Dân làng

Tác giả: Toan Ánh
Đơn vị xuất bản: Nxb Trẻ

Đã có làng thì phải có người, không có người ở, làng sẽ không thành làng. Người ở trong làng tức là dân làng.

Làng tôi dân cư đông đúc, đủ nam phụ lão ấu. Dân làng sống với nhau trong tinh thần cộng đồng sinh hoạt, ăn ở theo lễ nghi tập tục, kính già thương trẻ.

Cứ kể nếu phân biệt ra, dân làng có thể chia làm hai loại, đó là dân nội tịch và dân ngoại tịch .

Dân nội tịch

Dân nội tịch là những người giàu có, có chức tước, có danh vọng trong xã hội. Ngoài ra dân nội tịch còn bao gồm những kẻ trước giàu mà bây giờ nghèo, nhũng người buôn bán và những người có chút ít tài sản. Tóm lại chỉ những người có tài sản mới được coi là dân nội tịch, [1] nhưng cũng lại phải là những người dân bản xã. Những người tới ngụ cư, dù giàu có, dù đã có xin phép vào làng, chịu những sự đóng góp phu phen tạp dịch của dân làng cũng chưa được coi là dân nội tịch nếu chưa vào làng được ba đời.

Chỉ có dân nội tịch mới có quyền lợi dân đinh ở trong làng, được phép tham gia việc làng, được bầu giữ các chức vụ trong làng, được sung vào ban kỳ mục, được lên quan viên và quan hệ nhất là được chia công điền công thổ.

Dân nội tịch trong làng tự chia ra làm nhiều bực, mỗi bực đều có quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau.

Chức sắc

Trước hết phải kể các hàng chức sắc gồm những bậc khoa mục chức tước, văn thì đậu tú tài hay có hàm cửu phẩm trở lên, võ thì đậu cử nhân hay có hàm suất đội trở lên.

Hương chức

Sau hàng chức sắc là các hương chức , còn đương làm việc hoặc đã mãn nhiệm kỳ, nhưng không bị cách chức: tân, cựu chánh, phó tổng, lý, phó trưởng, hương trưởng, khán thủ, trương tuần. Hàng chức sắc còn kể cả những người bỏ tiền ra mua nhiêu mua xã trong làng.

Thí sinh, khóa sinh

Kể đến các Thí sinh, khóa sinh hoặc người trúng tuyển khảo hạch ở những làng hiếm văn học. Dưới thời Pháp thuộc, được dự vào hàng thứ ba này những người đậu được bằng sơ học Pháp Việt trở lên. Những ai đậu cao hơn bằng sơ học Pháp Việt, có thể được xếp vào hạng chức sắc.

Quan viên

Ba hạng trên này hợp lại làm một, gọi là hội tư văn và gọi là quan viên. [2]

--- --- ---
[1]. Nguyễn Hồng Phong, - Sách đã dẫn.
[2]. Phan Kế Bính, - Việt Nam phong tục, - Đông Dương Tạp chí 1914, 1915.
--- --- ---

Những người có chân quan viên được coi là danh giá trong làng; khi ra đình hội họp có quyền ăn nói. Các tư gia, mỗi khi có việc khao vọng hiếu kỷ đều mời tới các quan viên. Và cũng chỉ các quan viên mới được mời tham dự việc tế tự trong làng.

Tuy nhiên, muốn được dự hàng quan viên, trước hết phải có đủ lệ khao vọng, bằng không thì dù có chức tước gì cũng vẫn bị coi như hạng bạch đinh.

Lệ khao vọng này, theo Đào Duy Anh, nguyên trước đây lệ triều đình đặt rất giản tiện, đại để như đỗ tú tài thì khao một con gà, một đĩa xôi và ba quan tiền, đỗ cử nhân thì khao một con lợn, một mâm xôi và năm quan tiền v.v... Nhưng Phép vua thua lệ làng, nhiều làng tự đặt ra những lệ nặng hơn, rồi các đương nhân lại ganh đua nhau muốn làm hơn lệ làng, cỗ bàn linh đình tốn kém. Đúng ra người đứng khao chỉ cần nộp đủ lệ vọng ấn định bởi lệ làng là được dự hàng quan viên rồi, nhưng ai cũng e miệng tiếng chê cười, nên lệ khao vọng do đó thành một sự tiêu phá quá đáng, mời họ hàng làng nước ăn uống đến mấy ngày.

Ngoài ba hạng chức sắc, hương chức, và thí khóa sinh, dân nội tịch còn ba hạng nữa.

Lão hạng

Lão hạng gồm những người từ 50 hay 55 tuổi trở lên, tùy theo từng làng. Lão hạng cũng có lệ khao vọng và chỉ những người đã tuân theo đủ lệ làng mới được dự vào hạng lão, và được ngồi vào chỗ dành riêng ở đình.

Khi một cụ tới 60 tuổi, sau tuần khao thượng thọ và nộp vọng cho làng được miễn trừ hết phu phen tạp dịch và cả thuế má nữa.

Tuổi thọ rất được tôn trọng, ta có câu Triều đình thượng tước, hương đảng thượng xỉ, nghĩa là ở chốn triều đình, chức tước ở trên, còn chốn đình trung, tuổi tác ở trên.

Chính vì tuổi tác được xếp ở trên, nên những người đến tuổi lên lão, khi năm mươi hoặc năm mươi lăm tuổi, nhiều làng gọi là lên xỉ, và trong các cụ lên xỉ, có một cụ là trưởng xỉ . Cụ này nhiều tuổi nhất trong các cụ lên xỉ. Lên xỉ được dân làng tôn là Bô lão . Trong các hàng bô lão cũng có sự phân biệt các cụ thượng và các bô lão thường. Thường các cụ thượng là những cụ từ 80 tuổi trở lên. Nhiều làng tôn bốn cụ Thượng nhiều tuổi nhất là Tứ trụ, gọi là cụ thượng nhất, cụ thượng nhì, cụ thượng ba và cụ thượng tư.

Dân đinh

Dưới lão hạng là dân đinh.

Dân đinh gồm tất cả nam công dân ở trong làng từ 18 đến 49 tuổi, mỗi người là một xuất đinh . Hạng 18 tuổi ở nhiều xã, như ở làng Thị Cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh gọi là đại hạ, nghĩa là những người dưới nhất được tham dự vào chốn đình trung.

Ti Ấu

Dưới dân đinh là hạng ti ấu.

Ti ấu là hạng trẻ con, tuổi từ lên 6, lên 7 đến 17 tuổi. Hạng ti ấu không được tham dự đình trung nhưng được dự vào hàng phe, hàng giáp và hàng xóm. Tuy nhiên, không phải bất cứ ti ấu nào cũng được tham dự, muốn tham dự, trước hết phải lo đủ lệ làng nghĩa là bố mẹ phải xin cho con vào hàng phe, hàng giáp, hàng xóm, rồi xin vào làng, khi xin vào làng phải nộp lệ vong.

Với sáu hạng trên của dân nội tịch từ hàng chức sắc đến ti ấu ngôi thứ được phân chia để duy trì trật tự trong hương đảng. Trong làng có sổ hương ẩm, cứ chiếu theo sổ này mà định ngôi thứ. Trong ba bậc trên, các quan viên có thể vượt lên bậc cao hơn thứ bậc cũ, còn ngoài ra dân đinh cứ theo thứ tự ghi trong sổ mà tính ngôi thứ.

Dân ngoại tịch

Dân ngoại tịch gồm những kẻ cùng khó trong làng không có tài sản, không có học vấn khoa cử, và những người ngụ cư đã xin nhập tịch, như trên đã nói nhưng chưa đủ ba đời. Có nhiều làng, lệ làng rộng rãi dân ngụ cư sau khi nộp một món tiền lệ làng cũng có thể sung dân nội tịch được, nhưng chỉ được xếp vào hạng dân đinh, dù giàu có hoặc đỗ đạt, và khi lên lão không bao giờ được phép lên tới tứ trụ, mà chỉ được liệt vào hàng bô lão dù tuổi tác bao nhiêu.

Quyền lợi dân làng

Xét qua các đẳng cấp trên ở thôn xã ta thấy rằng chỉ có ba lớp trên trong hạng nội tịch họp thành các quan viên là quyền lợi nhiều và chiếm giữ các địa vị. Lão hạng cũng có quyền lợi, nhưng chỉ ở trong những buổi việc làng về tế tự, và khi ra đình được ngồi chiếu trên dành cho tuổi tác.

Lớp dân đinh cũng như dân ngoại tịch không được quyền tham dự vào việc làng, phải chịu sự chỉ huy của mấy lớp trên, và phải chịu phần gánh vác mọi việc phu phen tạp dịch trong làng. Trong phần gánh vác này, những người ngụ cư phải chịu gánh nặng hơn dân đinh bản xã.

Qua các điểm trên, ta thấy rằng, sự phân chia đẳng cấp trong thôn xã thật là phức tạp, và ranh giới giữa mọi đẳng cấp cũng thật nhiêu khê, nhưng thật tỉ mỉ. Có như vậy mới giữ được cái tinh thần ngôi thứ ở xã thôn, nó bảo đảm cho cái trật tự của làng xã.

Tuy đẳng cấp được phân chia, nhưng không phải ở hạng nọ không lên được hạng kia, ngoại trừ người ngụ cư. Tại các làng đều có tục mua nhiêu, mua xã. Người dân bạch đinh có thể bỏ tiền ra mua nhiêu, mua xã, và được xếp vào hàng quan viên. Sự kiện này cũng dễ hiểu. Tiền mua nhiêu xã sung vào quỹ làng, và số tiền này sẽ dùng vào công việc chung của làng, người dân bỏ tiền ra mua nhiêu xã tức là ghé vai vào gánh vác việc làng, để đền đáp sự ghé vai này, lẽ tất nhiên phải có quyền lợi gì để những người dân khác trông gương đó noi theo.

Ngoài ra, những kẻ hiếu học thi cử đỗ đạt cũng được xếp vào hàng quan viên, điều này chỉ là điều khuyến khích việc học.

Với quyền lợi của hàng quan viên và của lão hạng, với sự gánh vách mọi việc phu phen tạp dịch của lớp dân đinh và của dân ngoại tịch, ta nhìn thấy sự bất công, nhưng ta phải thấy qua sự bất công này cái tinh thần tập thể của dân làng; dân làng dành quyền chỉ huy cho lớp người có văn hóa, có khả năng, có uy tín và có kinh nghiệm vì tuổi tác. Và sự bất công ta nhận thấy lại chính là sự công bằng đối với dân đinh. Lớp quan viên và lão hạng chịu trách nhiệm chỉ huy công việc làng xã phải được hưởng quyền lợi xứng đáng với trách nhiệm nặng nề đó.

Có lẽ sẽ có người cho là không đúng vì tại nhiều xã thôn đã xảy ra những vụ dân đinh kiện các huynh trưởng trong làng.

Xin thưa: đây là nạn cường hào ác bá, và nạn này chỉ xảy ra ở những xã phong hóa suy đồi, con người bị mê hoặc bởi quyền lợi, nhất là dưới thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp tìm cách mua chuộc lớp cường hào để công việc đô hộ đỡ gặp những chuyện chống đối, và dùng lớp cường hào để làm tay sai đè nén và bóc lột dân chúng.

Tại những nơi, nền đạo đức còn vững bền với những thuần phong mỹ tục, dân làng cùng nhau chung lưng đấu cật để lo sự hưng thịnh cho làng, các cấp chỉ huy trong làng đều là những người nghĩ tới làng, nghĩ tới dân làng, và dân làng chỉ biết tuân theo những hiệu lệnh của các cấp này mà họ tin là những người xứng đáng để họ tin cẩn. Họ chịu những sự gánh vác, họ nghĩ rằng đến phép vua, còn thua lệ làng, việc chịu đựng của họ chỉ là sự đương nhiên nếu họ muốn làng mạc yên ổn, không có trộm cướp, đê điều được trông nom cẩn mật v.v...

Và ở nơi đây, tầng lớp chỉ huy, với sự thấm nhuần đạo đức Đông phương, đã chẳng bao giờ trở thành những cường hào ác bá bóc lột dân làng.

Ta phải hiểu rằng tại nhiều xã thôn, những người nghèo được miễn sưu thuế, theo đúng lệ xưa, và ngay đến thời Pháp thuộc, số thuế mỗi làng phải gánh vác, tuy chính quyền tính theo sổ đinh, nhưng trong dân xã, người ta vẫn bổ bán với nhau giữa những người có khả năng đóng thuế và miễn cho hạng cùng đinh cũng như những người tàn tật già nua.

Tứ dân

Phân chia dân làng làm hai loại, nội tịch và ngoại tịch, nhưng trong hai hạng này đều gồm đủ sĩ nông công thương, bốn giới của dân cư. Đây là bốn giới phân biệt theo nghề nghiệp, không phải là bốn loại phân hạng của dân xã.

Theo ông Gerald C.Hickey thì những nhà điều tra gần đây cho rằng ở các làng tại Bắc và Trung phần sự phân hạng như thế [1] vẫn còn tồn tại trước thời kỳ chiến tranh, và tiếp tục có một ảnh hưởng đến sự chọn lựa về nghề nghiệp. Vì tính cách tương đối cô lập của Nam phần, nên cách phân hạng sĩ, nông, công, thương chưa bao giờ trở thành rõ rệt trong xã hội hương thôn của lên Nam.[2]

Nhận xét trên không sát với sự phân hạng của dân làng. Có nhiều làng cả làng đều làm thợ, lại có những làng khác cả làng đều đi buôn. Thường ra trong một làng mỗi hạng trong tứ dân đều có một số ít.

Sự phân hạng theo đẳng cấp đối với các làng xã Việt Nam mới là một điều cần thiết, vì còn liên quan tới việc quản trị cộng đồng của thôn xã.

--- --- ---
[1]. Nghĩa là chia làm 4 hạng: sĩ, nông, công, thương.
[2]. Gerald C. Hickey với sự cộng tác của Bùi Quang Đa, - Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam Xã Hội Học, - Phái đoàn cố vấn Đại học đường tiểu bang Michigan tại Việt Nam, 1960, Võ Hồng Phúc dịch.
--- --- ---

Phân chia giai cấp ở miền Nam

Ở miền Nam sự phân hạng dân chúng trước đây rất giản dị, tại các làng chỉ có các chủ điền và các tá điền. Chủ điền có ruộng nương, tá điền là người cầy cấy các ruộng nương của chủ điền và hàng năm nộp cho chủ điền một số tô tùy theo số lượng nhận khai thác.

Cũng có thể nói, trong làng chỉ gồm hương chức và dân đinh. Hương chức là những người giữ các chức vụ trong làng, còn dân đinh là tất cả những người khác ở trong làng. Thông thường các hương chức phần lớn là các chủ điền, vì chỉ những người này mới được dân đinh tín nhiệm bầu ra. Đôi khi dân chúng cũng bầu vào chức vụ trong làng những bậc khoa cử và trí thức.

Những người ngoại quốc, gần đây, nhất là người Mỹ khi khảo sát về dân chúng Việt Nam có lối phân hạng khác. Chúng tôi xin nhắc tại nơi đây để bạn đọc hiểu rõ sự phân hạng này tuy chúng tôi không hoàn toàn đồng ý. Theo họ dân chúng có thể phân biệt thành ba giai cấp: giai cấp thượng lưu, giai cấp trung lưu và giai cấp hạ lưu. Tuy có sự phân chia giai cấp nhưng đây chỉ là một cách phân chia để phân biệt ba hạng người trong xã hội, không phải là một sự phân chia để đấu tranh.

Trong khi nghiên cứu về xã Khánh Hậu, quận Thủ Thừa, tỉnh Long An, ông Gerald C. Hickey đã nói đến sự phân hạng theo đẳng cấp này:

Trên căn bản mức lợi tức kinh tế, phản ánh trong địa vị nghề nghiệp, số ruộng mà nông dân có hay mướn và nếp sống, người ta có thể chia Khánh Hậu ra làm ba giai cấp:

Thượng lưu, Thượng lưu và Hạ lưu. Trong mỗi giai cấp, lẽ tất nhiên là có sự khác biệt nhau, nhưng những người trong cùng một giai cấp đều có một số đặc tính thông thường đủ để chứng minh sự kết hợp của họ.[1]

Giai cấp thượng lưu

Theo tác giả, giai cấp thượng lưu ở Khánh Hậu có thể nhận ra trong đám dân có trên 4 mẫu ruộng hoặc mướn trên 5 mẫu ruộng. Mức lợi tức kinh tế của những người này cho phép họ duy trì một nếp sống tiểu quý tộc. Ruộng nương của họ, họ cho mướn, hoặc thuê người làm. Họ có dư tiền làm công việc khác hoặc cho vay nợ. Ruộng nương sẵn, lại sẵn tiền, họ ở nhà gỗ mái ngói. Nếu nhà giàu ở miền Bắc có nhà ngói bể cạn cây mít, thì ở Khánh Hậu đây, giai cấp thượng lưu cũng vậy, và ở nơi đây, bể cạn lại càng cần hơn đề bảo đảm sự có nước dùng quanh năm, nhất là trong mùa nắng.

Đồ đạc trong nhà của giai cấp thượng lưu cũng lịch sự với những bộ ngựa, bộ phản, bộ tràng kỷ chân quỳ chạm trổ theo lời cổ xưa, với những bát đĩa sang trọng đồ Tây hoặc đồ Tàu.

Đàn ông ở giai cấp này thường mặc quần trắng áo dài đen, đầu để tóc, búi lại và đội khăn khi giao thiệp, còn thường ngày họ cũng mặc bộ quần áo bà ba trắng. Chân họ đi giày, dép hoặc guốc.

Y phục của đàn bà ở giai cấp này hơi khó phân biệt với các giai cấp khác. Ở nhà họ mặc áo bà ba trắng, quần đen. Ra đường họ đội nón hay quàng lên đầu một khăn lông. Những khi cần thiết họ cũng mặc áo dài đen hoặc trắng bằng thứ vải tốt.

Giai cấp trung lưu

Đây là những người ruộng nương ít hơn những người ở giai cấp thượng lưu, phần đông họ theo nghề canh nông, tuy cũng có đôi người làm tiểu công nghệ để kiếm thêm cho quỹ gia đình. Họ thường có từ hai đến bốn mẫu ruộng, hoặc thuê mướn từ hai mẫu rưỡi đến năm mẫu. Công việc canh nông cung cấp đủ ăn cho gia đình, và để sinh lợi thêm, ngoài tiểu công nghệ họ còn nuôi thêm tiểu gia súc như lợn, gà, ngỗng, vịt...

Nhà ở của giai cấp này thường là nhà gỗ mái lá, cũng có đôi nhà dành dụm làm nhà gỗ mái ngói. Đồ dùng trong nhà tuy không sang trọng cầu kỳ như đồ dùng của những gia đình thượng lưu nhưng cũng đẹp đẽ. Họ thường dùng những đồ chắc bền.

Về y phục họ cũng tiện dụng hơn giai cấp thượng lưu.

Lúc làm đồng họ ăn mặc đúng kiểu dân quê miền Nam: quần cụt, áo bà ba bằng vải đen, nón lá. Trông họ ta có thể lầm với những người nông dân nghèo ở giai cấp hạ lưu. Họ thường đi chân không khi đi làm đồng.

Trong khi giao thiệp, họ mặc đồ bà ba trắng và đi guốc, nhưng trong những trường hợp quan trọng họ cũng khăn đóng áo dài.

Ấy là đàn ông, còn đàn bà, họ ăn mặc tương tự như phụ nữ ở giai cấp thượng lưu. Ở trong nhà họ cũng quần đen áo bà ba. Ra ngoài, trong những trường hợp giao thiệp, họ mặc áo dài đen hoặc trắng, thường kén những thứ hàng ít đắt tiền hơn phụ nữ giai cấp thượng lưu.

Giai cấp hạ lưu

Giai cấp này gồm tất cả những người không ở hai giai cấp trên. Đây là những người thường không có ruộng nương, hoặc nếu có thì số ruộng cũng không đủ nuôi gia đình. Họ làm công cho những người ở hai giai cấp trên. Có nhiều người thất nghiệp ăn nhờ vào người khác hoặc làm những nghề nghiệp mà hai giai cấp trên không làm. Có người sống nhờ vào con cái, hoàn cảnh những người góa bụa, hoặc đi buôn thúng bán bưng.

Thường tất cả mọi người trong giai cấp hạ lưu đều bó buộc phải tham gia vào công việc sinh kế để góp phần vào sự no ấm cho gia đình, kể cả trẻ em: đàn ông con trai đi làm mướn, đàn bà làm tiểu công nghệ hoặc buôn bán loanh quanh, con cái đi ở mướn, đi chăn trâu, đi kiếm củi, đi câu v.v...

Nhà cửa của giai cấp này thường nhà gỗ mái tranh. Cũng có ít gia đình có nhà gỗ mái ngói, nhưng việc xây cất cũng giản dị hơn nhà cửa của hai giai cấp trên, lại chật hẹp chỉ đủ để gia đình trú ẩn.

Đồ đạc trong nhà thường là những đồ rẻ tiền mộc mạc, và bày biện một cách đơn sơ. Có khi là những đồ cũ mua lại hoặc xin được của những gia đình giàu có.

Giai cấp tại miền Bắc và miền Trung

Việc phân hạng xã hội như trên tại xã Khánh Hậu, quận Thủ Thừa tỉnh Long An, liệu có thể tiêu biểu cho sự phân hạng xã hội tại các làng khác ở miền Nam nước Việt chăng? Sự phân hạng này chỉ nhằm trên mặt xã hội, vì tại bất cứ xã nào, cũng vẫn còn có sự phân biệt giữa những người giữ các chức vụ trong làng và dân đinh.

Ở miền Bắc và miền Trung khi nói tới ba giai cấp, người ta thường căn cứ vào sự sang trọng phong lưu, và trình độ học thức và vào cách xử thế của con người. Những bậc thượng lưu là những người có học vấn, có địa vị, có uy tín và nhất là có đạo đức. Bậc thượng lưu không có quyền có những hành động hèn hạ của hạng hạ lưu. Giấy rách phái giữ lấy lề, một người được dân làng coi là bậc thượng lưu, dù ở trong hoàn cảnh túng thiếu cũng phải giữ lấy cái sĩ diện của mình, tỷ dụ như một ông đồ thường được dân làng kính trọng và coi vào bậc thượng lưu, không thể có những cử chỉ thô kệch, và cũng không bao giờ dù muốn kiếm tiền, hạ mình làm những công việc của hạng hạ lưu. Muốn đứng vững ở địa vị thượng lưu, con người phải giữ lấy cái giá trị của mình, phải đói cho sạch, rách cho thơm.

Những người ở giai cấp trung lưu, ở địa vị trung bình. Có thể là người có nhiều tiền, và cũng có thể là người không có tiền, nhưng đây là những người tuy có học nhưng trình độ không bao nhiêu, chỉ thông văn tự, không có địa vị gì ở trong làng, nhưng là những người lương thiện và giữ được đạo đức để khỏi bị liệt vào hạng hạ lưu. Giai cấp hạ lưu là những kẻ hèn hạ, nhân phẩm thấp kém, bị dân làng coi khinh, thường làm thuê làm mướn nhưng lại thiếu căn bản đạo đức. Đây lại gồm cả những kẻ có án tích, những kẻ gian lận trộm đạo trong làng, và cả những anh cùng đinh, suốt đời không bao giờ đóng nổi xuất thuế thân đến nỗi dân làng phải gom nhau gánh vác hộ.

Việc phân biệt làm ba giai cấp thượng lưu, trung lưu, và hạ lưu không ăn nhằm gì với việc phân biệt dân đinh thành nội tịch, ngoại tịch và chia đẳng hạng như trình bày ở trên. Một người ở giai cấp hạ lưu, vẫn có thể khi đến tuổi được dự việc làng nếu chịu khao vọng đủ lệ làng. Trong trường hợp này, thường thường các đương sự sau khi được dự vào việc làng, tư cách của họ cũng tự được sửa đổi để xứng với địa vị mới chốn đình trung và dần dần họ sẽ được người làng nhìn bằng con mắt khác và như vậy họ không phải ở giới hạ lưu nữa.

Tuy nhiên, không phải bất cứ người nào cũng được khao vọng. Nếu là dân ngoại tịch, nếu là dân nội tịch cùng đinh mà suốt từ lúc thập bát cho đến khi đáo tuổi khao vọng không đóng nổi thuế đinh của mình thì cũng không được phép khao để nhập đình trung. Lại cả những người làm những nghề quá hạ tiện như làm mõ ở một xã khác hoặc liệt vào hạng xướng ca vô loài cũng không được khao vọng để nhập đình trung.

Qua các điểm trên ta thấy rằng việc phân biệt ba giai cấp thượng lưu, trung lưu và hạ lưu ở miền Bắc và miền Trung không căn cứ vào khả năng kinh tế như người Mỹ nhận xét ở miền Nam.

Phân hạng theo tuổi tác

Phân hạng theo đẳng cấp hoặc phân giai cấp đều là những cách phân hạng nhắm vào địa vị, vào trình độ văn hóa, vào khả năng tài chính của mỗi người. Hai lối phân hạng này phải căn cứ vào những yếu tố bên ngoài mà không căn cứ vào chính con người.

Người dân quê chất phác, mặc cho ai muốn xếp hạng mình ra sao, bảo mình là trung lưu, bảo mình là bạch đinh cũng không hề gì. Phần đông họ không quan tâm tới những điều mà các hương chức cho là quan trọng vì đằng nào dân đinh, họ cũng chỉ là dân đinh, miễn là đừng ai khinh miệt họ khi họ không có điều gì đáng khinh miệt. Họ vui lòng chịu tất cả những sự gánh vác trong làng mà mọi người phải chịu. Nếu có điều họ quan tâm tới, đó là tuổi tác của mỗi người trong làng, và theo họ phải có già có trẻ và sự phân hạng của họ là sự phân hạng theo niên kỷ.

Đó là lối phân hạng thông thường ở các làng ngoài sự phân đẳng cấp.

Các cụ già

Trước hết phải nói đến các cụ già, tuổi đã cao, đầu râu tóc bạc. Dù giàu, dù nghèo, dù nam hay nữ, tuổi đời là tuổi trời, và đã được thọ thì được xếp vào hạng lão.

Tuổi già được kính trọng và càng cao niên bao nhiêu dân làng càng kính nể chừng nấy.

Các trẻ em trong bài học luân lý, cũng như trong những lời khuyên của phụ huynh đều có sự kính trọng người già. Ra đường gặp người già phải nhường bước, phải giúp đỡ. Một cụ già lỡ đánh rơi chiếc gậy, một em nhỏ gần đó phải nhặt lấy đưa cho cụ. Gặp người già, các em nhỏ phải chào kính, dù người đó giàu hay nghèo, dù người đó áo lành hay áo rách, dù người đó quen hay lạ, dù đây là một cụ ông hay một cụ bà.

Và các cụ già khi được các em nhỏ chào bao giờ cũng tươi cười gật đầu nhận sự chào kính và tỏ lời khen ngợi các em. Có cụ hỏi thăm em là con cái nhà ai rồi khen con nhà này con nhà khác ngoan ngoãn lễ phép.

Các em đối với các cụ già còn kính trọng huống gì người lớn. Những người không biết kính già nể tuổi thường bị mọi người chê cười cho là thiếu lịch sự.

Sự kính trọng người già được thể hiện trong những tiệc thọ, tiệc lão ở trong làng.

Nhiều làng mỗi khi xuân đến có tục rước lão và yến lão.

Rước lão

Đây là đám rước người già. Các cụ khi đến một tuổi nào, thường từ năm mươi tuổi trở lên, những làng đông dân đinh, từ sáu mươi tuổi, được dân làng tôn là Lão ông và Lão bà.

Trong ngày xuân dân làng tổ chức một đám rước để rước các cụ tới đình. Các lão ông và lão bà tự tập một nơi, dân làng mang âm nhạc cờ quạt tới rước. Đám rước đi suốt làng để các cụ nhận sự chào mừng của mọi người, các cụ đi theo thứ tự tuổi tác, các cụ nhiều tuổi đi lên trên, các cụ ông đi trước, hết các cụ ông rồi mới tới các cụ bà.

Các cụ mặc quần áo màu đỏ rực rỡ tượng trưng cho sự vui mừng. Các cụ ngồi trên cáng hoặc trên võng có dân đinh khiêng và có con cháu đi theo.

Có nhiều địa phương, các cụ tới họp tại đình làng, từ đó dân làng sẽ rước các cụ đi một vòng quanh xã, rồi lại trở về đình.

Tuổi già được trọng chung không kể nam nữ, tuy nhiên trong việc rước lão, nhiều nơi chỉ có các cụ ông được dự và được dân làng rước đón, còn các cụ bà tuy có thọ, tuy có được sự kính trọng của dân xã, nhưng cũng không được dân làng rước trong đám rước lão. Các làng này theo đúng lời dạy của người xưa là phụ nữ không dự việc làng.

Yến lão. Bữa yến dành thết các cụ gọi là yến lão.

Sau cuộc rước lão, các cụ được dân làng mời dự yến tại đình cứ bốn người một mâm.

Trong bữa yến, thường các cụ được xơi yến; cũng có nhiều làng, tuy gọi là yến lão nhưng đây chỉ là mâm cỗ sang trọng để mời các cụ xơi.

Trong bữa yến có bát âm cử nhạc, lại có ca nhi ngâm lên nhiều bài thơ hoặc ca trù chúc mừng các cụ có đốt pháo tưng bừng, và có cờ quạt, tàn tán cắm trước cửa đình phấp phới.

Yến dự xong, các cụ có phần mang về. Thường theo tục lệ, mâm yến các cụ thật là thừa thãi, các cụ chỉ ăn một phần, còn lại các cụ mang về chia cho con cháu để cùng hưởng lộc làng.

Kính già, già để tuổi cho, tuổi thọ là một điều hạnh phúc mọi người đều mong mỏi. Kính trọng người già để được sống bằng người già và để khi tới tuổi thọ cũng được sự tôn kính của lớp người tuổi trẻ.

Nhiều làng không có lệ rước lão và yến lão, nhưng các cụ già, tại bất cứ làng nào cũng đều có quyền lợi dành riêng cho tuổi mình, và ở chốn đình trung, chỗ ngồi của tuổi thọ bao giờ cũng là những chỗ ngồi danh dự. Xin nói thêm là các cụ già quê thường để tóc để râu mái tóc trắng xóa và chòm râu bạc phơ.

Những người lớn

Tính theo tuổi tác, dưới hàng các cụ là những người lớn.

Hai tiếng người lớn có vẻ mơ hồ và không có cương giới nào, nhưng ta phải hiểu đây là những người trẻ chưa qua, già chưa tới, những người tuổi chưa đến năm mươi, còn khỏe mạnh, chưa thể xếp vào hạng lão được, và những người này, ở trong làng phải kể là những người đã lập gia đình để phân biệt với hạng trai gái làng. Cũng có thể có những người chưa lập gia đình, nhưng cũng đã luống tuổi lỡ thì không thể cùng đứng với hạng trai gái đang xuân của làng được.

Đây là những phần tử đông nhất trong làng và đây cũng chính là những cột trụ của những gia đình trong làng. Họ đã có nhiệm vụ đối với làng xã, có bổn phận nặng nhọc đối với gia đình. Làng xã vững mạnh được chính nhờ sự đóng góp cả về mặt tinh thần lẫn vật chất của hạng người lớn này.

Họ không còn là những chàng trai mơ mộng, những cô gái ngây thơ nữa. Những cái bông lông của tuổi trẻ đã biến thành sự đứng đắn. Lập gia đình, họ lo về gia đình. Và dù cho họ có còn muốn giữ cái bông lông của tuổi trẻ, họ cũng không có quyền, và họ bị giữ gìn bởi chính người phối ngẫu với họ.

Một chàng đã có vợ mà còn muốn cợt ghẹo một cô gái ư? Lập tức chàng được trả lời.

Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang!

Có khi cô gái chưa chồng lại nhắc cho chàng cái tính ghen tuông của vợ chàng:

Thấy anh, em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị cả dắt dao trong mình.

Thế là anh chàng có vợ rồi, đâu còn dám giở chuyện nguyệt hoa. Anh phải lặng lặng quay đi, không biết có phải quay về với ai kia ở nhà không?

Trai có vợ đã vậy, gái có chồng càng phải giữ gìn hơn. Đã có chồng, không được tỏ ý ong bướm lả lơi với bất cứ chàng trai nào, dù trai tân hay đã có vợ. Đàn ông ngoại tình còn khả dĩ tha thứ được, chứ đàn bà ngoại tình, phong tục không dung và pháp luật cũng trừng phạt rất là nghiệt ngã.

Chồng bắt được vợ ngoại tình ngày xưa có quyền gọt gáy bôi vôi, đóng cọc phơi nắng, và nghiệt ngã hơn lên quan, có khi quan xử bè chuối trôi sông.

Bè chuối trôi sông. Đây là một hình phạt hết sức nặng nề để xử những người đàn bà đã có chồng còn ngoại tình.

Người ta kết một bè chuối và trói ghì người có lỗi trên bè chuối này, có khi để ngồi, có khi để nằm. Trên bè chuối có một mâm cơm, một ấm nước, một âu trầu. Tay người này có thể cử động để tự ăn uống lấy được nhưng không tự cởi trói được.

Bè chuối mang phạm nhân được đầy ra giữa dòng sông, muốn trôi đi tới đâu thì trôi, mặc trời mưa nắng. Trên bè chuối có cắm bản án kể rõ tội lỗi của phạm nhân. Bè chuối theo dòng sông trôi đi, nếu vì sóng gió giạt vào bờ một xã nào, dân làng xã ấy sẽ lấy gậy, lấy sào đề đẩy bè chuối ra. Người đàn bà có tội phải chịu chết trên bè chuối, rồi diều hâu, quạ, kền kền sẽ cùng nhau xâu xé thân xác người này. Ta có thành ngữ đồ quạ mổ, đồ quạ rỉa, để rủa các cô gái lẳng lơ, chính vì những cô gái lẳng lơ bị quạ rỉa, quạ mổ khi mắc tội bè chuối trôi sông.

Kể ra, việc trừng phạt quả là nặng, nhưng người xưa muốn bảo toàn luân lý, muốn ngăn cản những trò trên bộc trong dâu thường phải nhắm mắt thi hành những hình phạt nặng nề này.

Những người đã lập gia đình sớm muộn rồi cũng có con, phải nghĩ đến gia đình, phải nghĩ đến con cái.

Đây là những người lớn. Những người lớn này, nếu mới lấy nhau chưa có con được gọi là anh đỏ, chị đỏ,[1] chữ đỏ nói lên sự vui mừng của cuộc hôn nhân hai người vừa kết hợp xong. Khi đã có con rồi, anh đỏ, chị đỏ được đổi là anh cu, chị cu, hoặc anh đĩ, chị đĩ tùy theo đứa con đầu lòng là con trai hay con gái. Và người ta dùng ngay tên đứa con đầu lòng để gọi bố mẹ. Thí dụ đứa con đầu lòng là con trai và tên là Nam, người ta sẽ gọi bố mẹ nó là anh cu Nam, chị cu Nam. Lối xưng hô đặc biệt Việt Nam này đã được nhiều tác giả ngoại quốc nói tới và cho rằng có nhiều điểm đáng lưu ý; Một là có sự nể nang giữa lớp ngườì lớn với nhau khi họ đã có gia đình, con cái, hay là xác nhận một sự thay đổi vị trí của kẻ có con, làm cho kẻ đó và con của họ có một ràng buộc hiển nhiên, lại giữa kẻ đó với người bên ngoài cũng có một sự thông cảm tương giao rõ rệt.[2]

Lớp người lớn, hoặc có vợ có chồng có con cái, hoặc vì luống tuổi lỡ thì, luôn luôn là lớp người nêu gương cho con trẻ, và mỗi khi hành động đều đoan chính nghiêm trang. Khi ra đường, y phục tề chỉnh không lôi thôi lốc thốc, và lớp người này gặp nhau thường chào hỏi nhau lịch sự. Trẻ con gặp người lớn cũng phải chào kính như khi gặp người già và những người lớn khi gặp người già cũng phải chào kính, và người già cũng lễ phép chào lại.

Trai gái làng

Lớp người này không đông bằng lớp người trên, nhưng chính là lớp người đã khiến cho xóm trên thôn dưới rộn ràng tiếng nói tiếng cười, và đây là lớp người mang đầy hy vọng trong lòng và nuôi nhiều mộng đẹp trong tâm tưởng.

Đây là những chàng trai, cô gái đang ở tuổi dậy thì, mới lớn lên, lòng còn trinh trắng, trai thì khỏe mạnh căng đầy nhựa sống với mọi sự hăng say, gái thì duyên dáng xinh tươi, má hồng môi thắm, mắt trong và đen lánh với tiếng nói dịu dàng, với nụ cười êm ái.

Họ chưa thành gia thất, chưa được liệt vào hạng người lớn, họ lại đã qua lứa tuổi đánh bi đánh đáo, chơi truyền, chơi ô, đã vượt khỏi bọn trẻ con.

Trong họ đã có những cái gì trẻ con chưa có, thể xác nảy nở hơn, tâm hồn phức tạp hơn. Gái lạ gặp trai lạ tự nhiên má đỏ hồng, đôi bên mang tai như bừng nang, và trai lạ thấy gái lạ như ngập ngừng muốn nói muốn không, nhìn cô gái chỉ thấy xinh như tơ, đẹp như ánh sáng, và tim dồn dập như càng đập mạnh.

Tuổi thọ bắt đầu tìm yêu đương, và ở đâu có họ là vui đấy, nhất là khi một bọn trai gặp gỡ cùng một bọn gái. Chàng trai này nhìn cô gái nọ, cô gái nọ bấm chí cô bạn kia cùng nhau cười rúc rích, rồi vì là người làng đôi bên trai gái trao đổi cùng nhau những câu chuyện không đâu. Họ gặp nhau lúc đi làm đồng, lúc đi chợ, cũng như lúc cùng sang chuyến đò làng bên sông.

Chợ chiều hẹn chuyến đò ngang,
Trai làng cùng với gái làng qua sông.
Ngập ngừng câu chuyện bông lông,
Hôm sau thành vợ thành chồng với nhau
[3]

Thực ra họ không thành vợ thành chồng dễ dàng như thế đâu! Còn phải các nghi thức của hôn lễ, còn hỏi còn cưới, còn đưa rể đón dâu, nhưng nói thành vợ chồng, là nói sự thành tựu ban đầu của đôi trai gái để đưa tới lứa đôi.

Nhạc sĩ Phạm Duy trong bản nhạc ''Quê nghèo'' có đoạn:

Làng tôi nghèo, nho nhỏ bên sông,
Gió bấc lạnh lùng thổi vào mái rạ.
Làng tôi nghèo, gió mưa tơi tả,
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi!

Làng quê Việt Nam đã mấy làng là trù phú, thường hình thức bao giờ trông cũng nghèo nàn nhưng trong cái nghèo nàn luôn luôn tiềm tàng một sức lực, chính sức lực này nó đã duy trì làng xóm, đã bảo tồn dân tộc và chính sức lực này đã là sức lực chống ngoại xâm khi cần thiết.

Còn trai gái trong làng, lẽ tất nhiên là phải vất vả ngược xuôi dù làng giàu hay làng nghèo. Trai vất vả ngược xuôi cày sâu cuốc bẫm để tạo cánh đồng chiêm nên những ruộng lúa vàng với mùi thơm lúa chín, với

Lúa rạp rạp ngả theo chiều gió thổi.[4]

Trai lại còn vất vả ngược xuôi về làng việc nước, nào đê điều, nào canh gác, nào phận sự này, nào nhiệm vụ nọ, lo đường lo sá, lo giữ làng, lo bảo vệ cánh đồng v.v...

Còn gái làng thì ngược xuôi để buôn tần bán tảo trước là giúp đỡ mẹ cha, sau là gây chút vốn riêng, sắm bộ quần áo đi hội đi hè, hoặc nếu không buôn bán thì cũng hàng xay hàng xáo, hái dâu chăn tằm, dệt lụa quay tơ, hoặc phụ giúp công việc đồng áng, cắt cỏ cấy lúa, lo cơm nước thợ đồng...

Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi, nhưng họ vất vả trong niềm vui, với tiếng cười giọng hát, với sự gặp gỡ trong làng ngoài ruộng, ngày phiên chợ, lúc sang sông.

Gặp nhau, đã quen thuộc, họ chào hỏi nhau. Tiện dịp họ mời nhau điếu thuốc miếng trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện. Gái ăn trầu cho môi thêm thắm, cho má thêm tươi, cho nụ cười thêm duyên dáng, cho lòng thêm ấm trong những buổi trời đông tháng giá. Còn trai ăn trầu vì tục lệ ăn trầu, ăn trầu cho chắc chân răng, ăn trầu để sẵn có trầu mời các cô gái làng e lệ nhưng tươi tắn. Thường mời trầu họ vui vẻ cùng nhai trầu để cùng say nhau, nhưng cũng có đôi khi, một vài cô gái từ chối một vài chàng trai mới quen lần đầu:

Mẹ em hằng vẫn khuyên răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Từ chối là từ chối vậy, nhưng rồi chị em nói vào mỗi người một câu, rút cuộc cô gái vẫn ăn trầu người. Cô chẳng nỡ từ chối khi chúng bạn cũng nhận trầu người và nhất là chàng trai ân cần mời mọc:

Trầu này, trầu ái, trầu ân,
Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình, trầu ta,
Trầu này nhuộm thắm duyên ta,
Đầu xanh cho tới tuổi già không phai!

Nhận miếng trầu ăn, các cô thường mở lá trầu để xem mặn vôi hay nhạt, có người ăn nhiều vôi thì say, có người ăn ít vôi thì trầu không đậm. Nếu có cô nào nhận miếng trầu của chàng trai, không mở lá trầu ra xem, chúng bạn sẽ cợt đùa:

Ăn trầu phải mở trầu ra,
Một là thuốc độc, hai là mặn vôi.

Thương yêu nhau trai gái họ lấy miếng trầu làm mức đo lường, yêu nhau miếng cau sao cho xứng đáng với lòng yêu:

Yêu nhau cau bảy bổ ba,
Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.

Có những cô gái ban ngày bận rộn vì công kia việc nọ, tối mới rảnh rang đi gánh nước ở giếng làng, rồi trong khi đi gánh nước cô đã gặp người yêu, có lẽ người yêu đã cố tình tìm gặp cô. Gặp người yêu cô mừng rỡ và cũng làm sao mời được người yêu xơi một miếng trầu.

Đêm qua trăng sáng mập mờ,
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh.
Vào vườn trẩy quả cau xanh,
Bổ ra làm sáu trình anh xơi trầu.
Trầu này têm những vôi tàu,
Ở giữa đệm quế đôi đầu thơm cay.
Mời anh xơi miếng trầu này,
Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên đạo vợ chồng,
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.

Đã yêu nhau có bao giờ trai làng từ chối miếng trầu của gái làng. Mà có từ chối cũng không được vì lời mời mọc thật là khéo léo:

Tiện đây xơi một miếng trầu,
Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào!

Có khi sợ chàng trai từ chối, cô gái phải khẩn khoản, và với những lời khẩn khoản khéo léo đó chàng trai nào đành tâm từ chối:

Trầu này trầu quế, trầu hồi,
Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình
Trầu này trầu tính, trầu tình,
Trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình với ta.
Trầu này têm tối hôm qua,
Trầu cha, trầu mẹ đem ra cho chàng.
Trầu này không phải trầu hàng,
Không bùa, không thuốc sao chàng không ăn?
Hay chàng chê khó chê khăn,
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.

Trai gái trong làng thường qua miếng trầu mà nên duyên, và trong đám cưới, trầu cau bao giờ cũng dẫn đầu cho duyên cầm sắt:

Trầu đã có đây, cau đã có đây,
Nhân duyên chửa định trầu này ai ăn?
Trầu này trần túi, trầu khăn,
Cùng trầu giải yếm anh ăn trầu nào?

Đã mời nhau thời trầu nào anh chẳng xơi! Các cô gái làng trong lúc đi làm đồng, lúc đi chợ, luôn luôn các cô mang trầu cau trong người. Có cô để trầu trong túi áo, có cô gói trong chiếc khăn lụa nhỏ, có cô bọc giải yếm. Chàng cứ lựa chọn, chàng ăn trầu của cô nào? Trai gái gặp nhau là có tiếng cười tiếng hát, nhất là những khi cùng làm nơi đồng ruộng hoặc buổi tối cùng đập lúa trong sân. Cô nọ gán cô kia cho chàng trai này, cô kia gán cô nọ cho chàng trai khác. Và những chàng trai trong câu chuyện thường kẻ bưởi vơ vào, nào khen cô này duyên dáng, nào nói thương yêu cô nọ.

Thật là những câu chuyện bông lông, nhưng bông lông đề bắt đầu cho những lứa đôi tốt đẹp bách niên giai lão. Giả tỉ những chàng trai, những cô gái có cùng nhau lãnh đạm, đã có những bà già khêu lời mớm chuyện để trai gái làng phải đối đáp với nhau. Luân lý phương Đông theo Nho giáo dạy rằng, nam nữ thụ thụ bất thân, và các nhà đạo đức luôn luôn nói nam nữ hữu biệt, nhưng đây chỉ là thứ luân lý của Trung Hoa, và chỉ có hạng người trưởng giả ở nước Việt mới chấp nhận thuyết này, đám dân giả, đám đại quần chúng, họ luôn luôn đụng chạm với nhau, cùng làm cùng vui, làm sao mà bất tương thân cho được. Có điều gần nhau đấy, nam nữ không hữu biệt đấy, nhưng trai gái làng bao giờ cũng có một giới hạn giữa đôi bên, và những trò trên bộc trong dâu quả thật là hiếm xảy ra. Gần nhau họ thương yêu nhau, rồi lễ giáo sẽ tác thành cho họ như chim liền cánh, như cây liền cành.

Họ gặp gỡ nhau dễ dãi, họ trao đổi với nhau những lời thương yêu, nhưng khó mà họ dám cùng nhau phạm lỗi. Các bà già tuy mớm lời khêu chuyện cho họ, nhưng bao giờ các bà cũng canh chừng họ và chỉ cho họ buông thả với nhau tới một mức nào. Và chính các cô gái cũng giữ mình. Nếu có chàng trai thương yêu một cô nào, việc lứa đôi phải do cha mẹ định, các cô còn nhỏ, còn sống với cha mẹ:

Ngọc còn ẩn cội cây ngâu,
Con còn cha mẹ dám đâu tự tình.

Có lẽ có người bảo các cô giả hình giả trá, vì nhiều khi trong những câu nói, trong những câu hát các cô thật là ong bướm với đủ những lời lẽ nguyệt hoa. Các cô không giả hình giả trá đâu, cương vực lễ giáo luôn luôn được tôn trọng, và cặp trai gái nào thương yêu nhau đều phải nhờ cha mẹ tác thành.

Trong những lúc làm việc chung, thường trai gái trao đổi cùng nhau những câu hát, để tỏ lòng yêu đương để nói lên sự thầm yêu trộm nhớ của mình, hoặc để ngợi khen lẫn nhau:

Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

*

Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc, như là dao cau.
Miệng cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

Hai câu ca dao trên, trai làng dùng để khen gái làng, nhưng gái làng cũng lắm câu hát để khen trai làng:

Đêm qua trời sáng trăng rằm,
Anh đi qua cửa em nằm không yên.
Mê anh chẳng phải mê tiền,
Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng,
Thấy anh em những mơ màng,
Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi.

Thấy anh chưa kịp ngỏ lời,
Ai ngờ anh đã vội rời gót loan.
Thiếp tôi mơ mẩn canh tàn.
Chiêm bao như thấy có chàng đứng bên.
Tỉnh ra lẳng lặng yên thiên,
Tương tư bệnh phát liên miên cả ngày.

Khen nhau, nhớ nhau, họ có những mong ước:

Ước gì anh hóa ra hoa,
Để em nưng lấy rồi mà cài khen.
Ước gì anh hóa ra chăn,
Để cho em đắp em lăn em nằm.
Ước gì anh hóa ra gương,
Để cho em cứ ngày thường em soi,
Ước gì anh hóa ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.

Gần nhau, ca hát với nhau, làm việc với nhau, rồi thương yêu nhau, từ câu hát đến cuộc nhân duyên không xa gì mấy.

Mỗi năm cứ bắt đầu mùa thu tới, là trong làng có đám hỏi này, đám cưới khác. Hàng cau đắt, hàng trầu đắt, và pháo nổ và xác pháo hồng bay. Trai sung sướng mà gái cũng hài lòng. Một cặp trai gái này lấy nhau, những cô gái, những chàng trai khác đóng vai phù dâu, phù rể để rồi mươi ngày sau, nửa tháng sau, chính các cậu các cô sẽ là cô dâu chú rể với những cô phù dâu, những chàng phù rể khác.

Mùa thu bắt đầu lạnh, rồi mùa đông lạnh hơn, với cái lạnh, Tết càng gần, và những ngày gần Tết trong làng càng nhiều đám cưới, như hình trai gái họ muốn kết duyên trong Tết để được hưởng một mùa xuân đầy ân ái, hay là họ sợ xuân sang trời sẽ lạnh hơn!

Thường là những đám cưới trai gái trong làng lấy nhau. Rất ít có những cuộc phối ngẫu giữa gái làng với trai thiên hạ, hoặc giữa trai làng với gái thiên hạ. Các cô gái không muốn lấy chồng xa, các cô muốn chồng làng vợ nước. Các cô thường nói:

Lấy chó trong làng còn hơn lấy người sang thiên hạ.

Và cha mẹ các cô cũng không muốn gả con xa:

Có con mà gả chồng gần,
Có bát canh cần nó cũng mang cho.
Hoài con mà gả chồng xa,
Ăn một bữa cỗ lội ba quãng đồng.

Ta thường nói sống ở làng, sang ở nước, vợ chồng người làng lấy nhau sống ở trong làng bao giờ chẳng hơn, dù lấy chồng làng không danh phận gì, còn hơn lấy chồng thiên hạ với chức to phẩm lớn, kể cả những trai thành thị. Không bao giờ có cảnh:

Em là con gái thôn quê,
Người làng dạm hỏi em chê ngu đần.
Một em dỗi hai em dằn,
Thầy bu khuyên giải em rằng em không.
[5]

Chồng thiên hạ, các cô gái làng cũng không ưng nói chi là chồng ngoại quốc. Người Việt Nam, ở những gia đình phong độ cho việc lấy chồng ngoại quốc là một điều xấu, dù người chồng đó có chức tước gì. Phải lấy chồng ngoại quốc, người đàn bà lấy làm tủi nhục, dù người đàn bà ở giai cấp nào. Và những người lấy chồng ngoại quốc thường bị chê cười, nhất là khi người ngoại quốc ấy thuộc về các dân tộc làm phương hại đến quyền lợi vật chất hay tinh thần [6] của người Việt Nam. Trong ngôn ngữ Việt Nam ta có những thành ngữ Thằng ngô con đĩ để chỉ người Tàu và các bà vợ Việt, và sau này có danh từ Me để chỉ phụ nữ lấy chồng Tây phương: Me Pháp, Me Mỹ. Lớp me này rất bị chị em phụ nữ khinh bỉ, hành động lấy chồng Tây phương là một hành động mất gốc, lạc loài của hạng người đã đứt cội rễ. Chính các me này, thường là người trong lớp hạ lưu trụy lạc nhưng họ vẫn tự cảm thấy sự âm thầm tủi nhục, xót xa đau đớn, có khi còn hơn lớp phụ nữ đồng cảnh có trình độ học vấn và sinh trưởng trong những gia đình gọi là tử tế, lớp sau này đã bị văn hóa nước ngoài đầu độc, mất hết ý niệm quốc gia dân tộc, - rất may bọn này không nhiều!

Người Việt Nam phải phối ngẫu với người Việt Nam và trai gái làng, trời sinh ra để họ phải lấy nhau mới thuận cảnh, thuận tình.

Có nhiều cặp trai gái trong làng thương yêu nhau mà không lấy được nhau, vì cha mẹ ngăn cản, phần nhiều là cô gái bị ép duyên.

Tuy tục ngữ có câu:

Ép dầu ép mỡ
Ai nỡ ép duyên

nhưng sự ép duyên đôi khi vẫn xảy ra; hơn một cô gái đã từng than:

Mẹ em tham thúng xôi rền,
Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng.
Em đã bảo mẹ rằng đừng,
Mẹ ngắm mẹ nguýt mẹ bưng xôi vào.

Và nếu vì sự ép duyên, cô lại gặp người chồng không xứng đáng, thật buồn ơi là buồn:

Tiếc thay cái tấm lụa đào,
Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi.
Trời kia có thấu chăng trời.
Lụa đào mà vá áo tơi sao đành!

*

Tiếc thay hột gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm!

Và trong trường hợp cô gái lấy chồng không xứng đáng, cô còn bị trai làng lời ra tiếng vào để trách nàng tình phụ đã không giữ nổi lời hẹn ước ba sinh:

Chê đây, lấy đấy sao đành,
Em chê cam ngọt lấy cành quýt hôi.
Quýt hôi bán một đồng mười,
Cam ba đồng một, quýt ngồi trơ trơ.
Nào khi gánh nặng anh chờ,
Qua cầu anh đỡ bây giờ quên anh!

Ấy là chưa kể, trường hợp một cô gái lớn tuổi bị bố mẹ ép gả cho một chú nhãi ranh:

Tham giàu em lấy thằng bé tí tì ti,
Làng trên xã dưới thiếu gì trai tơ.
Em đem thân cho thằng bé nó giày vò,
Mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng.
Cũng đã mang danh là gái có chồng.
Chín đêm trực tiết nằm không cả mười.
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá, thiệt đời xuân xanh.
Em cũng liều mình với thằng bé trẻ xanh,
Đêm nằm rờ mó quẩn quanh cho đỡ buồn.
Buồn tình, em lại bê thằng bé nó lên,
Nó còn bé mọn đã nên cơm cháo gì.
Nó ngủ, nó ngáy tì tì,
Một giấc đến sáng còn gì là xuân.
Chị em ơi! Hoa nở mấy lần!

Thật là chua cay mặn chát? Thật là độc ác mỉa mai! May thay, chuyện ép duyên tuy vậy cũng không nhiều, và ít chục năm gần đây, chuyện này có thể nói là đã hiếm.

Trai gái làng, thương yêu nhau, họ lấy được nhau đó là chuyện đã đành, là chuyện tốt đẹp cho cả đôi bên nhưng không phải bao giờ mọi việc cũng đều như ý người ta. Đã có những cặp trai gái thương yêu nhau, nhưng tình duyên lỡ dở, hoặc vì cha mẹ không thuận tình, hoặc vì lý do nào khác.

Họ phải buồn rầu chẳng được cùng nhau chấp cánh, liền cành.

Họ than van:

Đôi ta như chỉ mới xe,
Như măng mới mọc như tre mới trồng,
Đôi ta như lúa đòng đòng,
Đẹp duyên mà chẳng đẹp lòng mẹ cha.

Và đã có những chàng trai, những cô gái hờn duyên tủi phận tìm quên trong cửa từ bi:

Yêu nhau chẳng lấy được nhau,
Mài dao đánh kéo cạo đầu đi tu.

Có nhiều cặp trai gái làng đã cùng nhau thề thốt, nhưng rồi nàng tham vàng bỏ nghĩa, âu duyên mới nhạt tình xưa, khiến cho chàng trai thất vọng. Lẽ tất nhiên chàng oán hận:

Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng,
Công anh dan díu với nàng bấy lâu.
Bây giờ nàng lấy chồng đâu,
Để anh mua biếu trăm cau nghìn vàng.
Trăm cau thì để tặng nàng.
Nghìn vàng thì để giải oan lời thề!

Kể cũng đau đớn và đáng chua xót cho chàng trai chung tình. Chàng yêu nàng với công dan díu bao lâu, vậy mà nàng phụ bạc. Nàng phụ bạc, nhưng chàng vẫn không giận, nàng lấy chồng, chàng nghĩ đến trăm cau để mừng, nhưng đồng thời chàng vẫn cũng nghĩ đến việc giải oan lời thề. Giải oan lời thề để nàng yên tâm sống với chồng mới, và cũng để chàng khỏi băn khoăn vì những lời thề thốt với nàng. Nàng tham vàng phụ nghĩa, nhưng có ngày vàng hết, mà nghĩa có bao giờ phai:

Tham vàng phụ nghĩa ai ơi,
Vàng thôi đã hết, nghĩa tôi vẫn còn!

Nếu có những cô gái làng đã phụ những chàng trai, thì cũng có nhiều chàng trai tham vàng bỏ nghĩa đã khiến cho nhiều cô gái khác phải ngậm tủi nuốt sầu. Các cô cũng đau đớn, cũng oán trách, và trong oán trách luôn luôn có sự nhớ thương:

Ai làm cho bướm lìa hoa,
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
Ai đi muôn dặm non sông,
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy,

*

Ai đi đường ấy xa xa,
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non một gánh chung tình.
Nhớ ai, ai có nhớ mình chăng ai?

Tóm lại, có gái phụ bạc thì cũng có trai phụ tình, và nỗi đau khổ của những người có công dan díu mà gặp cảnh tham vàng phụ nghĩa đã làm giàu cho ca dao đất nước. Rất nhiều câu ca dao nói lên sự đau đớn của họ, và những câu ca dao này luôn luôn được trai gái hét lên văng vẳng qua lũy tre xanh, vút tới bờ đê, khiến những ai có lòng phụ bạc cùng ai, ắt cũng tự lấy làm suy nghĩ.

Cũng có những đôi trai gái làng, họ không phụ bạc gì nhau, và cha mẹ đôi bên cũng không ngăn cản sự tác thành của đôi lứa, vậy mà duyên vẫn chẳng nên duyên. Đó chẳng qua chỉ vì chàng trai quá ngập ngừng nhút nhát, mãi cho tới khi cô gái lấy chồng mới dám thổ lộ nỗi lòng:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống ruộng cà hái nụ tầm xuân,
Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,
Em đã có chồng anh tiếc thay em!

Anh tiếc thay em, em cũng đành chứ biết làm sao được. Ván đã đóng thuyền, cô gái trước tấm chân tình của chàng trai cũng chẳng còn biết ăn làm sao nói làm sao. Cô chỉ trách chàng là sao quá chậm:

Vẻ gì một miếng trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ.
Chim vào lồng biết sở nào ra?

Cô gái đã nói như vậy, chàng trai đành ôm mối hận lòng. Chẳng lẽ chàng lại xui cô lỗi đạo hay sao?

Cá cắn câu bắt đầu mà gỡ,
Chim vào lồng mở cửa mà ra.

Chàng trai ôm mối hận lòng là phải, vì một cô gái có lễ giáo có đời nào lòng chim dạ cá được. Đạo đức phương Đông ngăn cản cô, nếp sống thuần lương giữ gìn cô. Lấy chồng cô chỉ biết thờ chồng, vì cô thừa hiểu:

Ánh phong lưu son phấn đọa đầy,
Thay đen đổi trắng để ai rầy yêu thương?

Chuyện nhân duyên giữa trai gái làng lắm khi cũng thật kỳ ngộ, chồng một vợ một đã đành, nhưng cũng thường có cảnh chồng hai ba vợ. Cha mẹ luôn luôn khuyên con:

Trai tân gái rỗi thì chơi,
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng.

Song lẽ có nhiều cô gái quá yêu một chàng trai có vợ, cứ liều nhắm mắt đưa chân, chàng có vợ thì mặc vợ chàng, đã yêu chàng thì nàng cứ lấy, và đã lấy chàng, nàng đâu có sợ vợ chàng:

Măng non nấu với gà đồng,
Chơi nhau một trận xem chừng về ai.
Già gan cướp được chồng người,
Non gan hết vía rụng rời tay chân.

Có nhiều cô đã trót lỡ làm phận tiểu tinh, cam cảnh khổ sở, thường thốt ra những lời cay đắng. Các cô hằng khuyên chị em bạn gái chớ theo vết chân mình:

Đói lòng ăn nắm lá sung,
Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng.
Đói no một vợ một chồng,
Một niêu cơm tấm dằn lòng ăn chơi.

Các cô nhớ lại những sự vất vả, nhớ lại những trận đòn ghen:

Thân em làm lẽ vô duyên,
Mỗi ngày một trận đòn ghen tơi bời.
Ai ơi ở vậy cho rồi,
Còn hơn lấy lẽ, chồng người khổ ta.

Cảnh làm lẽ thật là khổ, song vẫn có nhiều người lấy lẽ, các bà các cô thường ngụy biện khi bị chê bai:

Lấy chồng làm lẽ khỏi lo.
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.
*
Thà rằng làm lẽ thứ mười,
Còn hơn chính thất những người đần ngu.
*
Ăn nửa quả hồng, ăn góc quả hồng,
Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè!
*
Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng mán vỗ về quanh năm.

Thực ra, đa nhân duyên, chính lỗi tại các chàng trai có vợ đã cố tình quyến rũ các cô chưa chồng.

Các chàng:

Có oản lại muốn ăn xôi,
Có thịt lại cứ muốn đòi thêm nem!

Và các chàng ngụy biện cho rằng:

Làm trai lấy vợ bé
Nhà giàu tậu nghé hoa!

Tôi tự thấy hơi lan man về trai gái làng, nhưng làm sao được, đây là thành phần tinh hoa nhất của làng và ở đâu có trai gái làng là ở đấy có bầu không khí vui vẻ, có tiếng cười giòn giã, có tiếng nói trong trẻo nên thơ. Trai gái làng trẻ trung đem phong vị hoạt động cho cả làng, và giả thử tại một làng này thiếu hẳn thành phần vui nhộn này, tôi không biết không khí làng đó sẽ lạnh lẽo tới bực nào, và làng đó sẽ có một vẻ nặng nề ra sao.

Có trai gái làng là có lời ca tiếng hát, có trai gái làng là có cảnh tưng bừng náo nhiệt, dù đây là ở đầu làng, bên bờ giếng, bên bờ đê, giữa cánh đồng trước sân đình hay bên cổng chùa.

Trai gái làng là sinh khí, là hoạt động, là ôn ào và là nguồn gốc của tất cả những cái gì làm cho người ta yêu đời.

Một cô gái góa sống trong cảnh buồn rầu đau đớn, nghĩ tới đoạn đường xa lăng lắc mình sẽ phải trải trong cảnh chăn đơn gối chiếc, bỗng thấy lòng ấm lại khi gặp một chàng trai lưu ý và hát ghẹo:

Cô kia khăn trắng tang ai?
Tang cha, tang mẹ đó hay tang chồng?
Tang chồng thì bỏ tang đi,
Tang cha tang mẹ ta thì tang chung!

Lời hỏi sao mà dễ nghe? Hỏi ai có thể làm ngơ cho được. Ở đây tôi không nhắc nhiều tới hạng gái góa, dù họ là những người góa phụ trẻ tuổi, nhất là tôi không muốn nhắc tới những hạng góa phụ mồ chồng chưa xanh cỏ đã nghĩ đến chuyện nguyệt hoa và đã từng làm đầu đề cho bao nhiêu câu ca dao chế giễu:

Ông chết thì thiệt thân ông,
Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai.
*
Hỡi thằng cu bé! Hỡi thằng cu lớn!
Cu tí ,cu tị, cu tì ơi!
Con dậy, con ăn con ở với ông,
Để mẹ đi lấy chồng kiếm lấy em con!

Trai gái nên duyên bao giờ cũng là điều tốt đẹp nhưng góa bụa dở dang thật kể cũng đáng thương. Đạo đức phương Đông cay nghiệt; chồng chết thì phải thờ chồng, bước đi bước nữa là chịu tiếng chê cười.

Góa chồng lại lấy chồng đã chịu búa rìu của dư luận, trách chi những cô không chồng mà chửa, chỉ vì hứng gió nồm nam, ăn vụng chóng no, chẳng bị phép làng trừng phạt.

Không có chồng mà chửa thì phải vạ với làng, và bố mẹ cũng mang tai mang tiếng. Bởi vậy những cô gái nào trót lỡ lâm vào cảnh này thường phải trốn làng đi ở một nơi khác, cho đến khi mãn nguyệt khai hoa, cho hoặc gửi con đi, rồi có về làng mới dám về làng.

Phình phình ở giữa lớn ra,
Me ơi con chẳng ở nhà được đâu!
Ở nhà làng bắt mất trâu,
Cho nên con phải đem đầu ra đi!

Lệ nộp vạ ở nhà quê, khi cô gái chửa hoang ở nhiều làng rất nặng. Bố mẹ cô gái phải nộp vạ bằng tiền rồi lại phải mổ trâu thết làng. Vạ tuy nặng nhưng nhiều cô gái vì cả nể vẫn cứ nhỡ nhàng to bụng không có một ông chồng để bảo đảm cho sự to bụng này.

Kể ra, lớp trai gái làng, tuy vậy cũng có nhiều điều phức tạp, nhưng dù sao đấy cũng là những thành phần không ai có thể bỏ qua được. Và đã tìm hiểu các người già, tìm hiểu các người lớn, càng cần tìm hiểu về trai gái làng cặn kẽ hơn. Bởi vậy, tuy ở đây tôi hơi lan man, nhưng có lẽ những điều tôi viết ra cũng còn thiếu sót nhiều lắm.

Trẻ con

Phân hạng theo niên kỷ, trẻ con là lớp cuối cùng. Tuổi trẻ con còn quá ít và về hình thức chúng cũng chưa đủ nở nang để làm trai gái làng.

Theo quan niệm Đông phương, nữ thập tam, nam thập lục, mới là trai gái làng, dưới tuổi này, nam hay nữ còn đều là trẻ con.

Đã gọi là trẻ con, chúng có cái quyền tự do của trẻ con mà người lớn, kể cả trai gái làng, không có được.

Trước hết, thuyết nam nữ thụ thụ bất thân không áp dụng với chúng. Con trẻ còn nhỏ, trai gái thường chơi đùa lẫn lộn với nhau, chúng không có sự phân biệt của người lớn.

Con trẻ lại được ngủ chung với bố mẹ. Theo tục Con trai mười sáu không nằm chung với mẹ. Con gái mười ba không ngủ lẫn với cha, dưới hai tuổi này, con trai, con gái muốn ngủ với cha hoặc mẹ đều được cả. Trong làng, con trẻ bất đầu hơi lơn lớn độ lên sáu lên bảy là được đi học, xưa tới trường làng hoặc tới lớp học của các ông đồ, khi chữ nho còn thịnh. Đi học, trai gái lẫn lộn, tuy rằng ở nhà quê trước kia, con gái rất ít được đi học. Vài ba chục năm gần đây, việc đi học của con gái đã trở nên hầu như thông thường không khác chi con trai.

Trẻ con chỉ đi học, đi chơi, chúng không phải chịu sự lo lắng của người lớn, đối với gia đình cũng như đối với làng xã. Tại nhiều làng, có lệ trẻ con cũng phải chịu đóng góp và được lấy phần việc làng vào những dịp tế tự, thì việc đóng góp đều do người lớn tức là cha mẹ hoặc các anh chúng phải lo thay.

Thường trẻ con nhà quê, đi học các ông đồ, chỉ học một buổi vào buổi sáng. Buổi chiều được nghỉ, chúng chơi diều, đánh khăng, đánh đáo, ấy là nói những trẻ còn nhỏ hoặc con nhà phú quí. Những trẻ đã hơi lơn lớn, nghĩa là vào khoảng lên tám lên chín, và trẻ con nhà nghèo, tuy buổi chiều nghỉ học, nhưng chúng đã bắt đầu có những công việc nhà, giúp đỡ cha mẹ những công việc vặt, và trong các công việc vặt này phải kể tới công việc chăn trâu.

Trẻ chăn trâu ở nhà quê gọi là lũ mục đồng, có đứa lớn có đứa bé, nhưng thường là vào khoảng tám chín tuổi đến mười sáu mười bảy.

Chúng lùa trâu ra đồng, cho trâu gặm cỏ ở bờ đê hoặc các bờ ruộng, những làng ở trung du thường cho trâu ăn cỏ ở sườn đồi.

Lũ trẻ mục đồng sống quây quần đoàn kết với nhau thành một bọn, chúng chăm sóc cho trâu, giữ cánh đồng làng cho trâu làng. Và trong lúc cùng chăn trâu như vậy, chúng hợp đoàn chơi những trò chơi riêng chia thành từng thôn từng giáp để cùng nhau ganh đua trong những trò chơi. Trong các trò chơi, đáng kể nhất là trò chơi tập trận. Đây chỉ là một cách bắt chước lịch sử. Vua Đinh Tiên Hoàng xưa, trước khi về với Trần Công để sau này dẹp yên Thập nhị sứ quân đã từng là một mục đồng và đã từng cùng chúng bạn mục đồng Cờ lau tập trận. Yết Kiêu, gia tướng hữu danh của Hưng Đạo Vương lúc nhỏ cũng đã từng chăn trâu bên bờ biển. Trò chơi tập trận luyện cho các em mục đồng cái tinh thần bất khuất, rất cần thiết cho con người Việt Nam để bảo tồn đất nước và dân tộc Việt Nam chống giặc xâm lăng từ phương Bắc kéo lại. Những trẻ mục đồng này, khi lớn sẽ là dân nước, là quân sĩ của quốc gia. Chúng phải gây lấy cái tinh thần đồng đội trong những cuộc tập trận và luyện lấy cái khí thế hào hùng để mai sau trở nên những người trai giữ nước và có thể trở nên những vị anh hùng cứu quốc: Các bậc anh hùng cái thế của Việt Nam phần nhiều xuất thân từ đồng ruộng và thường chỉ bắt đầu là những người dân quê áo vải như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lợi và Quang Trung.

Những lúc dắt trâu ra đồng, những lúc lùa trâu về chuồng, những lúc chăn trâu một mình, cưỡi trên mình trâu, các chú mục đồng thổi sáo hoặc hát lên những câu hát chứa đầy ý nghĩa và nói lên hoài vọng mai sau của các chú:

Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu,
Mà rồi mang ấn công hầu trâu ơi!
Ngày nay mình nghé ta ngồi,
Mai sau ta có một thời hiển vinh?

Đối với con mắt những thị dân, có lẽ các em bé chăn trâu này phải vất vả khổ sở, nhưng riêng chính các em, các em lại nghĩ khác:

Ai bảo chăn trâu là khổ? Không! Chăn trâu sướng lắm chứ! Đầu tôi đội chiếc nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất ngưởng ngồi trên mình trâu...

Ngoài công việc chăn trâu ra, trẻ em còn giúp đỡ cha mẹ trong nhiều công việc khác, trong đó có việc trông nom các em bé hơn. Các em gái bảy tám tuổi, thường được cha mẹ giao cho công việc trông em. Những em bé này thường lếch lếch bế đứa em, mũi dãi nhễ nhại cùng nhau chơi ở đầu xóm đầu đình. Trông các em bế em thật giống con cóc tha con nhái, nhưng các em lấy đó làm thường, vì ngoài các em ra, cũng không còn ai để mà săn sóc đến em các em nữa.

Trẻ con là tương lai của đất nước, nhưng trước khi là dân nước các em còn là con của cha mẹ, là anh chị của các em bé hơn. Bé các em có lo tròn phận sự của bé, lớn lên, các em mới thành những dân đinh xứng đáng của làng xã, do đó thành những công dân xứng đáng của quốc gia.

Từ trên, dân trong một xã hội đã được phân hạng theo mấy lối chung căn cứ vào những điều khác nhau. Phân hạng theo lối nào mặc dầu, dân làng vẫn là dân làng, và người dân sống ở trong làng chỉ mang được sự yên ổn hòa hợp với nhau vui vẻ chịu đựng mọi sự đóng góp vào làng xã để duy trì lấy lệ làng. Làng có mạnh nước mới mạnh. Những ai có tư tưởng phá hoại làng xã gieo mầm mống chia rẽ giữa dân làng, đấy chính là những kẻ không những chỉ phá hoại cái nền nếp của xã thôn mà còn chính là kẻ có tội với quốc gia nữa, vì phá hoại làng xã tức là phá hoại quốc gia.

----- ----- ----- ----- -----

[1]. Cách xưng hô tại nhiều làng vùng Bắc Ninh, như các làng Thị Cầu, Đáp Cầu huyện Võ Giàng v.v...
[2]. A.Palzi (tức nhà văn Vũ Hạnh) - Người Việt Cao quý. - sđd.
[3]. Vũ Quỳnh Bang, - Làng tôi, Bách Khoa số 49. ngày 1/15/1959.
[4]. Bàng Bá Lân, - Thơ mùa gặt.
[5]. Tú Mỡ, - Giòng nước ngược.
[6]. A.Paui. - Sách đã dẫn.