nghề kéo vó, đánh cá ở dòng ngòi. Một vài người, tuy có nhà đất trong làng, nhưng vì đặt lờ, đặt lưới, giương vó đêm đêm ở con ngòi, lại có thêm ruộng nương ở bên kia ngòi, đã cất hẳn một ngôi nhà lá ở bờ ngòi để tiện việc làm ăn. Và mỗi lần đi qua ngòi, họ đi qua một chiếc cầu khỉ rung rinh soi mình ngoằn ngoèo trên dòng nước.

Không ở trong làng nhưng họ vẫn là người làng, họ vẫn sống theo nếp sống của dân làng. Họ vẫn đi lễ chùa làng, tham dự những tuần ước vọng ở đình làng, và gặp ngày phiên chợ làng, vợ con họ vẫn có mặt để bán hoa màu hoặc để mua sắm những vật dụng cần thiết như những người khác trong làng. Con cái họ vẫn đi học trong làng, và ngày xửa ngày xưa khi làng còn có các ông đồ dạy học, chính họ cũng đã làm học trò của những ông đồ này.

Chợ làng

Tôi đã nói đến chợ làng tôi! Chợ làng tôi không to lắm, cũng không ở hẳn trong làng mà ở ngoài lũy tre xanh, bên cạnh đường làng. Chợ có một quán chính năm gian, còn la liệt ở chung quanh quán là những ngôi lều tranh nhỏ, rộng không quá hai thước vuông.

Cũng như các chợ khác, chợ làng tôi họp một tháng sáu phiên, cách bốn ngày lại đến ngày phiên chợ. Sở dĩ như vậy, vì ở vùng tôi có nhiều làng có chợ, phiên họp phải xích ngày đi để khỏi trùng nhau đến nỗi hai chợ cùng họp một ngày.

Ngày phiên chợ làng tôi vui lắm. Trong làng ai có hoa màu gì muốn bán đều mang ra chợ, cũng như ai đan được ít rổ, rá, bện được ít chổi lúa, phất trần, hoặc làm thêm được bất cứ thức gì trong phạm vi tiểu công nghệ gia đình đều mang ra chợ bán. Hoặc có ai nuôi được lứa gà, lứa vịt đã lớn, hoặc nhà ai có đàn chó con mới đẻ, cân bán bớt, họ cũng đều nhân phiên chợ này mà tiêu thụ đi.

Lại những người buôn thúng bán bưng, mấy cô hàng xén, cứ đúng ngày phiên là có mặt ở chợ làng tôi. Những người làng trên xã dưới, có hàng hóa gì, họ cũng mang tới chợ để bán, rồi mua đổi lấy những đồ ăn thức dùng khác.

Đường làng ngày phiên chợ thật đông. Tác giả L'indochine en Zlggzags, ông Billotey đã tả quang cảnh này, không biết có phải đúng vào phiên chợ làng tôi không:

Trên chính con đường, cả một đoàn người nối đuôi nhau đi. Phải chăng họ từ phiên chợ trở về, những người dân quê gánh nặng và đông đảo ấy? Họ bước thoăn thoắt vội vàng chiếc đòn gánh tre trên vai cứ lủng lẳng thõng xuống như hai đĩa cân, hai rổ sảo giống như hai chiếc ly hoặc, những thúng mủng. Trong những thúng, mủng này chồng chất nghìn thứ khác nhau, thóc, gạo, chuối, rau cỏ, hạt, cau,trầu, rơm, nồi đất buộc rất tài tình và nhiều thứ khác nữa.[1]

Thì đã nói các làng quê giống nhau mà! Giống nhau về hình thức đã đành, mà còn giống nhau về sinh hoạt nữa.

--- --- ---
[1]. Sur la route elle-même, tout un peuple circule à la queue leu leu. Reviennentlls de la Foire, ces campagnards si nombreux, si chargés?lls trottinent, pressés portant sur l›épaule le fléau de bambou auquel pendent, comme les plateaux d›une balance, deux vanneries en forme de coupe ou des paniers cylindriqué, Là-dedans s›amoncellent mille denrées disparates, paddy, riz décortiqué, bananes, herbes graines sinconnues, noixd›arec, feuille de bétel, paille, marmites en terre cuite adroitement ficelées ét bien d›autres choses, encore.
--- --- ---

Những điểm tương đồng và dị biệt giữa các làng quê

Đã ai có dịp đi thăm nhiều làng quê chưa nhỉ, và đã có những ai đi sâu vào trong những làng quê ắt phải nhận thấy những ngôi đình làng, ngôi chùa làng, bãi tha ma ở cuối hoặc đầu làng, cầu quán bên đường làng để khách bộ hành vào nghỉ chân cũng như những thợ làm đồng buổi trưa vào nghỉ mát, một vài ngôi miếu trong làng đều hao hao tương tự giống nhau, nếu có khác chỉ là những điều dị biệt rất nhỏ. Tới làng này, người ta có cảm tưởng như đã đi qua một lần nào nếu người ta đã có dịp đi thăm những làng khác vùng quê. Những làng ở trung châu hầu như cùng làm theo một kiểu mẫu, xếp theo một bức họa đồ tuy những làng ở men sông nước có khác những làng ở giữa cánh đồng bát ngát. Sự khác biệt cũng có thể có ở giữa một làng ở trung châu với một làng trung du nằm trườn mình bên một sườn đồi.

Tôi nhớ lại một bài học thuộc lòng tôi đã dùng dạy các trẻ em ở các lớp sơ học về làng tôi:

Làng tôi bé nhỏ xinh xinh,
Chung quanh có lũy tre xanh rườm rà
Trong làng san sát nóc nhà,
Đình làng lợp ngói có và cây cau
Chùa làng rêu phủ mái nâu
Dân làng thờ Phật để cầu bình an.

Chợ làng có quán năm gian,
Ngày phiên thiên hạ buôn hàng rất đông.
Giếng làng có mạch nước trong.
Có cây đa mát bóng vùng rất xa,
Trường làng rộng rãi bao la,
Chúng tôi đi học trường nhà rất vui.

Với đầu đề ''Làng tôi'', bài học thuộc lòng trên đã tả lên bất cứ một làng nào vùng quê Bắc Việt ở trung châu, cũng như miền ở Bắc Trung Việt. Chung quanh làng bao giờ cũng có lũy tre, dù làng nằm bên bờ sông hay trườn mình bên cạnh sườn đồi.

Lũy tre che chở cho làng rất chắc chắn, nhiều khi lũy tre dày đến năm sáu thước, tre mọc san sát nhau súng bắn không qua.

Ngoài tác dụng che chở cho làng chống cướp bóc, lũy tre còn cung phụng cho dân làng vật liệu để làm nhà, làm lạt, đan rổ rá và tạo nhiều đồ dùng thường nhật khác.

Nhất xã, nhị, tam thôn

Không phải mỗi làng chỉ có một lũy tre, có làng có đến hai ba lũy tre, mỗi thôn có một lũy tre riêng.

Miền Bắc và miền Trung có nhiều làng nhất xã, nhị tam thôn, nghĩa là một làng có ba bốn thôn khác nhau, ở cách nhau một quãng đường, và giữa những thôn này và đồng ruộng, thí dụ như làng Kim Đôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) nhất xã tam thôn: các thôn Ngọc Đôi, Quỳnh Đôi và Kim Đôi. Trong trường hợp một xã đôi ba thôn, mỗi thôn có lũy tre riêng và mỗi thôn có sinh hoạt riêng với giếng của thôn, đình làng thôn, và đi vào trong thôn phải đi qua cổng thôn xây dựng cũng như cổng làng, chỉ mấy chữ đại tự khắc mé trên nói lên đó là cổng của thôn nào. Gọi là sinh hoạt riêng, nhưng sinh hoạt vẫn phải phù hợp với sinh hoạt chung của làng, lệ làng vẫn là lệ làng chung, và những người lãnh đạo làng xã đều do các thôn bầu chung lên.

Có nhiều làng không phải nhất xã nhị tam thôn, một xã chỉ là một xã, nhưng ngoài xã chính ra, làng lại có thêm một ấp nhỏ, ấp này vẫn ở trên địa phận làng, nhưng ở xa làng chính, do một vài người trong làng vì sinh kế lập nên với sự thỏa thuận của hương lý trong làng: một vài người giàu có, có nhiều ruộng, tọa lạc ở chỗ quá xa làng, họ lập nên ấp và mượn tá điền ngụ canh, hoặc bên bờ sông ở cách xa làng một số người làng sinh sống về nghề đánh cá, cùng nhau lập ấp ở bên sông.

Một thí dụ tượng trưng cho ấp làng có thể kể được làng Thị Cầu huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc).

Làng này có một ấp ở giáp mé sông Cầu gọi là Tân Ấp. Tân Ấp thành lập bởi một vài người làng, và có nhiều người ở nơi khác tới cư ngụ.

Làng Thị Cầu có một viên lý trưởng chịu trách nhiệm về toàn xã, nhưng có hai viên phó lý, một để giúp việc lý trưởng về các công việc ở ngay làng và một ở Tân Ấp để giúp việc lý trưởng trông coi các công việc riêng thuộc về ấp này. Trong một xã có hai ba thôn khác nhau cũng vậy cả làng chỉ có một lý trưởng, nhưng mỗi thôn đều có thể có một phó lý riêng.

Xóm

Một làng có thể có nhiều xóm, và một thôn cũng vậy. Mỗi xóm là một khu làng, có một con đường đi vào tít trong xóm, dân xóm làm nhà ở hai bên, cổng ngõ quay ra đường xóm. Mỗi xóm cũng có cổng riêng gọi là cổng xóm.

Làng xã Miền Nam

Miền Nam làng xã hơi khác. Dân làng ở rải rác trên địa phận làng, không hợp nhau thành xóm, và chung quanh làng không có lũy tre xanh. Làng ở miền Nam thường rộng lớn hơn các làng miền Bắc, và chia làm nhiều ấp, và mỗi ấp ở đây có thể coi như một thôn miền Bắc có khi địa thế lại rộng và dân cư lại đông hơn một làng miền Bắc hoặc miền Trung.

Làng Khánh Hậu thuộc quận Thủ Thừa, tỉnh Long An có tất cả sáu ấp:

Ấp Dinh A
Ấp Dinh B
Ấp Mới
Ấp Thủ Tựu
Ấp Nhơn Hậu
Ấp Cầu

Sáu ấp chung hợp lại một làng, (xã), có một chủ tịch xã, riêng mỗi ấp có một trưởng ấp để trông nom công việc hàng ấp. (Ấp ở Nam coi như thôn ở Bắc vậy).

Đại để việc tổ chức ấp xã ở miền Nam, tuy có khác, nhưng cũng không khác bao nhiêu đối với các thôn xã miền Bắc và miền Trung.

Đất lề quê thói, sự khác biệt tất nhiên phải có để phù hợp với hoàn cảnh địa lý, với khí hậu và với dân tình, nhưng tuy có khác mà vẫn là giống nhau vì những đặc tính chung của dân tộc.

Người miền Bắc vào Nam cũng như người miền Nam ra Bắc, khi phải sống theo nếp sống nơi đồng ruộng, người ta hòa đồng rất dễ dàng, và ở đất nước Việt Nam không có sự khác biệt về ngôn ngữ, về phong tục tập quán bao nhiêu giữa nơi này và nơi khác. Một người gốc ở ải Nam Quan gặp một người gốc Cà Mau, đôi bên không có gì không hiểu nhau, không giống như ở nhiều quốc gia, người miền này nói, người miền kia không hiểu.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc đồng nhất, thực dân dù có dùng chính sách chia để trị thì người Việt Nam bao giờ cũng chỉ biết thương yêu nhau, và ngoại tộc càng muốn chia rẽ, người Việt Nam lại càng đoàn kết hơn.

Nguồn gốc làng xã Việt Nam

Tôi trở lại ngôi làng tôi.

Làng tôi có đã từ bao giờ không ai biết. Có tò mò hỏi, các cụ chỉ trả lời:

- Làng có từ khi có làng chứ còn có từ bao giờ nữa. Chỉ nói lẩn thẩn!

Có làng nghĩa là từ khi bắt đầu có người ở, có thể đầu tiên chỉ là một gia đình, rồi hai ba gia đình kéo nhau tới làm ăn, kiếm ăn được, trông trọt dễ thế là người nọ rủ người kia, đông mãi hơn lên rồi thành làng. Làng thành rồi là làng có mãi, mặc những cuộc thay đổi hưng vong.

Làng xã Việt Nam là một cơ cấu vững bền trải qua những cuộc biến thiên của lịch sử nước nhà.[1]

Làng xã Việt Nam có từ ngàn xưa, và làng Việt Nam là làng Việt Nam. Nhiều tác giả ngoại quốc như các ông Luro, Ory, Pasquier và Rouilly cho rằng cơ cấu làng xã là một cơ cấu bắt nguồn từ Trung Quốc[2] và ý kiến này cũng đã có nhiều tác giả Việt Nam chấp nhận, như ông Trần Văn Trai trong luận án tiến sĩ văn khoa năm 1942 ở Paris với nhan đề Gia đình phụ hệ Việt Nam.[3]

Các tác giả trên đã căn cứ theo sự phân chia công điền công thổ tại nước ta, giống như phép tỉnh điền trong Chu lễ của người Trung Hoa, mặc dầu sự phân chia này không hoàn toàn giống hẳn như theo Chu lễ. Hơn nữa trong “Lịch triều Hiến Chương” của Phan Huy Chú từ quyển XXIX đến XXXII và ''Quốc dụng chí'' cũng có nhắc tới cách phân chia công điền công thổ của người Trung Hoa.

Ý kiến trên thực ra không thể đứng vững được. Nguyễn Hữu Khang trong luận án Tiến sĩ về ''Làng xã Việt Nam, nghiên cứu lịch sử, pháp lý và kinh tế'' đã bác bỏ ý kiến trên và cho rằng ''Tất cả các nhà xã hội học đều đồng ý công nhận con người đã luôn luôn sống thành tập thể.

Ngay từ ngày xửa ngày xưa, con người, sinh vật tập thể, đã cùng với đồng loại họp nhóm, dù chỉ là do thiên tính.

Tập thể nguyên thủy, những bộ lạc đầu tiên nhất người ta đã tìm thấy, cũng những bộ lạc cổ xưa nhất, dù họ đã tụ hội trên ý tưởng quyến thuộc, liên hệ vì một ông tổ chung, có thực hoặc tưởng tượng, hay trên những đặc tính tương đồng hoặc dính dáng về sinh hoạt, hay, sau hết, chỉ bởi sự kiện đồng cư ở một nơi, đều chứng tỏ sự cần thiết thiết yếu và khởi thủy này của con người.[4]

Người Việt Nam cũng như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới, lúc đầu tiên đã cùng nhau tụ hội rồi hợp thành làng. Có người là có làng, và đã có làng là có sinh hoạt cá nhân cũng như tập thể.

Khi hỏi về làng tôi, như trên đã trình bày, các cụ trong làng không biết làng có từ bao giờ, và cũng không hề bao giờ các cụ nghĩ tới lúc sơ khởi của làng mình.

Cũng có đôi cụ thỉnh thoảng nói với con cháu:

Làng ta trước đây là đất hoang rồi các cụ tới khai phá lập nên làng. Thì cũng như các ấp sau này được lập nên.

Những điều trên chứng tỏ rằng làng Việt Nam, làng tôi cũng như bất cứ làng nào khác, không phải đã thành hình vì rập theo khuôn mẫu của người Trung Hoa. Người Việt Nam sống họp nhau thành làng là do thiên tính của con người muốn sống quây quần tụ họp, và thiên tính này chính là thiên tính sinh tôn.

Hình thể làng xã

Nói về làng xã, ông Nguyễn Văn Huyên trong quyển “Văn Minh Việt Nam”[5] có phân biệt các làng theo hình thể. Theo ông, làng Việt Nam thường tọa lạc bên cạnh các dòng nước, và ở đằng xa trông như một túp cây xanh mọc hỗn độn nào tre, nào mít, nào muỗm, nào cây gạo, cây dừa v.v...

Làng ăn theo chiều dài

Những làng này có thể dài ngoẵng, nhà cửa cất dọc đường cái hoặc dòng sông như các làng Phù Đổng và Đông Viên nằm liền nhau theo bờ sông Đuống tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) trên một chiều dài gần mười cây số, các làng Yên Sở, Đắc Sở ở Hà Đông (Hà Nội) làng Tiên Mỗ ở Vĩnh Yên (Vĩnh Phú) v.v…

Tỉnh Thừa Thiên có làng Quế Chữ và Thanh Thủy cũng là những làng dài ngoẵng trên ba cây số, làng Quế Chữ dọc theo một dòng sông, còn làng Thanh Thủy đọc theo đường cái

Miền Nam cũng có nhiều làng ăn theo chiều dài, như các làng Phú An và An Hóa tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) nằm dọc theo sông Ba Lai không dưới 16 cây số từ Đông sang Tây, làng Long Bình tỉnh An Giang, nằm theo kinh Rạch Lớn trên 8 cây số v.v...

Làng nằm rải rác

Cùng với những làng dài ngoẵng lại có những làng rải rác thành những cụm nhỏ nằm thành hàng theo những doi đất dọc theo bờ Nam Hải, như các làng Thần Huống và Lũng Đầu, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình giữa sông Trà Lý và sông Diêm Điền, làng Quất Lâm ở phủ Xuân Trường tỉnh Nam Định (Hà Nam Ninh), các làng Cổ Ngãi và Đại Dư ở cửa sông Bassac và rất nhiều làng khác ven bờ biển Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.

Làng tựa ven đồi

Lại có những làng tựa vào đồi như các làng Vân Khám, Long Khám và Khả Lễ ở Bắc Ninh (Hà Bắc), Chi Lai và Tiên Hội ở Kiến An, (Hải Phòng) làng Phú Trà ở Quảng Nam, làng Phú Thành ở Bình Định, làng Vĩnh Tế ở Châu Đốc, làng Ba Chúc ở An Giang v.v... Tựa vào đồi núi như vậy, dân làng sống bằng ruộng nương ở chân núi.

Các loại làng khác

Cũng phải kể tới loại làng thiết lập ở cạnh các đồn binh để dân làng tiện việc buôn bán với quân lính và gia đình như các làng Hòa Lạc ở Sơn Tây, ấp Suối Hoa ở Thị Cầu (Bắc Ninh, Hà Bắc).

Lại còn một loại làng thành lập ở ngã ba ngã tư các trục giao thông.

Đại loại về mặt hình thức làng mạc có thể phân loại như vậy, tuy nhiên cũng còn nhiều làng không thuộc hẳn về loại này, thiết lập một cách rất đặc biệt với dân cư lẻ tẻ, thôn xóm rải rác...

Dù hình thức làng thế nào mặc dầu, các ngôi làng xa trông đều na ná giống nhau như đã nói ở trên, và nếp sống ở làng này cũng không khác làng kia bao nhiêu, nhất là khi các làng đó lại ở cùng một vùng.

Được thành hình như ngày nay, mỗi ngôi làng đã trải bao cuộc hưng vong của đất nước kề từ lúc bắt đầu thành lập.

Việc thành lập làng xã

Về việc thành lập làng xã, như trên đã nói, có người là có làng, và làng lập nên là có người, nhưng nếu xét kỹ, một làng Việt Nam được tạo nên, rất có thể qua nhiều giai đoạn và bởi nhiều đường lối khác nhau.

Có thể đầu tiên chỉ là một thôn nhỏ, rồi thôn này bành trướng lên thành xã, và xã lại chia làm nhiều thôn, do đó có các xã lớn, nhất xã nhị tam tứ thôn như đã trình bày.

Xã thôn là một đơn vị dân cư họp thành trải qua nhiều đời khai thác đất đai để trồng trọt Xã thôn ở Việt Nam rất nhỏ.[6]

Việc khai thác đất đai có thể phân biệt:

a) Dân chúng khai thác.

Trong những ngày đầu khai thác, một hay mấy gia đình cùng chung lưng đấu cật để đấu tranh với thiên nhiên, giành lấy sự sống. Trải qua nhiêu đời con cháu những gia đình này sinh sôi nảy nở nhiều thêm, số ruộng đất được khai thác nhiều thêm, thôn xã dần dần hình thành.[7]

b) Đồn điền.

Đây là những đồn điền do binh sĩ khai phá. Theo các sử gia đây là một hình thức mới mẻ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ XV. Có lẽ đây là một lối bành trướng bắt chước theo người Tàu dùng cánh tay của quân lính để khai khẩn những đất đai biên giới (est, sans doute, un mode d’expansion imité des Chinois qui utillsèrent les bras des soldats pour coloniser les temtoires des frontières)[8]

Xưa kia trong những thời bình, binh sĩ được dùng trong việc khai phá đất hoang, và nước ta đã tìm có riêng một loại quân lính về công tác này, dưới triều nhà Lê mang danh là Thục điền binh, những đất đai khai khẩn được là những đồn điền. Đồn điền thuộc quyền sở hữu của Quốc gia, nhưng một phần được chia cho các làng xã tân lập tại những nơi đây và những đất đai dành cho làng xã biến thành công điền công thổ của dân làng.

Lúc đầu, khi đồn điền mới khai phá, có một vài gia đình, thường là vợ con binh sĩ, tới sinh sống, dần dần đông lên mới thành xóm, rồi thành làng. Khi đã có một làng tại đồn điền, đoàn Thục điền binh sẽ được đi tới một nơi khác để thành lập một tiền đồn mới tiếp tục công việc lập đồn điền.

c) Lao trại.

Lao trại là một hình thức đặc biệt của đồn điền.

Những Thục điền binh sử dụng sức lực của tù nhân để giúp đỡ mình trong công việc khai khẩn đất hoang. Mục đích của chính quyền xưa, khi lập ra các lao trại, là để trừng phạt một số các tội phạm. Các tội nhân tới các lao trại sẽ được hoàn lương, và như vậy lao trại đã được lưỡng lợi trong một lúc: hoàn lương cải thiện những phạm nhân và có nhân công để khai khẩn đất hoang. Ấy là chưa kể chính quyền đã lánh xa cho dân chúng những người bất hảo, có hại cho an ninh trật tự.

Những phạm nhân tới các lao trại có thể mang gia đình đi theo và họ lập làng ở đây. Làng xã lập xong họ được tự do sinh sống lương thiện, không ai còn nhắc tới quá khứ của họ nữa.

Lao trại một khi biến thành làng, làng sinh hoạt như bất cứ một làng nào khác, và lao trại không còn là lao trại nữa. Và những lao trại khác sẽ được thành lập xa hơn ở những nơi đất đai chưa khai phá.

d) Nông trại

Các chính quyền Việt Nam luôn luôn nghĩ tới việc canh nông, lập ra các vị Dinh điền sứ có nhiệm vụ tìm kiếm đất đai để dân chúng cầy cấy. Những vị Dinh điền sứ kêu gọi những người tình nguyện đi lập làng ở những nơi đất cát phì nhiêu. Cụ Nguyễn Công Trứ đã thành công trong nhiệm vụ Dinh điền sứ. Cả vùng Phát Diệm, Kim Sơn cũng như cả huyện Tiền Hải đã do công lao của cụ tạo nên.

e) Một ấp mới

Nhiều khi làng xã đã có rồi nhưng đất đai quá rộng, nhiều dân làng có ruộng nương ở tận cuối địa phận đồng làng, hoặc những dân làng quá cùng túng, ruộng nương ít làm không đủ ăn, những người này hoặc để tiện trông nom ruộng nương của mình, hoặc vì lý do sinh sống, tìm cất một căn nhà nhỏ ở nơi mình có ruộng hoặc ở ven sông làng hay ven rừng làng để đánh cá làm củi, kiếm kế sinh nhai thêm. Lúc đầu chỉ có một gia đình, rồi dần dà có các gia đình khác tới, số người gia tăng mãi. Cho đến một ngày để tiện việc tổ chức họ xin phép thành lập một ấp mới hoặc một thôn mới của làng. Sau nữa, ấp hoặc thôn lớn rộng mãi, biến thành một làng riêng.

Dù do cách nào, dưới năm hình thức trên, làng xã một khi đã thành lập cũng đều trở nên tương tự như nhau về mặt hình thể vật chất với lũy tre xanh bao quanh làng cũng như về mặt sinh hoạt với mọi tổ chức trong làng.

Tên làng

Làng đã lập thành, phải có một tên. Tên này có thể là một tên cũ, có từ khi mới có đồn điền, lao trại hay nông trại, cũng có thể là một tên sau này dân làng kén chọn lấy, để đặt cho văn vẻ.

Tên làng có thể dựa theo một sự kiện nào do những người đầu tiên đặt rất nôm na như Gốc Sộp ở Thái Nguyên (Bắc Thái), vì nơi đây dân chúng quy tập chung quanh một gốc cây sộp, Rạch Dừa vì ở đây làng nằm bên một con rạch lại có trong dừa lúc ban đầu v.v... hay được kén chọn theo kinh sách đề đặt theo điền tích văn vẻ.

Làng thôn Việt Nam thường có hai tên, một tên văn vẻ dùng trong văn thư giấy má, còn một tên nôm na dân làng và dân các xã lân cận gọi với nhau, thường gọi là tên tục.

Tên tục này có thể gọi trạnh ở chính tên làng mà ra.

Thí dụ:

Làng Vị là tên tục của làng Phương Vĩ huyện Võ Giàng, Bắc Ninh (Hà Bắc).
Làng Đọ là tên tục của làng Mỵ Độ huyện Việt Yên, Bắc Giang (Hà Bắc).
Làng Son là tên tục của làng Giá Son huyện Yên Dũng, Bắc Giang (Hà Bắc).

Tên tục này, có khi gọi khác hẳn tên chính làng.

Thí dụ:

Làng Cói là tên tục của làng Hội Hộp, huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Yên.
Làng Doi là tên tục của làng Ngư Đại, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh.
Làng Xưa là tên tục của làng Song Lư, huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.

Trên đây là những làng mang tên tục một chữ, có làng mang tên tục hai chữ, như:

Chợ Cầu là tên tục của làng Kiều Thụy, phủ Thường Tín, Hà Đông (Hà Tây).

Đầu Dàng là tên tục của làng Đặng Cầu, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên (Hải Hưng).

Tên làng thường là hai chữ, nhưng cũng có khi mang tên ba bốn chữ. Phần nhiều đây là những làng trước họp với làng khác, sau tách ra nên để phân biệt, sau tên làng cũ có thêm một chữ để phân biệt làng nọ với làng kia. Thí dụ: Bần Yên Nhân, Trà Khúc Thượng, Vân Xa Đông, Phú Thọ Hòa, Tân Phú Trung v.v...

Việc thay đổi làng xã

Nhiều làng trước nhỏ sau to vì thành lập được nhiều thôn, hoặc có khi một hai thôn tự động cùng nhau xáp nhập lại thành một làng. Lại có nhiều làng trước to sau nhỏ, vì một hai thôn thấy mình đủ khả năng tự lập tách rời khỏi làng cũ để biến thành một làng riêng.

Khi hai ba làng xáp nhập làm một, các đàn anh trong các làng cũ sẽ cùng nhau thỏa thuận để sự tổ chức của làng mới phù hợp với hoàn cảnh xáp nhập; Khi một thôn tách khỏi một làng cũ để thành một làng mới, sự tổ chức cũ của thôn sẽ sửa đổi theo đúng tổ chức của một làng.

Việc xáp nhập cũng như sự tách khỏi làng cũ này phải được chính quyền hàng tỉnh chấp nhận và đề nghị với triều đình. Dưới thời Pháp thuộc tại Bắc Việt, việc sáp nhập hoặc tách rời này phải do nghị định của viên Thống sứ, người thay thế viên Kinh lược Việt Nam.

Làng Việt Nam giống nhau trên những nét đại cương giống nhau từ lũy tre đến cổng làng, giống nhau từ ban kỳ mục tới việc thờ cúng theo nghi lễ - những làng ở miền Nam có hơi đôi chút khác biệt như trên đã nói.

Làng thủy cơ

Từ trên tôi mới chỉ nói đến những làng trên cạn, những làng này thường không khác nhau bao nhiêu, nhưng cũng có một loại làng khác hẳn với những làng đã nêu trên. Đó là những làng thủy cơ, thiết lập ở trên mặt nước còn được gọi là làng vạn, hay làng chài, gồm những người làm nghề chài lưới hay chở đò.

Theo nguyên lý thì làng chài nào cũng phụ thuộc với một xã thôn ở trên đất.[9] Và như vậy làng chài chỉ là một thôn của một làng khác. Thực ra thì làng chài vốn là làng riêng mà nhà nước chỉ bắt theo về một xã thôn trên đất để tiện việc thu thuế, cho nên những dân thủy cơ tuy phải đóng sưu thuế cho lý trưởng mà vẫn không có liên lạc gì với xã thôn ấy cả. Làng thủy cơ thường là một đơn vị hành chánh độc lập, có đủ tổ chức như một xã thôn, hoặc thường thuộc vào một tổng với các làng ở cạn, hoặc nhiều làng họp thành một tổng thủy cơ riêng.[10]

Đã gọi là làng phải có đình làng để làm nơi dân làng hội họp, và cũng phải có nơi để thờ cúng vị thành hoàng. Đình làng thường được xây trên một miếng đất làng đã mua được của một làng khác. Nhiều làng, đất không có, ngôi đình chỉ là một chiếc thuyền lớn hay cái nhà bè. Thành hoàng được thờ phụng ở đây, và khi có việc hội họp dân làng cũng tới đây.

Làng thủy cơ nhiều khi là những làng lưu động, thường cả làng di chuyển từ nơi này qua nơi khác, chiếc đình làng cũng được di chuyển dời theo. Mỗi khi có cuộc làng thiên cư như vậy, dân làng phải lễ cáo thần linh.

Vì làng thủy cơ là những làng sinh sống về nghề chài lưới hoặc chở đò, nên xưa kia Triều Đình thường cho phép những làng này được giữ độc quyền sinh sống trên một khúc sông.

Ngày nay, thỉnh thoảng ta còn gặp những làng chài được khai thác một khúc sông nào, nhất là ở Bắc và Trung Việt, nhưng phải đóng thuế hàng năm cho nhà nước.

Về hình thể, làng thủy cơ đương nhiên không giống những làng cạn, nhưng về sinh hoạt, về tổ chức, thì ở đây sự sinh hoạt tập thể, cũng như việc tổ chức làng cũng chẳng khác gì những làng cạn, vì ở cạn hay ở nước thì cũng đều là người Việt Nam, con Tiên cháu Rồng, với những tục lệ từ ngàn xưa của dân tộc.

Và có thể nói rằng người dân ở trên cạn hay người dân ở làng chài, họ đối với nhau bao giờ cũng vẫn có tình thân mật, không bao giờ họ kỳ thị nhau. Tinh thần tập thể vốn là tinh thần cố hữu của người Việt Nam. Tấm lòng hiếu khách, yêu mến bà con họ hàng cũng là một đôi biểu hiện tinh thần ấy.[11]

Vì hiếu khách, vì tinh thần tập thể nên dù ở cạn hay ở nước, người ta vẫn thương yêu nhau.

Có nhiều trường hợp những người ở làng chài vui lòng mua đất tậu ruộng lên ở những thôn xóm trên cạn.

Kết luận

Làng tôi chỉ một làng Việt Nam với tất cả những gì của làng xã Việt Nam.

Tôi nhớ lại làng tôi, tôi nhớ đến cổng làng, mặc dầu cổng làng tôi không có gì đặc biệt hơn cổng làng khác, thi sĩ Bàng Bá Lân, trong bài thơ Cổng làng chắc ông tả cổng làng ông, mà khi đọc lên tôi cứ tưởng ông tả cổng làng tôi và khi thấy ông nhớ tới làng xưa, tôi không khỏi nao nao trong dạ:

Chiều hôm đón mát cổng làng,
Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi.
Đồng quê vờn lượn chân trời,
Đường quê quanh quất bao người về thôn.

*

Sáng hồng lơ lửng mây son,
Mát trời thức giấc, véo von chim chào.
Cổng làng mở rộng ồn ào,
Nông phu lững thững đi vào nắng mai.

*

Trưa hè bóng lặng nắng oi,
Mái gà cục cục tìm mồi dắt con,
Cổng làng vài chị gái non,
Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm.

*

Những khi gió lạnh mưa buồn,
Cổng làng im lỉm bên đường lội trơn.
Những khi trăng sáng chập chờn,
Kìa bao nhiêu bóng bên đường thiết tha.

*

Ngày mùa lúa chín thơm đưa,
Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng,
Mừng Xuân ngày hội cổng làng,
Lá rơi chen chúc bao nàng ngây thơ.

*

Ngày nay dù ở nơi xa,
Thăm quê, về đến cây đa đầu làng.
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.
[12]

Con người có cái mặt, làng quê Việt Nam có cổng làng. Thấy cổng làng là hình dung ngay được cả ngôi làng với bao nhiêu cảnh sinh hoạt quanh năm ở trong làng, suốt ngày này qua ngày khác, khi nắng, khi mưa, khi gió rét... Người dân Việt Nam yêu quê hương làng mạc, ít ai muốn rời xa xóm làng.

Sống ở làng, sang ở nước. Phải rời bỏ làng mình thật là một điều bất đắc dĩ đối với dân ta.

Ở làng sống với lệ làng, đó là điều mong mỏi xưa nay của người dân quê Việt Nam. Đừng ai quan niệm rằng người dân quê không muốn sống ở làng không muốn theo lệ làng, muốn đấu tranh để phá bỏ lệ làng, quan niệm như vậy là sai và nói như vậy tức là ngụy biện.

Người dân quê muốn giữ lệ làng, muốn theo lệ làng để bảo vệ thuần phong mỹ tục, để duy trì nền đạo đức của dân tộc.

Chẳng bao giờ người dân quê lại nghĩ những hình thức sinh hoạt cũ một phần là bọn bóc lột tạo ra nó chỉ có hình thức cộng đồng tập thể chứ không có nội dung.[13]

Tại sao khi đã có hình thức cộng đồng tập thể lại không có nội dung, nhất là khi cái nội dung đó lại tiềm tàng trong tâm khảm của mọi người, và mọi người đều hoan hỷ lấy lệ làng làm mực thước trong cuộc sinh hoạt hàng ngày.

Đổi một ngôi làng bé nhỏ đơn sơ lấy một thành phố đồ sộ huy hoàng, có lẽ chẳng mấy người dân quê ưng thuận!

----- ----- ----- ----- -----

[1]. La Commune annamite est une institution qui a survécu aux vicissitúde de I›Histoirede notre pays. NGUYỄN HỮU KHANG Docteur en droit. La Commune Annamite. Etudes historique, juridique et économique.
[2]. Luro trong Couls d›Administration Annamite, Oly trong La Commune Annamite au Tonkin, Pasquier trong I›Annnam d›Autregois và Roailly trong La Commune Annamite.
[3]. La Famille Patriarcale annamite.
[4]. Tous les sociologues s›accordent pour reconrlaitre que I›homme a touiours vécu en société. Dès les temps les plus reculés, I›homme, animal social, a formé avec ses semblables des groupements, fussent ils instindifs. La horde primitive, les groupements les plus anciens que I›on ait pu retrouver, comme les plus primitifs, qu›il ssoientfondés sur une idée de parenté. de rattachhement à un ancêtre commun, réel ou imaginai re, oou sur le caractère identique ou connexe des activités ou, enfin, sur le pur fait de I›habitat en un même lieu, démontrent ce besoin essentiel et originaire de I’homme).
[5]. La civilisation annamite. - Collection de la Diredion de I›Instrudion publique de L›Indochine. 1944.
[6]. Nguyễn Hồng Phong. - Xã thôn Việt Nam. - Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, trang 127, 158.
[7]. Nguyễn Hồng Phong - Xã thôn Việt Nam. - Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, trang 127, 158.
[8]. Nguyễn Hữu Khang - La Commune Annamite, Etudes historiqué, juridiques et éconnomiques. Librairie du Recueil Sirey, Paris, 1946.
[9]. Đào Duy Anh - Việt Nam văn hóa sử cương. Nhà Xuất bản Bốn Phương.
[10]. Đào Duy Anh - Việt Nam văn hóa sử cương. Nhà Xuất bản Bốn Phương.
[11]. A.Pazzi (tức nhà văn Vũ Hạnh) Người Việt cao quý. - Hồng Cúc dịch. Cảo Thơm xuất bản, Sài Gòn 1965.
[12]. Bàng Bá Lân. - Tiếng sáo diều, trong tập 'Thơ Bàng Bá Lân''. - Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê, Saigon. 1957.
[13]. Nguyễn Hồng Phong - Sách đã dẫn.