Chương 2 - 1

Người dịch: Mỹ Linh
Phát hành: Pavicobooks
Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Văn học

Gia tộc tề tựu khách chung vui
Sơn hào hải vị trăm ngàn món
*

* Trích trong bài Chiêu hồn của Khuất Nguyên, cũng có người cho rằng của Tống Ngọc.

--1--


Ban đêm Quỳ thay một bộ y phục mỏng bằng lụa rồi cùng Lộ Thân tới sảnh chính. Còn Tiểu Hưu thì ở nhà bếp phía Đông giúp người hầu nhà họ Quan chuẩn bị cơm canh.

Nóc nhà sảnh chính có dựng bốn trụ gỗ, nhìn như mũ quan cắm lông chim trĩ, trước sảnh đặt bốn bức bình phong. Một bức rèm che màu đỏ tươi có thêu hình phượng bằng kim tuyến, đính vòng vàng khảm ngọc thạch và tua rua được giăng giữa các cột nhà. Trong sảnh, mỗi bên bày hai cây đèn bảy ngọn, mỗi ngọn treo một chiếc đèn lồng để đi lại. Giữa hai cây đèn lại có một đỉnh hương bằng đồng có đế. Đèn và đỉnh hương đều mạ vàng. Xem hình dáng bề ngoài thì dường như là đồ cổ thời Lục quốc. Xưa kia gia tộc họ Quan chủ trì việc tế bái của nước Sở, đất được phong đều là nơi màu mỡ, đồ đạc do vương thất ban tặng cũng toàn là báu vật thế gian. Nhưng sau chiến loạn khói lửa, nước mất nhà tan, vinh hoa ngày cũ nay đã tiêu điều hoang hoải, kể cả những thứ đồ mạ vàng này cũng phai dần màu sắc năm xưa.

Khói hương lãng đãng, càng trở nên mịt mờ dưới đèn đuốc rực rỡ.

Khi ở Trường An, Quỳ rất thích sưu tập những mùi hương lạ tới từ Tây Vực, trong đó nàng thích nhất hương “Khước Tử” do sứ giả nước Nguyệt Chi mang tới Trường An. Tương truyền rằng loại hương này đến từ hải đảo, muốn lấy được rất khó khăn mà hình dạng cũng rất xấu xí, song hương thơm lại hiếm có trên đời, đốt một chút là hương vấn vít mấy ngày không tan. Bởi vậy tuy giá gần như đắt bằng bạch ngọc, nhưng Quỳ đã sai Tiểu Hưu âm thầm đến Cảo Nhai* mua rất nhiều lần.

* Một con phố thời Hán, ở trong cửa Nam thành Trường An, là nơi đặt sứ quán của các nước.

So với nó thì hương xông của nhà họ Quan hôm nay chỉ là hương cỏ thơm* tầm thường nhất mà thôi. Có điều trong đỉnh lại thêm gừng cao lương và mộc lan nên mới tạo ra một mùi hương mà Quỳ chưa ngửi bao giờ.

* Cỏ thơm là từ chỉ chung các loại hoa, cỏ, thảo dược được dùng để xông tỏa hương thơm của người Trung Quốc thời xưa, giúp an thần, tâm trạng thư thái, hoặc trị ngạt mũi, ngạt thở… tùy vào loại hoa, cỏ hoặc thảo dược.

Chủ nhân Quan Vô Dật đã ở trong sảnh, ông mời Quỳ ngồi xuống ghế trên phía Tây quay mặt về phía Đông.

Trước chỗ ngồi có bàn ăn, mặt bàn sơn màu, còn chân thì bọc đồng mạ vàng.

Thường ngày Quỳ dùng cơm không dùng bàn ăn có chân như vậy, mà dùng loại mâm không chân, trên mâm dọn đủ chén bát, trong chén đựng rượu. Trong khi nàng dùng cơm, Tiểu Hưu nhất định phải ngồi đối diện với nàng, hai tay nâng mâm lên ngang mày. Dùng cơm xong, Quỳ sẽ nhấp một ngụm rượu súc miệng. Khi dùng cơm, nếu Quỳ vui vẻ hoặc cảm thấy cơm nước ngon miệng thì sẽ lệnh cho Tiểu Hưu ngẩng đầu lên, dùng đũa trong tay mình bón đồ ăn cho Tiểu Hưu. Tuy điều này sẽ khiến việc giữ mâm của Tiểu Hưu khó khăn hơn song Tiểu Hưu sẽ thấy vui vẻ, dù sao đây cũng là sự tán thưởng của chủ nhân dành cho công việc của mình. Nhưng nếu Quỳ muốn trút giận lên đầu Tiểu Hưu, hoặc cơm nước khiến Quỳ bất mãn, vậy Tiểu Hưu sẽ bị đối xử một cách tàn nhẫn. Quỳ sẽ đổ hết cơm nước còn thừa lên đầu Tiểu Hưu, rồi bắt nàng phải nâng mâm cho tới khi mình hết giận mới thôi.

Trên bàn ăn có một chiếc “nhiễm khí” bằng đồng, đây là thứ dùng khi ăn thịt. Thứ gọi là “nhiễm khí” này có hai bộ phận trên và dưới. Dưới là một bếp lò nho nhỏ, trên là một cái âu bằng đồng. Khi dùng thì cho nước tương đã nêm nếm vào trong âu, nhóm lò sau đó bỏ thịt đã luộc với nước vào trong âu để nấu. Làm vậy vừa có thể giữ cho thịt nóng hổi, vừa giúp thịt ngấm được hương vị của nước tương. Đương nhiên, chỉ có ba chiếc “nhiễm khí” như vậy được bày trên bàn tiệc. Một chiếc đặt trên bàn của Quỳ, một chiếc dành cho vị khách đến muộn, chiếc còn lại do chủ nhân Quan Vô Dật sử dụng.

Bên trái “nhiễm khí” bày một cái cốc có quai hai bên, trong cốc không có nước. Bên cạnh cốc lại là một chiếc muôi sơn mài dùng để múc rượu.

Quỳ lại để ý đến hi tôn* đặt trên đất ở gần bàn ăn của mình. Thứ này làm bằng đồng, hình trâu, trên lưng có nắp, trong bụng chứa rượu. Từ khi bảy, tám tuổi, Quỳ đã đọc được câu “Hi tôn tương tương**” trong Kinh Thi***. Có điều ở thành Trường An thứ đồ đựng rượu này đã tuyệt tích từ lâu nên nàng chưa bao giờ thấy tận mắt. Hi tôn nhà họ Quan sử dụng hẳn cũng là đồ lưu truyền từ xa xưa. Quỳ không khỏi cảm khái trong lòng, con trâu bị người ta mở nắp trên lưng này vẻ mặt vô cùng ngoan ngoãn hiền lành, cũng thật là nhẫn nhục, quả là có mấy phần giống tỳ nữ của mình.

* Đồ đựng rượu hình trâu, thường xuất hiện ở thời Xuân Thu Chiến Quốc hoặc thời Thương Chu.

** Trích trong bài thơ Lỗ Tụng - Bí Cung của Kinh Thi. Câu này có nghĩa là “Chén chạm chén kêu vang lanh lảnh”.

*** Bộ tuyển tập thơ ca vô danh của Trung Quốc, một trong năm bộ sách kinh điển của Nho giáo.

Người nhà họ Quan và Quỳ đều đã ngồi vào chỗ. Phu nhân của trưởng tộc Quan Vô Dật - Điếu thị và con gái Giang Ly, Lộ Thân cũng có mặt. Bên cạnh Lộ Thân là đường tỷ của nàng - Quan Nhã Anh, Quan Khoa - muội muội của Quan Vô Dật cũng đã ngồi vào chỗ, bà từ Trường An lặn lội về đây, đã tới trước Quỳ mấy ngày. Con trai và con gái của bà cũng tới, ngồi kế bên bà, lần lượt tên là Triển Thi và Hội Vũ. Muội muội bằng tuổi Tiểu Hưu, còn ca ca thì hơn nàng năm tuổi. Quan Khoa và phu quân Chung Tuyên Công còn có một cậu con trai nữa, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên chưa thể đi xa. Do công việc quá bận rộn nên Chung Tuyên Công không thể tới dự. Năm nay vì sức khỏe của Quan Vô Dật không tốt nên ông không định chủ trì lễ tế mà giao công việc trù bị cho muội muội Quan Khoa lo liệu, còn việc múa tế thần thì do con gái Giang Ly phụ trách.

Khách mời còn chưa tới đủ, chủ nhà và khách mời nhìn nhau cũng tẻ nhạt, bèn bắt đầu trò chuyện tán gẫu. Vì hôm nay Quỳ mới đến, buổi chiều lại ra ngoài săn bắn nên có rất nhiều người chưa gặp nàng bao giờ, nàng bèn giới thiệu bản thân với bọn họ.

Đúng lúc ấy Tiểu Hưu làm xong việc ở trong bếp, đi vào sảnh chính, cúi người ngồi quỳ gối phía sau Quỳ, để lát nữa có thể hầu chủ nhân uống rượu dùng cơm. Quỳ tiện thể giới thiệu cả Tiểu Hưu. Những người từng đọc Kinh Thi ở đây đều cảm thấy cái tên “Tiểu Hưu” này rất hay. Sau đó Quan Vô Dật giới thiệu người thân trong tộc của mình với Quỳ.

Vị khách mời đến muộn nọ tên là Bạch Chỉ Thủy, người Vân Mộng, năm nay đã bốn mươi tuổi. Thời trẻ ông từng du học ở Trường An, theo Hạ Hầu Thủy Xương* học Kinh Thi, học cao hiểu rộng, nhưng cuối cùng không nhận được một chức quan nào.

* Một nhà Nho nổi tiếng thời Hán.

Thời đó “Thi học” được chia thành bốn phái, nhưng chỉ có ba phái Tề, Lỗ, Hàn là được chính thức thừa nhận mà thôi. Khi Bạch Chỉ Thủy ở Trường An, phái “Thơ Hàn” mà tiêu biểu là Hàn Anh đang đắc thế. Khi đương kim hoàng thượng đăng cơ, thầy giáo của Hạ Hầu Thủy Xương là Viên Cố Sinh đã gần chín mươi tuổi, không thể mưu cầu địa vị cho học thuyết của mình trước mặt Hoàng đế, mà khi đó Hạ Hầu Thủy Xương hãy còn trẻ, cũng không được Hoàng đế tín nhiệm. Kết quả là phái “Thơ Tề” do bọn họ đại diện từ từ suy bại.

Mấy năm sau, Bạch Chỉ Thủy về quê, ở nhà dạy học, cuối cùng vẫn chẳng được như nguyện. Trong học thuật, ông không đồng ý với các học thuyết bảo thủ cũ kỹ, luôn muốn lập một phái tư tưởng mới, tuy nhiên vì xuất thân từ đất Sở nên không khỏi viện dẫn rất nhiều chuyện quỷ quái để giải thích Kinh Thi. Cuối cùng bị đồng môn coi là kẻ mê tín dị đoan, sức ảnh hưởng không thể vượt ra khỏi Vân Mộng.

Mấy năm nay nhờ sự nỗ lực của Hạ Hầu Thủy Xương mà phái “Thơ Tề” lại trở nên hưng thịnh, có điều Bạch Chỉ Thủy bị đồng môn xa lánh nên chẳng nhận được lợi ích gì. Khi ở Trường An, Quỳ từng nghe về học thuyết của Bạch Chỉ Thủy. Là một Vu nữ, nàng mau chóng bị học thuyết ấy thu hút.

Kiến giải nổi tiếng nhất của Bạch Chỉ Thủy chính là lời giải thích của ông về sáu phần cuối của bài Nam sơn thuộc Tề phong trong Kinh Thi. Ông cho rằng những văn thơ này đều miêu tả Vu nữ nước Tề - vì là trưởng nữ nên không được lấy chồng. Tuy Quỳ không đồng tình với học thuyết của ông song cảm thấy ông có thể hiểu được nỗi bi ai của mình.

Một tràng tiếng ngựa hí cắt ngang hồi ức của Quỳ, chẳng bao lâu sau Bạch Chỉ Thủy đã đi vào sảnh chính.

Bạch Chỉ Thủy cao tám thước, mặc lễ phục màu đỏ tím, dùng khăn vấn tóc, cao lớn mà uy nghi. Bấy giờ tuy ông đang cười nhưng nếp nhăn giữa hai lông mày sin sít, hẳn là thường ngày luôn sống trong u uất, những buồn phiền cứ thế in hằn trên trán.

E*F*F

Tới khi Bạch Chỉ Thủy ngồi vào chỗ thì bữa tiệc liền chính thức bắt đầu.

Quan Vô Dật lệnh cho người hầu của mình rót đầy một cốc rượu rồi mời Bạch Chỉ Thủy, lại rót một cốc mời Quỳ. Hai người uống xong, Tiểu Hưu đã rót thêm hai cốc, đặt trên bàn của Quỳ, hai người nâng cốc kính chủ nhà. Sau khi chủ khách đối ẩm, những người khác cũng uống một cốc. Khi ấy, Quan Khoa phái người hầu nhà họ Quan đi lấy cổ cầm, Quỳ cũng bảo Tiểu Hưu chuẩn bị đàn sắt. Tới khi nhạc cụ được mang tới, Chung Triển Thi bèn gảy đàn góp vui, Hội Vũ hát bài Thanh Dương* hòa theo điệu nhạc.

* Thanh Dương chỉ mùa xuân. Thời Hán, khi tiến hành đại điển tế trời cũng tế bái cả các vị thần của bốn mùa. Khúc Thanh Dương này được sáng tác dành riêng cho việc tế bái thần mùa xuân. Khung cảnh hân hoan phơi phới khắp nơi khi xuân về trong bài hát thể hiện ước nguyện cầu mong bình an và hạnh phúc với thần linh.

Mùa xuân ấm áp đã tới, cỏ cây nảy lộc đâm chồi. Mưa xuân gieo rắc khắp chốn, muôn loài vươn mình sinh sôi. Sấm xuân rền vang từng trận, muông thú tỉnh giấc đùa chơi, kết thúc kỳ ngủ đông dài, bắt đầu một mùa xuân mới. Cỏ cây khôi phục xanh tươi, sinh linh lớn lên như thổi. Xuân sang vạn vật đón mừng, mang ơn huệ đến mọi nơi. Tất thảy dạt dào sức sống, phúc xuân chan chứa đất trời.

Trong lòng Quỳ cũng biết đây là nhạc khúc được hát trong lễ tế vương triều, dân thường không được phép hát trong yến tiệc. Nhưng lúc ở nhà nàng thường gặp chuyện vượt quyền dạng này nên cũng chẳng hề bận tâm. Chung Hội Vũ hát xong, Quỳ bèn gảy đàn sắt hát bài Quy biện*, phần cuối viết rằng:

* Một bài thơ thuộc Tiểu Nhã, Kinh Thi.

Mũ lễ da hươu tuyệt đẹp, ngay ngắn đội trên đỉnh đầu. Rượu nồng của ngươi rất ngọt, món nhắm của ngươi thật ngon. Đến đây nào có người ngoài? Đều là anh em chú bác. Như hoa tuyết bay trước mắt, như hạt băng sa khắp trời. Chẳng đoán được ngày tạ thế, chẳng hay khi nào lại gặp. Tối nay thỏa thích chè chén, quân tử mở tiệc chung vui.

Đây là một trong những bài mà Quỳ thích nhất trong Kinh Thi. Nhất là câu “Chẳng đoán được ngày tạ thế, chẳng hay khi nào lại gặp”, mỗi lần hát lên đều khiến nàng xúc động khôn nguôi. Đời người dù sao cũng ngắn ngủi, “Từ xưa ai cũng đều phải chết”*, mọi cuộc tụ họp, mọi cuộc vui đều có hồi kết. Bữa tiệc hôm nay hẳn là không đủ để đánh đồng với cảnh tượng được miêu tả trong bài thơ này. Còn người làm thơ giờ ở nơi đâu? Từ đó đến nay, những người từng hát vang nhạc khúc này hẳn cũng không ít, song giờ đây còn lại được mấy người?

* Một câu trong Luận ngữ.

Sau khi uống rượu hát ca, người nhà họ Quan mang một cái nồi đồng tỏa hơi nóng vào trong phòng, chia thịt trong nồi cho từng người. Tiểu Hưu ngồi một bên châm lửa “nhiễm khí” của Quỳ rồi nhúng thịt vào trong âu. Thực ra lưỡi của Quỳ không thể chịu nổi đồ ăn quá nóng, nhưng nàng vẫn ăn nhân lúc nó còn nóng.Từ mùi vị có thể đoán được đây là thịt lợn sữa, hơn nữa còn là ở phần vai thơm ngon nhất, Quỳ thầm cảm kích thịnh tình của chủ nhà, tuy rằng loại đồ ăn bình thường này chẳng thể khiến nàng thỏa mãn.

Lát sau, người nhà họ Quan bưng nồi đồng đi, lại mang vào một cái vạc đồng, bên trong chứa thịt chim đã được luộc với nước trắng. Đó chính là chim trĩ mà Quỳ săn hôm nay. Người hầu xé thịt ức thành sợi nhỏ rồi chia cho Quỳ, chuẩn bị cho nàng một khay nước giấm. Quỳ chấm thịt vào giấm rồi ăn, nàng thấy rất ngon miệng.

Sau đó, một âu đồng chứa cơm trắng được mang vào tiệc, ngoài ra còn có vài hũ dưa muối, bên trong chứa các loại dưa muối khác nhau. Lần này Lộ Thân tự tay lấy dưa muối trong hũ ra, đặt lên đĩa rồi đưa tới trước mặt Quỳ, Quỳ còn chưa kịp cảm ơn thì Lộ Thân đã lên tiếng trước:

“Xin hãy ăn nhiều một chút, đây là rau quỳ* muối đấy. Vào tháng Chín hằng năm, chúng ta cắt từng gốc quỳ non ra khỏi đất rồi bỏ chúng vào hũ ướp muối. Đổ thêm nước bên trên, quỳ không thể thở được, sang năm liền biến thành từng miếng từng miếng quỳ muối như vậy. Ta thích nhất là quỳ thế này, ăn vào thanh thanh giòn giòn ngon miệng, Tiểu Quỳ có muốn nếm thử hay không?”

* Rau quỳ: Còn có tên khác là đậu bắp, mướp tây, gôm… Chữ Quỳ này giống với tên của Quỳ.

Thời đó, “quỳ” là món rau dưa thường thấy nhất trên bàn cơm, từ nhỏ tới lớn, Quỳ luôn bị những người tẻ nhạt đùa giỡn một cách tẻ nhạt như thế, đã sớm quen rồi, bởi vậy cũng chẳng để trong lòng.

“Ta bảo này.” Quỳ than thở, “Ngươi và ta đều là thực vật*, không nên trêu chọc nhau mới phải.”

* Lộ Thân còn gọi là Lộ giáp, chính là cây thụy hương. Quỳ nói vậy ý là tên của mình và Lộ Thân đều chỉ cây cỏ thực vật.

Lộ Thân ngẫm lại thấy cũng có lý, bèn tự thấy xấu hổ, không nói thêm gì nữa. Nhưng khi nàng đang định về chỗ mình thì Quỳ kéo tay áo nàng lại.

“Ngồi lại đi, từ nhỏ ta đã không ăn ‘đồng loại’, ngươi phải chịu trách nhiệm ăn hết mớ ‘Tiểu Quỳ’ này mới được.”

“Đồng loại là sao?” Lộ Thân tiện thể nhào tới bên người Quỳ, chỉ vào nàng hỏi, “Thế ta có được ăn ‘Tiểu Quỳ’ này không?”

“Cái này thì không được. Ngươi thực sự hận ta, hận tới mức hận không thể ăn thịt uống máu ta ư?”

Tuy ngoài miệng Quỳ dùng hẳn ba chữ “hận” liền, nhưng trong mắt toàn là ý cười.

“Ừm, ta không thể thích một người tới mức muốn ăn thịt uống máu người đó sao?” Lộ Thân hỏi ngược lại, “Ngoài ăn ra thì đâu còn cách nào khiến đối phương trở thành một phần của chính mình nữa?”

“Yêu một người thì phải khiến người đó trở thành một phần của chính mình ư? Sở thích của Lộ Thân kỳ lạ thật đấy.”

“Ừ, hoặc là khiến bản thân trở thành một phần của người ấy cũng được.”

“Điều này thì dễ dàng hơn đó.” Quỳ ngà ngà say, khẽ cười nói, “Chỉ cần làm người ấy tổn thương là được. Ý ta không phải là sự tổn thương về gân cốt da thịt mà là tổn thương trong lòng. Làm một vài chuyện mà người ấy không thể chịu nổi, nói ra những lời mà người ấy không thể tiếp thu, khiến trong lòng người ấy luôn có vết thương do ngươi tạo nên suốt quãng đời còn lại. Vậy thì ngươi cũng đã trở thành một phần của người ấy.”

Lộ Thân lẳng lặng nghe lý luận hoang đường của Quỳ.

“Thế nhưng, chỉ vậy vẫn chưa đủ. Dù sao mình vẫn là mình, chưa thể hoàn toàn biến thành một phần của đối phương. Nếu muốn làm tới cùng thì phải khiến bản thân thực sự biến mất mới được.”

“Dùng cái chết của mình để làm người ấy tổn thương?” Lộ Thân tỏ ra không đồng tình, “Lại có người dùng phương thức này để biểu đạt tình yêu của mình thật ư? Nếu vậy mà cũng gọi là yêu thì thực ra thứ tình yêu này chẳng khác gì hận.”

“Ngươi sai rồi, Lộ Thân. Đây mới là tình yêu mãnh liệt nhất. Những danh thần thời xưa, thẳng thắn can gián, hi sinh vì nghĩa chính là như thế - Dùng cái chết của mình để lưu lại thương tổn trong lòng quân vương, dựa vào đó để đạt được mục đích khuyên răn. Ngũ Tử Tư* từng hưng binh diệt Sở đã làm như vậy, mà Khuất Nguyên** một lòng muốn phục hưng nước Sở cũng làm như thế. Việc bọn họ tự sát bắt nguồn từ lòng trung quân ái quốc hết mực: Khiến chính kiến của bản thân trở thành một phần trong sinh mệnh của quân vương.”

* Một nhà quân sự nổi tiếng của Trung Quốc, ông làm quan Đại phu nước Ngô cuối thời Xuân Thu.

** Một chính trị gia, nhà thơ xuất thân từ hoàng tộc nước Sở thời Chiến Quốc. Ông là nhà thơ yêu nước vĩ đại trong lịch sử Trung Hoa, người đặt nền móng cho văn học theo chủ nghĩa lãng mạn ở Trung Quốc, được gọi là “ông tổ của thơ ca Trung Hoa”.

“Khuất Nguyên đâu có giống như ngươi nói…”

“Thật không?” Quỳ thở dài, “Ngươi nghĩ như thế chỉ vì ngươi không biết mà thôi. Vậy hãy để ta kể cho ngươi hay rốt cuộc Khuất Nguyên là người thế nào, đã sống một cuộc đời ra sao!”