Những đơn vị của làng

Số từ: 5330

Tác giả: Toan Ánh
Đơn vị xuất bản: Nxb Trẻ

Sơ lược
Làng là đơn vị nhỏ nhất, nhưng là đơn vị cốt cán của Quốc gia và là đơn vị căn bản tổ chức của xã hội Việt Nam. Tuy nhiên không phải ngay từ lúc hình thành làng đã là một đơn vị thành phần để họp thành quốc gia, và làng cũng không phải là một đơn vị cuối cùng, nghĩa là không phải không phân chia làm nhiều đơn vị nhỏ.

Như trên đã trình bày, lúc đầu có thể làng chỉ là một xóm, một ấp hoặc một thôn, rồi sau nhiều xóm, nhiều thôn, nhiều ấp họp lại thành một làng, hoặc một xóm, một thôn hoặc một ấp mới thành lập được sát nhập vào một làng đã có. Nói như vậy tức là làng gồm nhiều thôn xóm, và mỗi thôn, mỗi xóm là một đơn vị của làng.

Thực ra, một làng thường chia làm nhiều đơn vị nhỏ, có đơn vị căn cứ theo địa giới, lại có đơn vị căn cứ theo những liên hệ khác giữa dân làng như cùng họ, cùng nghề v.v...

Có thể nói rằng trong làng, sự tổ chức của làng bắt nguồn từ sự tổ chức của những đơn vị nhỏ này trong làng. Các đơn vị đó là:

Trang,
Trại,
Thôn,
Xóm,
Ngõ,
Ấp,
Giáp,
Phường.

Dưới đây lần lượt chúng tôi xin trình bày để tìm hiểu về những đơn vị này, đã họp thành làng và đã duy trì làng.

Trang
Trang chính ra không phải là một đơn vị của làng. Đây là một nơi quy tụ một số dân ở ven rừng núi do một người đứng cai quản gọi là trang chủ.

Trang có thể tự trị như một làng nhỏ, và ở trong trang có đủ đình chùa đền miếu như ở một làng. Người trang chủ đại diện dân trong trang giao thiệp với chính quyền, và chịu trách nhiệm với chính quyền về sự sinh hoạt trong trang, cũng như về các nhiệm vụ của trang phải đóng góp với quốc gia.

Ngày xưa, những người giàu có ở bên Tàu đứng lập những trang riêng ở một khu vực, gọi là gia trang. Những người trong gia trang thường là những người trong họ của trang chủ.

Danh từ trang, ở nước ta, chỉ là một làng nhỏ thiết lập trên một ngôi đất khô ráo, nhưng ở trang thường dân cư không đông, do đó thường hay bị cướp bóc. Để trông cậy vào sự giúp đỡ của những làng lân cận, dần dần những trang xin sáp nhập vào một làng lớn và biến thành một thôn của làng này. Cũng có trường hợp, trang ngày một mở mang, dân ngày một thêm đông vì ruộng đất cung ứng đủ nhu cầu cho nhiều người, trang biến thành làng với sự tổ chức đầy đủ các cơ cấu của một làng.

Trại
Trại là một khu đất ở đồng hoặc ở núi có người ở với vườn ruộng, chung quanh có cây cối để phòng giữ.

Trại thường do một người đứng ra lập nên, đưa những người nhà hoặc họ hàng tới ở. Người này là trại chủ.

Trại ở xa làng, không thuộc vào xóm nào hoặc thôn nào trong làng, nhưng vẫn lệ thuộc vào làng, chịu sự chi phối của làng. Vì ở xa làng, nên trại được phòng giữ bởi dân trong trại, và chung quanh có trồng lũy tre để phòng những sự bất trắc.

Trong trại có nhà cửa của trại chủ và của các gia nhân. Trại tuy là một khu đất nhưng trong trại không có ruộng mà chỉ có vườn. Trại chủ cũng như những người ở trại khai thác trại về trồng trọt hoặc về chăn nuôi.

Dưới đời nhà Lê, danh từ trại lẫn lộn với danh từ trang nhưng ngày nay trại thường là một chỗ lập nghiệp nhỏ của chủ trại.

Chủ trại chịu trách nhiệm với làng về mọi việc trong trại như một trưởng tộc. Những người ở trong trại phải phục tòng chủ trại như người ở trong gia đình phục tòng người gia trưởng.

Ở những trại có đông người ở, người chủ trại cho dựng một ngôi nhà, mời tăng ni tới trù trì, để dân trại có nơi thờ Phật.

Trại tuy không thuộc hẳn vào thôn xóm nào trong làng, nhưng nhiều khi để tiện việc thu thuế khóa, tiện việc cắt phu phen tạp dịch, Hội đồng làng vẫn xếp trại vào một thôn bao gồm địa hạt trại.

Dân trong trại không dự vào các việc tế tự hàng thôn hoặc xóm, cũng như những công việc chung khác của thôn xóm, nhưng lại có chân trong một giáp của làng và tham dự vào việc tế tự của làng cũng như vào việc làng, nếu hội đủ điều kiện ấn định bởi lệ làng. (Ở ý Yên một huyện của Hà Nam Ninh, nay vẫn còn trại, nhưng tổ chức có khác xưa).

Thôn
Nhiều làng rộng dân cư đông và ở thành từng nhóm cách xa nhau, mỗi nhóm thường là một thôn của làng.

Một làng có thể có hai ba thôn hoặc hơn nữa ta gọi là nhất xã nhị thôn, nhất xã tam thôn...

Thường tại mỗi thôn có một người phó lý, và cả làng chỉ có một lý trưởng và một Hội đồng kỳ mục. Thôn có khi có đình chùa riêng, và chung quanh thôn cũng có lũy tre bao bọc như chung quanh làng.

Có thể nói được rằng thôn có nền hành chính riêng của thôn. Tại mỗi thôn có một sổ đinh riêng, và hàng thôn căn cứ theo sổ đinh này để thu thuế và để phân cất các công việc phu phen tạp dịch. Theo nguyên tấc, tất cả các dân đinh, con trai từ 18 tuổi trở lên đều phải ghi tên trong sổ dân đinh này.

Thôn có Hội đồng hàng thôn, gồm những người ngoài các chân trong ban Hội đóng kỳ mục xã, có danh vọng, tiền tài và tuổi tác trong thôn, những người này được dân thôn cử vào theo những tiêu chuẩn riêng của hàng thôn, và những tiêu chuẩn này thường thay đổi tùy địa phương, nhưng bao giờ cũng căn cứ vào ba điểm nêu trên, lẽ tất nhiên những tiêu chuẩn này không giống và cũng không khó khăn bằng những tiêu chuẩn ấn định cho các quan viên trong Hội đồng kỳ mục hàng xã.

Đứng đầu thôn có Thủ chỉ thôn, quyên hạn đối với thôn cũng như Tiên chỉ xã đối với làng.

Ngoài tục lệ của làng, thôn có khi cũng có những tục lệ riêng của thôn với hội hè đình đám riêng. Sự chi tiêu của thôn do dân trong thôn đóng góp.

Những khi thôn có hội họp, ban Hội đồng thôn họp ở đình thôn, nếu thôn không có đình thì họp ở nhà công quán thôn.

Thôn có khi ăn theo với xã về mặt tế tự, khi cả làng chỉ thờ một vị Thành hoàng, nhưng lại có nhiều thôn thờ một vị Thành hoàng khác với Thành hoàng làng, như vậy việc tế tự riêng biệt: nhiều xã hai ba thôn, mỗi thôn thờ một vị Thành hoàng khác nhau.

Hội hè hàng thôn, khi tổ chức, dân thôn thường mời cả các quan viên Hội đồng kỳ mục hàng xã tới dự để chia vui và để tỏ tình đoàn kết cũng như sự phục tòng của thôn đối với làng.

Thôn có vẻ gần như tự trị đối với làng, tuy vẫn phải lệ thuộc vào làng về những vấn đề chung như thuế khớp, binh lính, v.v...

Trên các giấy tờ chính thức, thường chua tên thôn kèm theo tên xã, và nhà nước chỉ biết tới xã, không biết tới thôn. Xã phải chịu trách nhiệm về tất cả những thôn trong xã.

Xóm
Như đã trình bày ở chương đầu sách, một làng có nhiều xóm, và một thôn cũng vậy.

Một xóm là một khu có nhiều nhà ở liền với nhau, có một con đường đi thường ở giữa và hai bên dân xóm làm nhà, có cổng ngõ quay ra đường xóm. Gọi là nhiều nhà ở liền với nhau, nhưng không phải nhà nọ sát nhà kia như ở thành thị. Nhà nọ liền với nhà kia bởi tường hoặc hàng rào ngăn cách hai nhà, có thể sân nhà này liền với sân nhà khác, có thể sân nhà này liền với đầu hồi nhà khác, cũng có thể sân nhà này liền với vườn nhà khác.

Xóm có thể chỉ có một con đường chính đi từ cổng xóm vào đến cùng xóm, nơi cùng xóm có thể là lối cụt ngăn bởi lũy tre làng hoặc bởi một nhà cuối xóm, có thể xóm lại ăn ra đường làng bằng một lối khác; xóm có thể có nhiều con đường nhánh, từ con đường chính của xóm phân đi, và mỗi con đường nhánh được gọi là một ngõ.

Lối đầu xóm có cổng xóm và trong trường hợp lối cuối xóm ăn thông ra đường làng ở đây cũng lại có cổng xóm. Những gia đình trong xóm ở sát nách nhà nhau là hàng xóm láng giềng với nhau.

Xóm không có tư cách pháp nhân. Thuộc những làng nhỏ, xóm phụ thuộc ngay vào làng và chịu luật lệ của làng. Ở những làng lớn, nhất xã đa thôn, xóm thuộc vào thôn và chung đời sống với thôn.

Đứng đầu xóm là vị trưởng xóm, đây là một người có uy tín được dân trong xóm bầu lên để làm trung gian giữa làng và xóm. Xóm không giống như thôn có một hội đồng, nhưng ông trưởng xóm cũng có vài bốn người phụ tá để cùng lo công việc trong xóm.

Xóm tổ chức thành hàng xóm, quy tụ tất cả những người trong xóm để tương trợ lẫn nhau trong các công việc hiếu, hỷ và trong những cơn hoạn nạn.

Nhiều xóm có chùa riêng, nhưng xóm không bao giờ có đình riêng. Có thể xóm có một ngôi đền, nhưng đây là đền của làng, hoặc có một ngôi miếu, ngôi miếu thờ một vị thần không thuộc vào sự tế tự của làng, mà do hàng xóm thờ phụng.

Qua các điều trên, ta thấy rằng tuy không có tư cách pháp nhân về phương diện pháp lý, và nhà nước không biết tới xóm chỉ biết tới làng, nhưng xóm có quỹ hàng xóm, có sự tế tự riêng, và do đó có khi có hội hè riêng của xóm với những tục lệ đặc biệt chi phối riêng dân trong xóm.

Ngõ
Ngõ là một đơn vị của xóm, một xóm có thể gồm nhiều ngõ, mỗi ngõ tính theo một con đường nhỏ ăn từ đường lối xóm đi vào. Có ngõ cụt, có ngõ ăn thông trở lại với đường xóm hoặc ăn ra đường làng. Có thể gọi ngõ là một hẻm của xóm, và ngõ chỉ gồm những gia đình liền nhau nằm trong ngõ.

Ngõ cũng được tổ chức, thành hàng ngõ và đứng đầu là một ông trưởng ngõ, có nơi gọi là trưởng khu, vì người ta gọi ngõ là một khu của xóm. Chính ra, ngõ là một khóm nhà trong xóm nằm hai bên một con đường hàng ngõ.

Ngõ lệ thuộc vào xóm, cũng như xóm lệ thuộc vào thôn hoặc vào làng. Lẽ tất nhiên ngõ không có tư cách pháp nhân, nhưng hàng ngõ vẫn cứ được tổ chức để sinh hoạt chung trên phương diện tế tự hoặc tương trợ. Hàng ngõ cũng có những buổi họp để cúng bái và ăn uống như cúng vào hè, ra hè, cúng giao thừa v.v...

Mỗi khi hàng ngõ hội họp, một người trong ngõ đứng đăng cai. Khi có những việc chi tiêu chung cho hàng ngõ, người đăng cai hoặc một người khác làám mãi biện, ứng tiền trước rồi hàng ngõ sẽ bổ bán đễ trong ngõ đóng góp với nhau.

Ở các làng quê, trong những đám tang, nhiều nơi có tục mời hàng ngõ tới lo việc chôn cất. Những trai tráng trong ngõ đóng vai đô tùy. Nếu hàng ngõ nhỏ, người ta mời tới hàng xóm để có đủ người tham dự các chân khiêng vác trong đám tang.

Trong những tiệc tùng khao vọng, người ta cũng có lệ mời hàng ngõ, và lại mời mọc cả hàng xóm, hàng thôn, hàng xã. Trong việc mời mọc này, khi mời hàng ngõ, người ta có thể mời hết dân đinh trong ngõ, nhưng khi mời tới hàng xóm đã có thể có một sự hạn chế theo tuổi tác hoặc thứ vị trong xóm, và khi mời tới hàng thôn làng xã, sự hạn chế càng chặt chẽ hơn. Có người vì địa vị hoặc vì tuổi tác của manh, trong một tiệc khao vọng, cưới xin hoặc ma chay được dự mời từ hàng ngõ đến hàng xã, và nếu theo lệ làng có phần chia, người này được hưởng cả phần về hàng ngõ, hàng xóm hàng thôn lẫn hàng xã.

Dân trong ngõ sống thân mật với nhau với một tinh thần hòa đồng tương trợ và đoàn kết, tinh thần này chính là sức mạnh căn bản của dân tộc Việt.

Ấp
Ấp, chính ra chỉ là một xóm riêng biệt.

Như đã trình bày ở chương đầu sách, ấp ở trên địa phận làng, nhưng trước đây, nơi này hoặc chỉ là hoang địa hoặc vì ở xa làng quá nên có người đứng lên chiêu tập lưu dân để khai khẩn.

Có thể ấp do một vài người trong làng vì sinh kế, tới nơi hoang địa trông trọt, rồi dần dần có nhiều người khác tới cùng sống kiếm ăn mà thành ấp; cũng có thể ấp do một vài người giàu có trong làng có nhiều ruộng tọa lạc ở chỗ quá xá làng lập nên ấp và mượn tá điền ngụ canh; cũng lại có thể ấp do một số người làng sinh sống vê nghề đánh cá, cùng nhau tụ họp thành ấp ở bên sông.

Ấp có thể lệ thuộc vào một thôn, nhưng thường ấp lệ thuộc hẳn vào một làng, và chịu sự quản trị của làng. Để có người chịu trách nhiệm về ấp, xưa kia, nếu làng có lý trưởng và phó lý, thì tại ấp có thêm một người phó lý, như trường hợp Tân ấp thuộc làng Thị Cầu tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) đã trình bày ở chương đầu.

Ngày nay ấp tại miền Nam không giống như ấp nói trên; ở đây ấp là một đơn vị của làng giống như một thôn.

Ấp lệ thuộc vào xã cũng như thôn xóm tại miền Bắc và miền Trung.

Giáp
Giáp không phải là một thành phần của xã, mà chính ra giáp có thể coi như một tập thể gồm những đàn ông con trai trong làng được cùng qui tụ bởi những liên hệ tôn tộc, bởi cùng ở một thôn xóm, hoặc có khi bởi cùng một liên hệ tinh thần gì khác như về tế tự chẳng hạn.

Một làng gồm có nhiều giáp.

Làng Phù Đổng, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh có đến 10 giáp chia theo dòng họ. Họ to nhất là Đặng Trần thuộc giáp Đoài, thứ đến họ Khổng, thuộc giáp Đông v.v...

Làng Thị Cầu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) có 4 giáp phân chia theo khu vực trong làng: Giáp Đông ở phía Đông, giáp Già ở phía Nam, giáp Giữa ở phía Tây và giáp Bắc ở phía Bắc.

Tại những xã có thờ nhiều vị phúc thần tất cả những người trong khu thuộc phạm vi một vị phúc thần thường hợp nhau thành một giáp.

Giáp không phải là một tập thể chính thức tự nhiên mà có như thôn hoặc xóm, giáp phải do dân làng tạo nên bởi những liên hệ chung của một số người. Muốn thành lập một giáp, phải có phép quan trên, và khi giáp đã thành hình giáp, có địa vị ở trong làng cũng như những giáp đã có trước.

Tìm hiểu nguồn gốc của giáp nhiều người cho rằng đây là một tổ chức bắt chước Trung Hoa, nhưng xét cho kỹ, giáp cũng như làng xã Việt Nam, đã có vì tục lệ, vì tinh thần đoàn kết và tương trợ giữa những người có cùng một liên hệ về một phương diện gì, không phải vì bắt chước Trung Hoa mà có.

Trung Hoa đã đành cũng có những giáp do dân tổ chức ra, nhưng giáp của người Trung Hoa không giống giáp của người Việt Nam tuy cùng một danh xưng.

Ở Trung Hoa giáp là một tập thể tổ chức vì mục đích an ninh địa phương. Chữ Giáp tiêu biểu cho tất cả những cái gì có tính chất để che chở: mai rùa, móng tay, vẩy cá sấu, giáp trụ, và nói rộng là quân đội.[1]

Mỗi giáp ở Trung Hoa gồm mười gia đình và được coi là tổ chức hữu hiệu nhất để bảo vệ an ninh cho dân chúng, nhất là chống giặc cướp.

Giáp tại Việt Nam không hề bao giờ là một tổ chức về phòng vệ, việc phòng vệ dân làng, do làng đảm nhiệm và làng đã có tuần phiên.

Giáp chính thức là một tổ chức tương trợ và tế tự đứng đầu là ông Thủ chỉ giáp, và giúp việc ông Thủ chỉ có ban hội đồng hàng giáp.

Mỗi khi trong hàng giáp có tang ma, mọi người có chân trong hàng giáp, nếu gia đình người chết mời hàng giáp, đều tới dự để giúp đỡ gia chủ trong lễ chôn cất. Những người trẻ đóng vai đô tùy, cầm cờ, cầm biển, cầm câu đối, những người già đi cho có mặt để điều khiển hàng giáp. Ngoài việc giúp đỡ về vật chất như trên, hàng giáp còn bổ bán góp tiên để giúp đỡ tang chủ về mặt tài chính.

Khi được tin trong hàng giáp có người mệnh một, dù người đó là một giáp viên hay người trong gia đình một giáp viên, ban Hội đồng hàng giáp đều có sửa lễ tới viếng. Tiền mua đồ lễ trích ở quỹ hàng giáp nếu hàng giáp cớ sẵn quỹ, bằng không, người mãi biện, một chân trong ban Hội đồng phải ứng tiền ra mua trước, tiền này sẽ do làng giáp đóng góp hoàn lại sau.

Nếu tang chủ không mời hàng giáp, nghĩa là không cần đến sự giúp đỡ vật chất trong việc chôn cất của hàng giáp, hàng giáp cũng vẫn có một số người đại diện đi dự đám tang, và có khi hàng giáp vẫn đóng góp để giúp đỡ về mặt tài chính.

Trong những dịp cưới xin của trai hàng giáp, nếu gia chủ mời hàng giáp tới dự tiệc vui mừng, hàng giáp ngoài lễ mừng còn cùng bổ bán để giúp đỡ chú rể.

Hàng giáp có những buổi tế lễ riêng tại miếu hoặc tại đền, trong những buổi tế lễ này, toàn thể hàng giáp đều dự. Thường có tiệc của hàng giáp trong những dịp tế lễ.

Tiệc tùng này, hàng giáp chung nhau xuất tiền, số tiền có khi đồng đều, có khi phân hạng người lớn trẻ con khác nhau.

Các vị bô lão trong hàng giáp thường được miễn phần đóng góp, nhưng khi có chia buồn, hàng giáp bao giờ cũng dành phần ưu tiên cho các cụ, nghĩa là các cụ có phần riêng đặc biệt hơn phần của các giáp viên khác.

Như trên đã nói, tại nhiều làng, những người cùng họ đứng chung một giáp, nhưng một họ lại có thể có hai ba giáp, và sự vào hàng giáp không bắt buộc. Một người có thể xin vào giáp này hoặc giáp khác, có khi vào một giáp không phải họ mình cũng được, và có người tuy ở trong làng nhưng lại không vào giáp nào, nhưng hạng người này rất hiếm, vì đã sống ở làng, người ta phải có chân trong một giáp để tham dự đủ mọi sinh hoạt của dân làng.

Mỗi giáp có một quyển sổ ghi tên những người trong giáp và những con trai các giáp viên đã được bố mẹ xin cho vào hàng giáp.

Muốn xin cho con vào hàng giáp, bố mẹ phải có cơi trầu đến ông thủ thỉ giáp để xin ghi tên. Có nơi, bố mẹ đứa trẻ phải nộp một món lệ phí nhỏ; có nơi không phải nộp lệ phí gì.

Tổ chức hàng giáp

Tổ chức trong hàng giáp thật hết sức là dân chủ.

Thứ vị trong hàng giáp căn cứ theo quyển sổ ghi tên nói trên, ai ghi tên trước, trong những buổi hội họp hàng giáp có chỗ ngồi ở trên, không kể gì tới địa vị xã hội của giáp viên. Dù chân khoa mục, dù người giàu có hoặc tuổi tác mà ghi tên sau, cũng phải theo thứ tự ghi tên mà định thứ vị. Và các quyền lợi của giáp viên cũng ăn theo thứ vị ghi tên này. Vì vậy mà mỗi khi sinh con trai, người ta vội vã xin ngay cho con vào hàng giáp.

Như trên đã trình bày, đứng đầu hàng giáp là ông Thủ chỉ Giáp với hội đồng hàng giáp.

Hội đồng hàng giáp gồm năm bàn, mỗi bàn bốn người. Trước hết là bàn nhất còn gọi là bàn quan lão gồm bốn vị thâm niên nhất trong hàng giáp. Bốn vị này được miễn hết mọi sự đóng góp cũng như ông Thủ chỉ.

Bàn thứ hai gọi là bàn nhì còn gọi là quan lệnh gồm bốn người có trách nhiệm lo công việc của hàng giáp.

Ba bàn kia gọi chung là ba bàn họp thành một ban để phụ giúp cho các quan lềnh.

Giáp có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng, tài sản gồm những của cải đi tặng hoặc kính biếu, và tiền đóng góp của các giáp viên.

Các giáp viên có nơi phải đóng mỗi năm một số tiền nhỏ vào quỹ giáp, có nơi không phải đóng tiền này. Mỗi khi giáp tổ chức tế lễ hoặc phúng viếng giúp đỡ việc tang ma hay vui mừng của một giáp viên nàp, hàng giáp phải bổ bán đóng góp với nhau.

Những giáp viên không chịu đóng góp phần bổ tán của mình sau ba lần thì bị giáng thứ vị trong hàng giáp, và nếu bị giáng thứ vị đến bốn lần, sẽ bị gạch tên khỏi hàng giáp.

Hàng năm hàng giáp hội họp vài lần. Trong những buổi hội họp toàn hàng giáp thường có tiệc tùng ăn uống. Các giáp viên lần lượt phải giữ vai trò đăng cai để hàng giáp hội họp tại nhà mình, tục gọi là dọn hàng giáp.

Khi dọn hàng giáp, giáp viên được hàng giáp trao cho một số tiền tính theo đầu người để lo việc trầu nước hoặc ăn uống, hoặc cũng có khi đã có người mãi biện của hàng giáp mua sắm trầu nước và các thức ăn, người đăng cai chỉ phải lo việc nấu nướng và làm cỗ.

Thường dọn hàng giáp bao giờ người đăng cai cũng phải chi phí tốn kém hơn vì còn mời họ hàng bà con, và phải có người làm giúp để phục dịch hàng giáp.

Trong những buổi hội họp hàng giáp này, ban Hội đồng trình với hàng giáp mọi công việc đã làm và tính sổ về mọi việc chi thu.

Xin nói thêm hàng giáp cũng có giỗ lậu giáp, cúng giỗ những người mua hậu của hàng giáp. Có giáp có trụ sở riêng, đó là đền của hàng giáp, cũng có giáp không có trụ sở, mỗi khi ban hội đồng hội họp hoặc nhờ đình làng, hoặc hội họp ở nhà ông Thủ chỉ hoặc ở nhà một quan lão hoặc quan lềnh nào.

[1]. Nguyễn Hữu Khang. - Sách đã dẫn.

Phường
Phường là một thành phần của những làng có nhiều người cùng làm một nghề sống chung với nhau tại một khu.

Một làng có thể có nhiều phường nếu dân trong làng theo nhiều nghề, và trong trường hợp này, những người cùng làm một nghề thường ở gần với nhau trong một khu.

Cũng có làng, phần đông dân làng theo nghiệp canh nông, chỉ có một số ít dân làng làm nghề gì, những người này hợp nhau lại thành phường. Có thể họ ở cùng một khu, có thể có một số ít ở rải rác trong làng nhưng vẫn ăn theo phường.

Đứng đầu phường là một ông trùm hoặc bà trùm là người đại diện cho cả phường trong mọi việc liên lạc với làng xã hoặc với các phường khác về phương diện nghề nghiệp.

Khác với giáp, những giáp viên đều phái nam, trong phường có thể vừa là nam vừa là nữ, miễn là những nam nữ này cùng theo một nghề.

Giỗ phường

Cùng theo một nghề, họ thờ chung một Thánh sư, và hàng năm ngày giỗ Thánh sư gọi là ngày giỗ phường.

Giỗ phường làm tại trụ sở phường, đây có thể là một ngôi miếu thờ Thánh sư của phường, hoặc nếu phường không có trụ sở thì giỗ phường được tổ chức tại nhà ông trùm hoặc bà trùm. Trong ngày giỗ phường có cúng bái tế lễ, và các phường viên chung nhau góp tiền để chi tiêu cho ngày giỗ này.

Có những phường lớn thường tổ chức cả những đám rước từ trụ sở phường tới đình làng, với ý nghĩa để vị Thánh sư của phường tới yết kiến vị Thành hoàng làng.

Địa vị của phường

Phường thường có từ khi những người trong làng cùng theo nhau một nghề. Họ tổ chức quây quần để giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau.

Phường có thể có giấy phép của chính quyền cấp để hoạt động, hoặc phường cứ hoạt động theo tục lệ và không phạm tới phép làng.

Dưới thời Pháp thuộc, nhiều phường ở các làng quê xin cấp giấy phép để được có tư cách pháp nhân, vì thường phường cũng có tài sản và tiền nong như giáp.

Ngày xưa, ở Hà Nội có rất nhiều phường, và mỗi phường ở một khu, sau biến thành phố, và những phố này thường chỉ gồm những người cùng làm một nghề hoặc cùng bán một loại hàng. Di tích này còn lưu tới ngày tiền Hiệp định Genève, tuy trong phố cũng có một vài cửa hàng lạc nghệ xen vào:

Phố hàng Đào gồm những cửa hàng bán tơ lụa,

Phố hàng Giấy gồm những cửa hàng bán giấy,

Phố hàng Đường gồm những cửa hàng bán đường hoặc những gia đình làm nghề bánh mứt.

Phường Mành gồm những gia đình làm nghề tết mành mành.

Phố hàng Chiếu gồm những gia đình làm nghề bán chiếu và dệt chiếu v.v...

Hà Nội, trước thời Pháp thuộc có 36 phố phường với 36 nghề.

Những phường ở các làng quê cũng không khác gì những phường ở Hà Nội, phường vải gồm những người làm nghề dệt vải và bán vải, phường cau gồm những người buôn cau v.v…

Tóm lại, phường là một tập thể, tập thể quy tụ những người cùng nghề.

Ngày nay phường được coi như đơn vị hành chính cấp xã, đặt ở nội thị các thành phố và thị xã.

Hội bách nghệ

Tại nhiều xã không có những phường, tuy dân trong xã cũng có người sinh sống về nghề nghiệp khác ngoài nghề nông trang, nhưng số người theo mỗi nghề không bao nhiêu, không đủ họp thành phường.

Không họp thành phường nhưng để tương trợ và dựa làm lẫn vào nhau họ thành lập những hội bách nghệ.

Hội bách nghệ là bao nhiêu người làm chung một nghề gì hoặc thợ mộc, hoặc thợ nề, hoặc thợ sơn, thợ sắt v.v.:Người làm nghề gì vào hội ấy, chọn cái một người làm trưởng hội, hoặc mỗi năm cắt lượt nhau làm trưởng hội một lần để chứa việc hội.[1]

Những người có chân trong hội bách nghệ cùng nhau liên lạc để thắt chặt thêm tình đồng sự, và nhất là để giúp đỡ lẫn nhau trong các công việc hiếu kỷ. Khi một người trong hội có cha già mẹ héo, hoặc chính bản thân mình hay vợ con qua đời, hội có đồ lễ đến, viếng, ngoài ra hội cũng lại đóng góp tiền để giúp đỡ tang chủ.

Việc vui mừng cũng vậy, hội cũng có đồ mừng trong những dịp cưới xin khao vọng, và tùy theo lệ hội các hội viên cũng có thể cùng nhau hùn tiền đóng góp giúp đỡ gia chủ.

Thường thường, ngoài những trường hợp tương trợ trên, hội còn có một hình thức giúp vốn cho các hội viên bằng cách lập ra họ mua bán. Người mua họ (hụi) được các hội viên mỗi người đóng một số tiền thành một cái vốn. Tiền lời trong việc mua họ này sung vào vốn công của hội. Khi hội có nhiều vốn, hội có thể cho các hội viên vay nhẹ lại sinh lời.

Tiền của hội dùng trong việc hội.

Mỗi năm hội họp tại nhà trưởng hội vào ngày kỵ nhật Thánh sư để cùng làm giỗ Thánh sư rồi cùng nhau ăn uống giống như giỗ phường.

Ngoài ra, khi trong hội có việc gì cần phải hội họp nhau, đều họp ở nhà trưởng hội, và những chi phí hội họp ăn uống này đều lấy vào vốn công của hội.

Hội cũng đặt ra đàn anh đàn em, có người giữ sổ có người giữ tiền để điều khiển và duy trì hội.

Đối với làng xã, trong những kỳ sóc vọng hoặc tế lễ, hội đều có cử đại diện mang đồ lễ tới lễ.

Nhiều khi, những hội già, muốn lấy danh tiếng với làng, thường cúng tiền vào đình làng, chùa làng hoặc những đồ tự khí như hoành phi, câu đối, tàn tán v.v... Hội cúng vào làng thứ gì thì đề tên của hội vào thứ ấy để lấy danh giá với làng. Việc lập hội bách nghệ của dân ta nhằm những mục đích rất đẹp: giữ gìn công việc cho nhau, thắt chặt sự liên lạc tình nghĩa với nhau và nhất là bênh vực và cứu giúp nhau.

Qua các mục đích này, ta thấy đây chính là những hội ái hữu của những tầng lớp thợ thuyền vùng quê.

[1]. Phan Kế Bính. - Tài liệu đã dẫn.

Kết luận
Chúng ta đã duyệt qua các tiểu đơn vị của làng, tuy không phải làng nào cũng đủ những tiểu đơn vị trên. Có làng có thôn xóm mà không có ấp, có làng có ấp lại không có thôn.

Và phường thì chỉ có ở những làng sống về công nghệ và ở đô thị. Các tiểu đơn vị này, đơn vị nào cũng lo tiến phát trong phạm vi của mình để cùng nhau họp lại gây sức mạnh cho làng.