Hồi Thứ 1

Dịch giả: An Lạc Group
Đơn vị phát hành: Công ty Cổ phần Văn hóa Huy Hoàng
Đơn vị xuất bản: Nhà xuất bản Văn học

https://i.imgur.com/2Eu8y03.jpg

Vào thời Chiến Quốc, trên núi Quỷ Cốc có một ẩn sĩ tên gọi Quỷ Cốc Tử. Đây là một nhân vật truyền kỳ, được coi là tổ sư của Binh pháp gia, Tung hoành gia, Tướng mệnh thuật số. Đạo gia, tôn xưng là Vương Thiền Lão Tổ, phối thờ cùng Lão Tử.

Quỷ Cốc Tử suốt đời chỉ xuống núi một lần, thu nạp bốn đồ đệ là Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Trương Nghi, Tô Tần. Bốn người họ, trước khi lên núi chỉ là vô danh tiểu tốt, bị thời cuộc xô đẩy đến bước đường cùng; sau khi học thành xuống núi, ai nấy triển lộ hùng tài, lưu danh thiên cổ. Kẻ vận dụng binh pháp lược thao, người thi triển biện thuật tung hoành, xuất tướng nhập tướng, hô phong hoán vũ khắp liệt quốc, xoay chuyển chính cục phân tranh đi theo đúng hướng mà Quỷ Cốc Tử đã định.

Chúng đệ tử chinh phạt thiên hạ, Quỷ Cốc Tử tĩnh tọa thâm sơn, ung dung quan sát ván cờ liệt quốc...

(¯`'•.¸(¯`'•.¸†.†¸.•'´¯)¸.•'´¯)

Hồi Thứ 1

Chư hầu minh hội, mưu toan khó lường
Hiếu Công thi gan, kết oán với Ngụy

~oOo~

Năm 344 trước Công nguyên, thời đúng tháng ba, trong hậu hoa viên cung Tần, sắc xuân đang đượm, trăm hoa đua nở, chim hót líu lo. Trên thảm cỏ xanh mướt, vài con công do quân chủ nước Thục cống tiến năm ngoái đang nô giỡn. Hai gã công trống đương xuân ra sức nhảy nhót, kêu hót, xoè đuôi, dốc hết bản lĩnh để phô bày sức hấp dẫn giống đực nhằm lấy lòng một nàng công mái đương nhởn nhơ cách đó không xa.

Cách đó trăm bước, trên đình Thưởng Xuân, Tần Hiếu Công và đại lương tạo(1) Công Tôn Ưởng đang ngồi đối diện, dường như không hề để tâm tới cảnh sắc mùa xuân phơi phới xung quanh. Tần Hiếu Công nét mặt sa sầm, mắt nhìn chăm chú vào tấm hịch văn gỗ đàn đặt trên bàn. Hịch văn là do Ngụy Huệ Hầu gửi tới vào nửa tháng trước, yêu cầu Tần Hiếu Công trước giờ Thân ngày Đinh Mùi tới Mạnh Tân(2), triều kiến Chu thiên tử.

Sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ, Công Tôn Ưởng ngẩng đầu lên, giọng đầy khẩn khoản: “Chúa thượng! Việc cần chuẩn bị, vi thần đã chuẩn bị xong xuôi, năm nghìn tướng sĩ trang bị sẵn sàng, đợi lệnh xuất phát. Trước mắt còn lại ba ngày, nếu lên đường ngay, hành quân nhanh thì vẫn còn kịp.”

Tần Hiếu Công vẫn nhìn trừng trừng vào tấm hịch văn, dường như muốn xuyên thấu những mảnh gỗ viết mực đen xâu chỉ vàng trước mắt.

Công Tôn Ưởng lại khẩn cầu: “Khởi bẩm chúa thượng, hay là, hãy để vi thần hộ tống điện hạ tới đó?”

Tần Hiếu Công vẫn lặng thinh, mắt không rời khỏi tấm hịch văn.

Công Tôn Ưởng thở dài một tiếng, lại rũ đầu xuống.

Tần Hiếu Công cuối cùng cũng ngẩng lên, nhìn thẳng vào Công Tôn Ưởng: “Hừm! Cái gì mà tới Mạnh Tân triều kiến thiên tử? Trong mắt Ngụy Anh đã bao giờ có Chu Vương? Hắn xưa nay bụng dạ khó lường, chẳng qua là mượn cớ để hiệu lệnh thiên hạ!”

Công Tôn Ưởng đáp lời: “Hiệu lệnh thiên hạ chỉ là thứ yếu, thật lòng là muốn chinh phạt nước ta. Chúa thượng, mấy năm gần đây, chúng ta biến pháp đồ cường, thế nước ngày càng lớn mạnh, Ngụy Hầu đứng ngồi không yên, sớm đã nghĩ tới chuyện chinh phạt ta rồi. Hiện tại hắn đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ thiếu lý do. Minh hội lần này, chúa thượng không thể không đi!”

Tần Hiếu Công thoáng kinh ngạc: “Ồ, ý ái khanh là Ngụy Anh mở minh hội là để chinh phạt ta?”

“Vi thần đã dò la biết được, mấy tháng nay, Ngụy Hầu lấy danh nghĩa hộ giá, liên tục điều động binh mã, chuyển bốn vạn lính trấn thủ Đại Lương tới vùng Hào Sơn, Hàm Cốc. Các nơi khác như Âm Tấn, Lâm Tấn quan, Thiếu Lương thuộc Hà Tây cũng tăng cường binh lính, kiểm tra gắt gao, canh phòng nghiêm ngặt. Đấy là chưa nói những nơi như Thiếu Lương, An Ấp huy động rất nhiều thợ thuyền, ngày đêm chế tạo đủ loại thiết bị công phá thành.”

Tần Hiếu Công cười nhạt một tiếng: “Hắn dám tới, cứ để hắn tới!”

Công Tôn Ưởng lo lắng: “Chúa thượng…”

Lại qua một hồi trầm ngâm lâu hơn nữa, khó chịu hơn nữa, Tần Hiếu Công mới ngẩng đầu nhìn Công Tôn Ưởng, khẽ thở dài một tiếng: “Dù quả nhân có đến tham dự, song nếu Ngụy Hầu thực sự muốn kiếm cớ, làm gì có chuyện không tìm ra?”

“Nếu chúa thượng không đi, cái cớ này hẳn chẳng cần tìm nữa!”

“Nếu công hầu các nước không đi, chỉ có quả nhân đi, há chẳng trở thành trò cười cho thiên hạ?”

“Chúa thượng, nếu không ngoài dự kiến của vi thần, công hầu các nước có lẽ đã tới từ lâu!”

“Cớ sao ái khanh lại khẳng định như vậy?”

“Bởi lý do Ngụy Hầu đưa ra quả thực rất hay: Triều kiến Chu thiên tử vào ngày kỷ niệm bảy trăm năm Vũ Vương tuyên thệ phạt Trụ, nghe thực đường đường chính chính, công hầu các nước còn có lý do gì không tới?”

“Ồ!” Tần Hiếu Công vẻ như không thực tin. “Ái khanh thử nói xem, những công hầu nào sẽ đi?”

“Trung Sơn và những nước nhỏ ở lưu vực sông Tứ không nói làm gì, còn trong số những nước lớn, nước Yên yếu nhất, Yên Công không dám không đi. Triệu, Hàn, Ngụy đều thuộc Tam Tấn, hơn nữa còn là láng giềng với Ngụy, Triệu Hầu, Hàn Hầu không thể không đi. Ngụy, Tề những năm gần đây không có xích mích, Tề Công không thể làm mất mặt Ngụy Hầu mà không đến. Còn Sở Vương có nể mặt Ngụy Hầu hay không, vi thần không dám chắc!”

Tần Hiếu Công trầm ngâm một lúc, nhíu mày hỏi: “Ý ái khanh là, ngay cả Tề Công cũng có thể tới?”

“Đúng vậy!”

Tần Hiếu Công tiếp tục trầm tư. Ánh mắt Công Tôn Ưởng không rời Hiếu Công, chờ đợi quyết định cuối cùng.

Tần Hiếu Công chầm chậm ngẩng lên, sắc diện cương quyết, dằn từng tiếng: “Công Tôn ái khanh! Mười tám năm trước, tiên quân vì muốn lấy lại Hà Tây, đã đại chiến với Ngụy Anh suốt ba tháng ròng, trúng tên mà mất. Quả nhân đã từng thề trước linh cữu tiên quân, không báo thù được cho tiên quân, không rửa nhục được cho Hà Tây, quả nhân sẽ không bước vào đất Ngụy nửa bước! Mười tám năm nay, quả nhân đã y theo lời đó. Lần này, quả nhân cũng không muốn phá lệ! Nếu công hầu các nước tới chầu thiên tử, thì cứ để họ đi!”

Tần Hiếu Công từ từ đứng dậy, không nói một lời với Công Tôn Ưởng, theo hành lang hiên ngang bước đi. Nhìn theo bóng Hiếu Công dần khuất, ánh mắt Công Tôn Ưởng tràn đầy ngỡ ngàng.

***

Cách Lạc Dương chừng trăm dặm về phía đông bắc, địa thế bằng phẳng rộng rãi. Nước sông cuồn cuộn chảy từ Lâm Tấn quan xuôi xuống, khi tới vùng đất này, mười phần hung hãn đã yếu đi đến tám phần. Bờ sông mở rộng gấp đôi, từ xa nhìn lại, chẳng khác gì một dải hồ hình đai áo. Trong vùng sông hồ đai áo ấy, dòng nước xiết đã yên bình trở lại, hình thành một bến sông tự nhiên, mọi người gọi là bến Mạnh Tân.

Theo ghi chép trong sử sách nhà Chu, vào cuối mùa xuân năm 1044 trước Công nguyên, Vũ Vương Cơ dẫn quân về phía đông, ra khỏi cửa ải Hàm Cốc, lập đàn tế trời trên sườn đồi cao cách Mạnh Tân không xa, hội tụ tám trăm chư hầu, tuyên thệ phạt Trụ. Sau khi tuyên thệ, quân Chu vượt sông Hà Thuỷ tại đó, hai năm sau đánh bại Trụ Vương ở cánh đồng Mục Dã, thẳng đến Triều Ca, giành được thiên hạ, lập nên nhà Đại Chu.

Tròn bảy trăm năm sau, tức năm 344 trước Công nguyên, cũng vào dịp cuối xuân, bến Mạnh Tân xưa nay yên tĩnh lại một phen huyên náo. Từng đoàn xe ngựa rầm rập tiến về, dừng lại trước sườn đồi đất vàng nức tiếng cách bến sông hai dặm, dựng trại xung quanh, tạo thành từng dãy hành dinh.

Có tổng cộng mười bốn hành dinh, quy mô khác nhau, dàn hàng trật tự. Trên mỗi hành dinh đều dựng cây cọc cao, treo cờ các nước, đủ các loại màu sắc xanh đỏ vàng đen trắng, rực rỡ vô cùng.

Ngày Đinh Mùi, trời đã về chiều, giờ Thân sắp tới.

Gió xuân dìu dặt, cờ xí muôn sắc tung bay phấp phới, trông mà hoa mắt, khó lòng nhận rõ những văn tự trên cờ.

Phía trước hành dinh treo lá cờ chữ “Sở” là một thảm cỏ xanh mướt. Trên thảm cỏ, thái tử nước Tề Điền Tích Cương và thái tử nước Sở Hùng Hoè phục sức hoa lệ, tư thái hiên ngang đang giương cung lắp tên, nhắm vào tấm bia, vùn vụt bắn liền ba mũi. Hai tên binh sĩ canh bia lập tức vác bia chạy ngược trở lại.

Trên mỗi tấm bia, cả ba mũi tên đều găm trúng hồng tâm. Điền Tích Cương và Hùng Hoè liếc xem tấm bia của đối phương, rồi cùng nhìn nhau cười.

Bỗng có tiếng vỗ tay bồm bộp từ phía sau vọng lại.

Hai người đều ngạc nhiên quay đầu lại nhìn. Cách họ khoảng mười bước chân, Hàn Chiêu Hầu tuổi trạc ngũ tuần đang đứng đó. Hàn Chiêu Hầu vóc dáng thấp đậm, rắn rỏi, mình mặc áo giáp da, ngang lưng đeo kiếm, trên mặt nở một nụ cười bí hiểm, lại vỗ tay liền ba cái.

Điền Tích Cương, Hùng Hoè liếc nhìn nhau, rồi cùng bước lên trước một bước, vòng tay nói: “Bái kiến Hàn Hầu!”

Hàn Chiêu Hầu đáp lễ, rồi tiến lại, cầm lấy tấm bia từ tay binh sĩ, vừa ngắm nghía vừa khen ngợi: “Quả là thiện xạ! Tự cổ anh hùng xuất thiếu niên, hôm nay gặp hai vị điện hạ, mới biết câu này quả thực không sai!”

Nước Hàn và Ngụy, Triệu đều thuộc đất Tấn, xưa gọi là Tam Tấn. Mười mấy năm nay, nước Ngụy ngày càng lớn mạnh, Hàn, Triệu đều trở thành thuộc quốc của Ngụy, nhất nhất nghe theo Ngụy Hầu sai khiến. Sau khi kế vị, Hàn Chiêu Hầu bắt đầu mưu đồ biến cách. Sau khi Công Tôn Ưởng sang Tần không lâu, Hàn Chiêu Hầu đã dùng biến pháp của Thân Bất Hại người Trịnh, nhờ thế nước Hàn ngày càng cường thịnh. Năm năm trước, nước Hàn và nước Sở biên cương xung đột, tướng nước Hàn là Thân Bất Hại dẫn bốn vạn quân giằng co với nước Sở suốt sáu tháng ròng. Nước Sở tập kích, chiếm được Nghi Dương của Hàn, Thân Bất Hại dẫn quân vòng qua Phương Thành, vượt đường xa đánh úp Uyển Thành của Sở, hai bên đều nhắm đánh vào vùng đất luyện thép trọng yếu của đối phương, chiến cục thành hoà. Mấy tháng sau, dưới sự điều đình của Ngụy Huệ Hầu, ba nước Ngụy, Sở, Hàn đã điều đình ở Thượng Sái, Sở trả lại Nghi Dương cho Hàn, Hàn trả lại Uyển Thành cho Sở, hai nước bắt tay làm hoà.

Lần này, Ngụy Huệ Hầu triệu tập đại hội ở Mạnh Tân, Sở vốn là vương, ngang hàng với Chu, hoàn toàn có thể không đến. Nhưng Sở Uy Vương thứ nhất là muốn thăm dò động thái Trung Nguyên, thứ hai là muốn tôi rèn thái tử, nhân tiện để cho nước Ngụy được mở mày mở mặt, nên cũng nhận lời mời của Ngụy Hầu, cho thái tử Hùng Hoè tới dự triều hội.

Bởi những khúc mắc trước kia, lại cũng vì mối quan hệ căng thẳng giữa Hàn và Ngụy, nên lúc này, sự xuất hiện của Hàn Chiêu Hầu mang một sắc thái khá đặc biệt. Thái tử nước Sở Hùng Hoè liếc Điền Tích Cương một cái, rồi thản nhiên đáp lời: “Đa tạ Hàn Hầu quá khen!”

Quả nhiên, Hàn Chiêu Hầu đặt tấm bia xuống đất, ngữ khí thong thả, lời nói đầy ẩn ý sâu xa: “Nghe nói điện hạ Doanh Tứ nước Tần có thể kéo cây cung năm thạch, cách xa trăm bước bắn trúng lá dương liễu. Nếu hôm nay cũng có mặt ở đây, ba vị hẳn có thể đọ tài cao thấp!”

Điền Tích Cương tuổi trẻ khí ngạo, phá lên cười lớn một tràng rồi nói: “Người mà Hàn Hầu vừa nhắc tới, lẽ nào là cậu ấm phóng đãng của Tần Công? Tích Cương lại nghe đồn rằng, khi Công Tôn Ưởng mới thi hành biến pháp, kẻ đó phản đối đầu tiên, bản thân hắn phải chịu cái nhục cắt tóc đã đành, ngay cả lão thầy già Công Tôn Giả và thái phó Doanh Kiền của hắn cũng phải liên luỵ, bị thích chữ vào mặt, xẻo mũi thay hắn, trở thành trò cười của liệt quốc.”

Hùng Hoè khinh khỉnh tiếp lời: “Cậu ấm phóng đãng đó không phải là không đến, chỉ e là không dám đến!”

Hàn Chiêu Hầu thấy Hùng Hoè ăn nói ngông cuồng, trong lòng bực bội, cười nhạt mà nói: “Ồ, điện hạ không những dám tới, mà còn không sai hẹn với Ngụy Hầu dù chỉ một chốc lát, quả nhân thực tình khâm phục! Nhân tiện xin nói một câu, Sính Đô(3) cách đây hơn ba nghìn dặm, điện hạ đi đường hẳn đã phải dãi gió dầm sương, thật vất vả quá!”

Hùng Hoè cười nhạt một tiếng: “Hồi Hàn Hầu, Hùng Hoè trên đường du sơn ngoạn thuỷ, vui vẻ khoan khoái vô cùng. Nếu nói về vất vả, Hùng Hoè sao so được với Hàn Hầu? Nghe nói Hàn Hầu nhận được hịch truyền của Ngụy Hầu, tức tốc lên đường ngay trong đêm, chưa tới ba ngày đã vượt qua nghìn dặm mà tới!”

Hàn Chiêu Hầu bật cười ha hả: “Ha ha, thật là miệng lưỡi sắc sảo! Sở Vương có điện hạ đúng là đã có người kế tục! Không giấu điện hạ, quả nhân và Sở Vương cũng được coi là quen biết nhiều năm. Tại cuộc gặp ở Thượng Sái năm xưa, trong bữa tiệc, quả nhân và Sở Vương đánh cuộc bằng rượu, Sở Vương nhất thời bất cẩn, đã để thua quả nhân một bình rượu lâu năm, nói rằng lần sau gặp mặt sẽ tặng. Hội Mạnh Tân lần này, quả nhân vốn không định tới, nhưng chợt nhớ Sở Vương có lẽ sẽ đến trả bình rượu còn nợ, nên đôi chân già này cứ nhất quyết đòi đi.”

Hùng Hoè cũng bật cười lớn, miệng lưỡi bén nhọn đáp trả: “Hàn Hầu nói rất đúng! Trước khi vãn bối đi, phụ vương quả thật có lấy ra một bình rượu lâu năm, kéo tay vãn bối lại dặn rằng: ‘Ngụy Hầu triệu tập hội Mạnh Tân, các công hầu khác có tới hay không rất khó nói, nhưng Hàn Hầu nhất định sẽ tới. Lần này sai con đến Mạnh Tân, cũng chẳng có việc gì khác, chỉ cần giao bình rượu lâu năm này cho Hàn Hầu. Cũng chuyển lời tới Hàn Hầu rằng, rượu này do quả nhân tự tay ủ, nếu muốn biết được mùi vị thật sự trong đó, phải thưởng thật kỹ!’.”

Hàn Chiêu Hầu hơi sững lại một thoáng, liếc sang Điền Tích Cương, lại liếc nhìn hơn chục hành dinh xa gần lớp lớp, đổi giọng tự trào: “Ha ha… Hôm nay, Ngụy Anh đúng là nở mày nở mặt, liệt quốc lớn nhỏ, không nước nào không tới! Bất luận thế nào, lần này được uống rượu ủ lâu năm của Sở Vương, quả nhân cũng coi như không uổng phí chuyến đi này!”

Hùng Hoè nhìn mặt trời đang xế về tây, cười nói: “Chỉ e Hàn Hầu nói quá sớm. Theo hịch truyền của Ngụy Hầu, chư hầu phải tới trước giờ Thân hôm nay. Nhìn mặt trời đã thấp thế kia, giờ Thân có lẽ đã tới rồi. Hẳn Hùng Hoè mắt mũi kém cỏi, nên không nhìn thấy xe của nước Tần đâu?”

Điền Tích Cương không bỏ lỡ thời cơ, tiếp lời: “Đúng vậy, đúng vậy, Tích Cương cũng muốn thỉnh giáo Hàn Hầu, Ngụy Hầu uy danh là thế, Tần Công làm gì có chuyện không dám tới?”

Hàn Chiêu Hầu quét ánh mắt qua Điền Tích Cương, dừng lại ở Hùng Hoè: “Tần Công không đến, có lẽ là coi thường rượu lâu năm của nước Sở!”

Hùng Hoè cung kính đáp: “Hàn Hầu nói chí phải. Nghe nói Tần Công tửu lượng kém, không như Hàn Hầu tửu lượng hơn người, chỉ cần nghe nói có người cho rượu, chưa đợi trời sáng đã cấp tập lên đường!”

Điền Tích Cương cười lớn, phụ họa: “Đúng vậy, đúng vậy! Hàn Hầu tửu lượng hơn người, tối nay có người ban rượu, Hàn Hầu vừa hay có cơ hội để thể hiện bản lĩnh!”

Hàn Chiêu Hầu thở dài một tiếng: “Ồ, hai vị điện hạ, tuổi trẻ khí thịnh cũng vô dụng thôi, tiệc rượu tối nay, bất kể tửu lượng khá dở thế nào, cũng đều phải uống. Hai vị hãy chờ mà xem, nếu đúng như quả nhân dự đoán, Tần Công tửu lượng kém e rằng sẽ phải uống rượu phạt!”

Hai vị thái tử lập tức ngẩn người: “Rượu phạt?”

Hàn Chiêu Hầu ngoảnh đi, ánh mắt từ từ dừng lại ở hành dinh nước Ngụy, rồi gật mạnh đầu khẳng định.

***

Trong mười bốn hành dinh xếp hàng ngay ngắn, có hai trại ở giữa. Một là hành dinh của thiên tử, tọa bắc hướng nam, phía trước phất phơ vuông cờ đỏ, trên cờ thêu chữ “Chu” thật lớn bằng chỉ xanh. Bên phải hành dinh thiên tử là hành dinh nước Ngụy, xếp thẳng hàng với hành dinh thiên tử, kích cỡ và kiểu cách của hai hành dinh này giống hệt như nhau, trên lá cờ màu xanh sẫm thêu một chữ “Ngụy” lớn bằng chỉ đỏ. Nhìn từ phía xa, hai lá cờ tung bay song song, một lá nền đỏ chữ xanh, một lá nền xanh chữ đỏ, tương phản chói chang, tuy nhiên trong đó hẳn còn mang một ý vị nào khác.

Hành dinh nước Ngụy yên ắng lạ lùng, đến không khí cũng dường như ngưng đọng.

Có ba người, tướng quốc Bạch Khuê, thượng đại phu Trần Chẩn, thượng tướng quân công tử Ngang ngồi im trước bàn, lặng phắc như tờ, hệt như ba pho tượng đất.

Ngụy Huệ Hầu ngồi ngay ngắn ở vị trí chủ, hai mắt khép hờ, sắc mặt thư thái, tay phải hơi nắm, ngón giữa đưa lên hạ xuống nhịp nhàng chạm xuống mặt bàn, giống như gõ, nhưng không phát ra tiếng.

Gõ được vài cái, Huệ Hầu chợt mở choàng mắt, từ từ ngẩng lên, đôi mắt như ngọn đuốc nhìn thẳng vào chiếc đồng hồ nước tinh xảo bày bên tay trái. Quan tư lậu(4) đứng hầu bên cạnh, mắt nhìn không chớp vào vạch khắc trên đồng hồ nước. Mọi người không hẹn mà cùng nhìn về một phía. Trong bầu tĩnh lặng như chết chóc, đồng hồ nước bỗng phát ra hai tiếng “tách tách” ngân vang.

Mực nước cuối cùng cũng dâng lên một vạch. Lát sau lại thêm một tiếng “tách” nữa, giọng quan tư lậu cất lên sang sảng: “Giờ Thân ngày Đinh Mùi đã tới!”

Ngụy Huệ Hầu hơi ngẩng đầu, để lộ khuôn mặt phương phi, như cười mà như không cười, ánh mắt sắc bén rời khỏi mặt bàn, lấn lượt quét qua Bạch Khuê, công tử Ngang, rồi dừng lại trên người Trần Chẩn.

Trần Chẩn thấy vậy, kịp thời tâu rằng: “Giờ Thân đã điểm! Quả như chúa thượng dự đoán, Tần Công đã kháng lệnh!”

Ngụy Huệ Hầu hai má rung rung, khẽ gật đầu: “Chư ái khanh đều đã thấy cả rồi. Không phải quả nhân muốn sinh sự với con ưng đen ấy, mà là nó đã đủ lông đủ cánh, muốn tự bay rồi!”

Công tử Ngang đứng phắt dậy, bước lên một bước: “Khởi tấu quân phụ, nhi thần thỉnh cầu tây chinh, thề sẽ bẻ rời cánh nó xuống cho quân phụ nhắm rượu!”

Ngụy Huệ Hầu từ từ di chuyển ánh mắt sang Bạch Khuê: “Ái khanh, khanh nói gì đi chứ?”

Lão tướng quốc Bạch Khuê liếc nhìn công tử Ngang một cái, khẽ chau mày: “Hồi bẩm chúa thượng, nước Tần mười năm biến pháp, thực lực ngày càng lớn mạnh, rõ ràng đã thành bọc mủ, sớm muộn cũng phải nặn bỏ! Song, việc có tuần tự, sự có nhanh chậm, vi thần cho rằng, việc cấp bách trước mắt không phải là chinh phạt, mà là triều kiến thiên tử. Đây là thịnh hội trăm năm, chư hầu thiên hạ tề tựu đông đảo, lỡ để xảy ra sơ sảy, có thể ươm mầm tai họa khó lòng dàn xếp!”

Ngụy Huệ Hầu gật đầu liên hồi: “Đúng vậy, lão ái khanh nói chí phải!” Rồi nhìn sang công tử Ngang. “Ngang Nhi, nghe thấy chưa? Mọi việc không chỉ phải nghĩ đến toàn cục, mà còn phải suy tính lâu dài, không được động một chút là đòi chinh phạt!”

Công tử Ngang liếc xéo Bạch Khuê một cái, hạ giọng: “Quân phụ dạy chí phải!”

Ngụy Huệ Hầu chuyển ánh mắt sang Trần Chẩn: “Trần ái khanh, các việc liên quan tới triều hội đã chuẩn bị sẵn sàng chưa?”

Trần Chẩn dõng dạc đáp lời: “Khởi bẩm chúa thượng, mọi việc đã sẵn sàng. Theo sắp xếp, một canh giờ nữa, tức vào lúc hoàng hôn, thiên tử sẽ ban tiệc, chúa thượng cũng nên chuẩn bị chút ít!”

Ngụy Huệ Hầu gật đầu: “Phải! Đây là đại sự, không thể qua loa!” Suy nghĩ một lát, lại nói tiếp. “Trần ái khanh, khanh là người chủ quản nghi lễ, quả nhân và Chu thiên tử, và các công hầu trong thiên hạ, đều nghe theo sự sắp đặt của khanh. Hãy sắp xếp cho chu đáo!”

Nghe thấy quân chủ cố tình nói tới từ “quả nhân” trước cả từ “Chu thiên tử”, Bạch Khuê khẽ giật mình, vòng tay mà tâu: “Chúa thượng…”

Ngụy Huệ Hầu dường như đoán được ông định nói gì, bèn xua tay: “Lão ái khanh, ngày mai cử hành đại lễ, khanh hãy đi kiểm tra lại khắp lượt, chớ để xảy ra sơ suất!”

Bị chặn họng, Bạch Khuê đành nuốt lời khuyên xuống cổ, giọng khàn khàn đáp lời: “Vi thần tuân chỉ!”

Bạch Khuê cáo lui, khuôn mặt già nua chằng chịt nếp nhăn càng trở nên ưu tư. Ông men theo con đường nhỏ rảo bước về trại của mình. Môn khách Công Tôn Diễn ra nghênh đón. Bạch Khuê thì thầm một hồi với Công Tôn Diễn, rồi Công Tôn Diễn nhanh chóng ra khỏi trại.

***

Để phòng ngự người Ngụy, Tần Hiếu Công ngay trong những năm đầu biến pháp cải chế, đã nghe theo kế của Công Tôn Ưởng, dời đô từ Nhạc Dương tới Hàm Dương phía tây, xây thành cao lũy sâu, ngoài thành lớp lớp tường bao, dưới tường thành còn đào một con hào rộng năm trượng, sâu gần một trượng, dẫn nước từ Vị Hà tới bao quanh bảo vệ, khiến thành trì càng thêm kiên cố, đúng là thành đồng hào nóng.

Vào lúc chập tối, trong điện Di Tình, không khí ngưng đọng. Tần Hiếu Công ngồi trên ngai rồng, thái tử Doanh Tứ, thái phó Doanh Kiền, thượng đại phu Cảnh Giám, quốc uý Xa Anh chia nhau ngồi ở hai bên. Ai nấy sắc mặt nặng nề, ánh mắt đổ dồn vào thượng đại phu Cảnh Giám.

Cảnh Giám trầm giọng nói: “Muôn tâu chúa thượng! Theo vi thần được biết, mười hai chư hầu Trung Nguyên đều hưởng ứng Ngụy Hầu, tới Mạnh Tân triều kiến thiên tử! Liệt quốc lớn nhỏ vùng Sơn Đông, ngoài Tề, Sở cử thái tử đi, còn lại đều đích thân quân chủ tới.”

Rõ ràng, trong buổi triều hội Mạnh Tân, ngoài hai nước Tề và Sở ít nhiều nằm ngoài dự kiến, còn tình hình nước khác đều nằm trong dự đoán của Công Tôn Ưởng. Tần Hiếu Công dường như sực nhận ra sự việc nghiêm trọng, đôi mày chau tít, từ từ khép mắt lại.

Doanh Kiền từng bị đại lương tạo Công Tôn Ưởng xử hình xẻo mũi, hơi ngẩng đầu lên, liếc sang Doanh Tứ, nói oang oang: “Tứ Nhi, công thúc thật lòng không hiểu, tại sao chúng ta không tới triều hội Mạnh Tân?”

Vẫn còn ôm mối hận với Công Tôn Ưởng, Doanh Tứ nhanh chóng hiểu ý, lập tức đáp lời: “Công thúc, Tứ Nhi không hiểu việc này. Có lẽ đại lương tạo có suy tính khác.”

Doanh Kiền hừ mũi một tiếng, nhìn về phía Hiếu Công: “Không phải thần đệ oán trách, nhưng quân huynh không nên việc gì cũng nhất nhất nghe theo Công Tôn Ưởng! Triều hội Mạnh Tân, liệt quốc trên danh nghĩa là đến chầu Chu thiên tử, thực chất lại là đến chầu Ngụy Hầu. Ngụy Hầu là người thế nào, mà ngay cả nước lớn như Tề, Sở đều không dám khinh thường đắc tội. Công Tôn Ưởng hắn hiểu cái gì, nói không đi là dám không đi! Bây giờ thì hỏng rồi! Ngụy Anh vốn dĩ đã không thuận mắt với nước Tần ta, lúc này kiếm được lý do chính đáng, lại chẳng nhân cơ hội thôn tính chúng ta?”

Cảnh Giám liếc nhìn Xa Anh, dường như muốn nói điều gì nhưng lại thôi.

Tần Hiếu Công từ từ mở mắt, quét ánh nhìn qua Doanh Kiền và Doanh Tứ, vừa như tự trách, lại vừa như trả lời Doanh Kiền: “Việc này không thể trách đại lương tạo! Là quả nhân ôm mối hận Hà Tây, nhất thời tức giận không đi, không ngờ quả nhiên đã gây phiền toái!”

Thấy Hiếu Công nói vậy, Doanh Kiền tự biết lỡ lời, cúi đầu không nói gì nữa. Mọi người đều im lặng.

Tần Hiếu Công chợt ngẩng lên hỏi: “Đại lương tạo… đại lương tạo đâu rồi?”

Cảnh Giám vòng tay đáp: “Hồi bẩm chúa thượng, đại lương tạo hai ngày trước đã tới núi Chung Nam thị sát doanh trại.”

Tần Hiếu Công lấy làm lạ: “Tới núi Chung Nam thị sát doanh trại.” Trầm ngâm một lát, bèn thở dài một tiếng: “Gọi ông ta về mau!”

“Vi thần tuân lệnh.”

***

Trời vừa tối, bên ngoài hành dinh thiên tử đèn đuốc sáng trưng, nhã nhạc tấu lên, dìu dặt hài hoà. Đúng vào lúc đó, công tử Ngang dẫn một nghìn võ binh sầm sập chạy tới, vây khắp xung quanh hành dinh, chỉ chừa lại một lối đi, giáo mác tua tủa ở trước cửa.

Hành động quá ư đường đột khiến bữa tiệc của thiên tử vốn đang hỷ khí chan hoà bỗng chốc sặc mùi uy hiếp. Mười hai chư hầu đang đứng trước cửa hành dinh chừng một tầm tên bắn chờ triệu kiến, tất thảy đều sững sờ nhìn nhau, ai nấy cùng lộ vẻ tức giận. Hùng Hoè, Điền Tích Cương đưa mắt nhìn nhau, đang định phẩy tay áo bỏ đi thì thấy Trần Chẩn vẫy tay về phía đội nhạc, cất giọng sang sảng: “Thiên tử ban yến! Sở điện hạ, Tề điện hạ giá đáo!”

Đội nhạc lập tức tấu lên khúc nhạc thiên tử nghênh tân khách. Hùng Hoè, Điền Tích Cương nghe thấy tên mình được xướng lên, sững lại chốc lát, cuối cùng cũng miễn cưỡng đi về phía hành dinh của thiên tử.

Tiếp đó, Trần Chẩn lần lượt hô to: “Triệu Hầu giá đáo! Hàn Hầu giá đáo! Yên Hầu giá đáo!… Vệ Công giá đáo!”

Những chư hầu được Trần Chẩn điểm danh đều mặt mày nặng trịch, lần lượt bước vào lối đi tua tủa giáo mác theo thứ tự xướng danh.

Chu Hiển Vương mình khoác long bào, thân hình gầy guộc, sắc mặt thoáng vẻ xanh xao, ngồi ngay ngắn ở ngôi chủ, mặt hiện vẻ cười, song người tinh mắt vừa nhìn đã thấy, nụ cười này là cố gắng nặn ra.

Theo thứ tự xướng danh của Trần Chẩn, các công hầu lần lượt hành đại lễ ba lạy chín dập đầu trước Chu thiên tử. Hành đại lễ bái kiến xong, Chu thiên tử lần lượt ban chỗ cho từng người. Người bái kiến cuối cùng là Vệ Thành Công với bộ râu đen dài phất phơ.

Vệ Thành Công tiến lên mấy bước, sau khi hành đại lễ xong, bèn lớn giọng hô: “Thần tử Đại Chu, cháu đời thứ hai mươi ba của Vệ thất là Cơ Tốc khấu kiến thiên tử bệ hạ!”

Chu Hiển Vương vẫn với nụ cười miễn cưỡng, bàn tay đưa ra cũng miễn cưỡng tương tự, nói: “Ái khanh bình thân!”

Vệ Thành Công tạ ơn xong, đứng dậy đi về vị trí cuối cùng. Theo sách sử ghi chép, khi liệt quốc triều kiến thiên tử, vị trí ngồi sẽ tuân theo quan hệ huyết thống xa gần với tông thất nhà Chu, cũng như tuần tự cấp bậc trên dưới. Nước Vệ là đất phong của Khang Thúc, em cùng mẹ với Chu Vũ Vương, xét về huyết thống là rất gần với tông thất nhà Chu, về lý phải xếp trên cùng, hoặc chí ít cũng phải ngang hàng với Lỗ Công, Yên Công. Tuy nhiên, lần này, Trần Chẩn đã sắp xếp trật tự dựa vào thực lực mạnh yếu của mỗi nước, căn bản không hề quan tâm đến quy tắc của Chu thất. Vệ Thành Công có quan hệ huyết thống gần với Chu thất hơn cả, song do thực lực yếu nhất nên bị xếp cuối cùng. Các nước lớn không có ý kiến gì, Vệ Thành Công tuy một bụng hậm hực cũng không dám nói ra.

Lúc này, chỉ còn lại một chỗ trống, chính là vị trí bên cạnh Chu thiên tử. Công hầu có mặt đều biết, vị trí này đặc biệt dành cho Ngụy Hầu. Là người chủ trì bữa tiệc, đáng lẽ Ngụy Hầu phải đến đầu tiên, song lại lề mề chưa tới, dụng ý tuy không nói ra, song mọi người đều ngầm hiểu.

Phía bên ngoài hơn chục bước, nơi vốn dĩ là vị trí đội nhạc của thiên tử, giờ lừng lững hai hàng binh lính, toàn thân giáp sắt, toả ra làn khí sát phạt khiến ai nấy ớn lạnh. Đứng oai phong lẫm liệt phía đầu hai hàng lính là thượng tướng quân công tử Ngang nước Ngụy. Bầu không khí căng thẳng này trái ngược hoàn toàn với tiếng nhã nhạc đón khách vẫn dìu dặt từ phía đội nhạc của thiên tử ở bên ngoài hành dinh.

Thấy mọi người đều đã yên vị, Trần Chẩn vẫy tay, nhạc đón khách lại tiếp tục cử lên. Trần Chẩn không bỏ lỡ thời gian, dõng dạc hô vang: “Ngụy Hầu giá đáo!”

Hai hàng lính “roạt” một tiếng lùi ra hai bên, chừa ra một lối đi rộng chừng ba bước chân. Ngụy Huệ Hầu thủng thẳng tiến vào, sải bước trong tiếng nhạc, hướng về phía Chu thiên tử, quỳ xuống, song chỉ một lạy một dập đầu, cất giọng sang sảng: “Ngụy Anh khấu kiến bệ hạ!”

Chu Hiển Vương trong lòng chùng xuống, song miệng vẫn nói: “Ái khanh bình thân!”

Ngụy Huệ Hầu lại không đứng dậy ngay, vẫn dập đầu sát đất. Chu Hiển Vương mặt hơi biến sắc, nhắc lại: “Ái khanh bình thân!”

Ngụy Huệ Hầu không nhúc nhích, vẫn dập đầu sát đất. Chu Hiển Vương đưa mắt nhìn khắp lượt chư hầu, song chẳng ai để ý tới Hiển Vương, hầu như mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Ngụy Huệ Hầu. Chu Hiển Vương ngần ngừ một lát, đành phải đứng dậy, bước xuống, đích thân đỡ Ngụy Huệ Hầu đứng dậy.

Nhìn thấy cảnh tượng này, chư hầu đều đưa mắt nhìn nhau, mỗi người một vẻ kinh ngạc.

Chu thiên tử kéo tay Ngụy Huệ Hầu dắt tới chỗ ngồi, rồi cùng an tọa. Nhã nhạc đón khách đã dừng. Trần Chẩn vỗ tay, Công Tôn Diễn và một người hầu rượu bước vào, lần lượt rót rượu cho từng người.

Thấy rượu đã rót xong, Ngụy Huệ Hầu cố tình đặng hắng lớn một tiếng, đám công hầu đều ngẩng nhìn về phía ông ta.

Ngụy Huệ Hầu tuổi gần năm mươi, vóc dáng cao lớn, vạm vỡ như trâu mộng, khuôn mặt vuông vức, không giận đã uy. Ngồi ở ngôi trên, Chu Hiển Vương trẻ hơn Ngụy Hầu cả chục tuổi chẳng khác gì một thư sinh yếu ớt, nụ cười miễn cưỡng trên khuôn mặt càng khó lòng che giấu nỗi sợ hãi tận đáy lòng.

Ngụy Huệ Hầu lại đặng hắng tiếng nữa, đưa mắt lướt nhìn khắp lượt hai hàng võ binh đang đứng phía sau chư hầu không xa, vờ sầm mặt xuống, lớn tiếng trách mắng: “Trần Chẩn, đám võ sĩ này là thế nào?”

Trần Chẩn khấu đầu đáp: “Bẩm chúa thượng, là thượng tướng quân lo lắng cho sự an nguy của thiên tử, nên đặc biệt đưa tới hộ giá!”

Ngụy Huệ Hầu nghiêm giọng hỏi: “Thượng tướng quân đâu?”

Công tử Ngang dõng dạc đáp: “Có mạt tướng!”

Ngụy Huệ Hầu nghiêm mặt: “Hôm nay thiên tử ban tiệc, quần thần vui vẻ, ngươi lại dẫn đám võ sĩ này đứng canh ở đây, thật mất hứng! Còn không mau lui ra.”

“Mạt tướng tuân lệnh!”

Công tử Ngang vội vẫy tay, cùng đám võ sĩ lui ra.

Ngụy Huệ Hầu ngồi thẳng người, quét ánh mắt khắp lượt mười hai chư hầu, khẽ mỉm cười, vòng tay tạ lỗi: “Thời thế loạn lạc, chư vị công hầu đều là thân thể ngàn vàng, lại thêm bệ hạ thiên tử đích thân tới đây, Ngụy Anh vô cùng lo sợ, chỉ e xảy ra sơ suất, nên căn dặn chúng phải canh phòng nghiêm ngặt. Nào ngờ chúng lại cẩn thận quá mức, làm kinh động đến chư vị!”

Mười hai chư hầu đưa mắt nhìn nhau, ai nấy trong lòng hiểu rõ, nên chẳng ai dám nói lời nào.

Ngụy Huệ Hầu lại vòng tay cung kính mà nói: “Được chư vị xem trọng, không quản đường sá xa xôi tới Mạnh Tân, Ngụy Anh vô cùng cảm kích!”

Mười hai công hầu thấy vậy, đành phải vòng tay đáp lễ. Chủ nhân thực sự của bữa tiệc là Chu Hiển Vương đã bị gạt sang một bên, vẻ mặt hết sức sượng sùng. Ngụy Huệ Hầu như không nhìn thấy, nâng chén rượu lên mà nói: “Chư vị công hầu tề tựu ở Mạnh Tân, thiên hạ quy tâm, thực là đại sự trăm năm có một, đáng được chúc mừng! Nhân ngày lành cảnh đẹp, Ngụy Anh tạm thay thiên tử ngự tửu, cảm tạ chư công!”

Nói đoạn, Ngụy Huệ Hầu ngửa cổ uống liền một hơi.

Chư hầu nhìn nhau, thảy đều kinh ngạc. Thái tử nước Sở Hùng Hoè ho lớn một tiếng, rồi e hèm liền vài cái trong cổ họng. Triệu Túc Hầu, Yên Văn Công cũng húng hắng ho theo, trong tiệc bỗng chốc tạp âm hỗn loạn.

Điền Tích Cương quay sang nhìn Hàn Chiêu Hầu, hạ giọng hỏi: “Tích Cương lần đầu triều kiến thiên tử, không hiểu lễ nghi. Xin hỏi Hàn Hầu, rượu hôm nay, chén đầu tiên là ai uống?”

Hàn Chiêu Hầu lắc đầu, nói khẽ: “Chiếu theo luật lệ, thiên tử ban rượu, chén đầu tiên đáng ra phải do thiên tử nâng lên kính trời, chén thứ hai kính đất, chén thứ ba cùng uống với chúng ta.”

Điền Tích Cương gật đầu nói: “Đa tạ Hàn Hầu chỉ giáo! Tích Cương năm ba tuổi đã nghe câu ‘khách át quyền chủ’, nhưng tới hôm nay mới tận mục sở thị!”

Hàn Chiêu Hầu đang định nói tiếp, chợt thấy ánh mắt sắc lạnh của Ngụy Huệ Hầu đang quét tới, đôi môi vừa mấp máy lập tức im bặt. Ánh mắt Ngụy Huệ Hầu quét khắp lượt chư hầu, dừng lại ở Vệ Thành Công ngồi ở cuối cùng. Vệ Thành Công rùng mình ớn lạnh, tay run cầm nâng chén rượu lên, uống cạn đầu tiên. Ngụy Huệ Hầu gật gù đắc ý, tiếp đến lại đưa mắt về phía quân chủ các nước nhỏ như Tống, Nghĩa Cừ, Lỗ, Trung Sơn, Đào, Trần. Chư hầu lần lượt nâng chén uống cạn.

Khi ánh mắt Ngụy Huệ Hầu dừng lại ở Yên Văn Công tuổi ngoại lục tuần, Văn Công thoáng ngần ngừ một lát, rồi cũng nâng chén, nhìn sang Hiển Vương, cúi đầu với Hiển Vương, gõ chén xuống bàn ba lần, rồi uống liền một hơi. Không đợi Ngụy Huệ Hầu nhìn đến, Triệu Túc Hầu, Hàn Chiêu Hầu cùng nâng chén lên, bắt chước Yên Văn Công, đều đưa mắt nhìn Chu Hiển Vương, gõ chén ba cái xuống bàn, rồi uống. Hai thái tử Tề, Sở ngồi ở hai bên, chẳng chú ý tới thiên tử, cũng chẳng để ý tới Ngụy Huệ Hầu, chỉ nhìn nhau cười cười, nâng chén chúc nhau, rồi cùng uống cạn.

Trong buổi tiệc, chỉ có Chu Hiển Vương không nâng chén, ngồi ngây như khúc gỗ sau bàn.

Ánh mắt Ngụy Huệ Hầu nhanh chóng chuyển sang Chu Hiển Vương. Muôn nỗi đau xót trong lòng Chu Hiển Vương hoá thành một nụ cười gượng gạo. Ông nâng chén lên môi, nhấp một ngụm, rồi đặt trở lại bàn.

Ngụy Huệ Hầu cười hài lòng, vòng tay nói: “Ngụy Anh đa tạ chư vị đã có mặt ở đây! Ngụy Anh còn vài lời muốn nói, mong chư vị cho phép!”

Xung quanh lập tức im bặt, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Ngụy Huệ Hầu.

Ngụy Huệ Hầu khẽ đặng hắng, cất giọng sang sảng: “Chư vị công hầu! Bảy trăm năm trước, tại nơi này, chính trên gò đất phía trước không xa, Chu Vũ Vương hội hợp tám trăm chư hầu thiên hạ, tuyên thệ phạt Trụ. Thử nghĩ mà xem, tại sao Chu Vũ Vương có thể hội minh tám trăm chư hầu? Bởi người có đức hạnh, có tài năng! Người xưa có câu, ‘người có đức có tài sẽ có được thiên hạ.’ Trụ Vương thất đức bất tài nên mất thiên hạ. Vũ Vương tài đức song toàn nên có thiên hạ. Chư vị công hầu, hiện nay chúng ta đứng trên đất này, nhớ lại chuyện xưa, thực khó tránh trong lòng cảm khái!”

Câu này khác nào ám chỉ Chu thiên tử là người vô tài vô đức, nên ai cũng có thể đoạt lấy vương vị. Do vậy, Ngụy Huệ Hầu vừa dứt lời, Chu Hiển Vương mặt đỏ bừng hổ thẹn, cúi gằm mặt xuống, lén kéo vạt áo lau nước mắt.

Hàn Chiêu Hầu chạm khẽ vào Điền Tích Cương ngồi cạnh, thì thầm: “Nghe rõ chưa? Ngụy Hầu tài đức song toàn, thiên hạ nên thuộc về ông ta!”

Điền Tích Cương liếc mắt nhìn Ngụy Huệ Hầu, hừ mũi một tiếng, ngoảnh mặt đi không thèm nhìn. Hùng Hoè mắt sáng rực, nhìn thẳng vào Ngụy Huệ Hầu, lớn tiếng hỏi: “Xin hỏi Ngụy Hầu, trong thiên hạ hiện nay, ai là người tài đức song toàn?”

Ngụy Huệ Hầu nhìn về phía Hùng Hoè, cười khẽ mà nói: “Có một người, song đương nhiên không phải là thái tử nước Sở Hùng Hoè!”

Hùng Hoè lạnh lùng đáp: “Nói như vậy, người đó hẳn là Ngụy Hầu đây?”

Ngụy Huệ Hầu bật cười: “Ha ha ha ha! Người tài đức song toàn có thể chấn hưng vương nghiệp, bá chủ thiên hạ. Ngụy Huệ Hầu tài nông đức mọn, sao có thể gánh vác trọng trách này? Hơn nữa, dù Ngụy Anh có tài năng đó, cũng không dám khoe khoang!”

Thân là chư hầu, lại nói chuyện vương nghiệp trước mặt thiên tử, những lời như vậy mà ông ta cũng dám thốt ra, không khỏi khiến mọi người bàng hoàng sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau. Ngụy Huệ Hầu lại đổi sang chuyện khác: “Có điều, thiên hạ thực sự vẫn có một kẻ như thế, tự cho mình đức cao vọng trọng, tài trí siêu quần!”

Chư hầu kinh ngạc, không hẹn mà cùng đổ dồn ánh mắt về phía Ngụy Huệ Hầu. Hùng Hoè dõng dạc hỏi: “Xin hỏi Ngụy Hầu, kẻ đó là ai?”

Ngụy Huệ Hầu thu lại nụ cười, gằn mạnh từng chữ: “Tần Công Doanh Cừ Lương!”

Mọi người lại đưa mắt nhìn nhau. Hàn Chiêu Hầu khẽ chạm vào Điền Tích Cương: “Thấy chưa? Vòng vèo qua lại, cuối cùng cũng nhắc đến việc chính rồi đấy!”

Ngụy Huệ Hầu nghiêm mặt, giọng nói càng thêm gay gắt: “Hôm nay chư hầu về chầu thiên tử, thiên hạ quy tâm, vua giữ đạo vua, tôi gìn đạo tôi, có thể gọi là phúc lớn của lê dân. Duy có Tần Công ngông cuồng tự đại, đã không đích thân tới, cũng không giải thích nguyên do! Đây gọi là gì? Là xem thường thiên hạ! Là không coi thiên tử ra gì! Là dưới nghịch trên! Là trái thiên đạo luân thường!”

Ngụy Huệ Hầu quy kết một loạt tội trạng của Tần Công, giọng nói lúc một âm vang, sắc mặt lúc càng giận dữ, đây là điều mà các công hầu có mặt không thể ngờ tới. Vệ Thành Công xưa nay có tiếng nhát gan sợ việc, dường như không chịu nổi hàng loạt những lời truy vấn đầy thịnh nộ của Ngụy Hầu, hai tay run bần bật, làm đổ cả chén rượu vừa mới châm đầy, rượu bắn tung tóe.

Triệu Túc Hầu ngồi cạnh ông ta điềm tĩnh như không, đưa tay nhặt chén rượu lên, đặt ngay ngắn trên bàn. Công Tôn Diễn nhanh nhẹn bước tới, lại rót rượu vào đầy chén.

Yên Công, Lỗ Công vẫn ngồi ngay ngắn, hai mắt khép hờ, làm như không nghe thấy, không nhìn thấy. Mấy vị quân chủ nước nhỏ sắc mặt thấp thỏm nhìn Ngụy Huệ Hầu, lo sợ trận lôi đình sẽ giáng xuống đầu họ. Điền Tích Cương khinh khinh nhìn Vệ Thành Công, hừ mũi một tiếng.

Ngụy Huệ Hầu vô cùng hài lòng trước phản ứng nhanh nhạy của Vệ Thành Công, ánh mắt lập tức chiếu tới: “Xin hỏi Vệ Công, Tần Công lòng dạ khó lường, phạm phải tội lớn trong thiên hạ, nên chăng cả thiên hạ cùng tru diệt?”

Vệ Thành Công còn chưa hết bàng hoàng, nghe thấy hỏi vậy, bèn lắp bắp: “Cơ Tốc không… không… phải…”

Ngụy Huệ Hầu mỉm cười, đổi giọng ôn hoà: “Vệ Công, rốt cuộc Vệ Công muốn nói gì?”

Vệ Thành Công càng thêm hoảng hốt: “Cơ Tốc… Phải… phải…”

Ánh mắt Ngụy Huệ Hầu vô cùng mãn nguyện, rời khỏi Vệ Thành Công, từ từ quét qua những người khác, không thấy ai có phản ứng gì, ánh mắt bèn dừng lại ở Chu thiên tử: “Tần Công không coi bệ hạ ra gì, làm trái luân thường, Vệ Công cho rằng Tần Công đã phạm phải tội lớn trong thiên hạ, tội này đáng trừng phạt, bệ hạ nghĩ sao?”

Chu Hiển Vương tâm trạng đang lúc rối bời, bị hỏi thình lình, lại càng hoang mang bối rối, đưa mắt nhìn sang hai bên trái phải: “Chuyện này…”

Ngụy Huệ Hầu nghiêm mặt, ánh mắt sắc lạnh như dao: “Tần Công sớm đã sinh lòng phản phúc, khiến thần, người phẫn nộ, Vệ Công cho rằng tội này nên trừng trị, bệ hạ nghĩ sao?”

Chu Hiển Vương càng hoảng hốt, trán rịn mồ hôi, kéo vạt áo lên lau liền vài cái, lắp bắp: “Ý… ý ái khanh… thế nào?”

Ngụy Huệ Hầu giọng càng nghiêm nghị, chúi người về trước, ánh mắt xoáy vào Hiển Vương: “Ngụy Anh đang hỏi bệ hạ kia mà!”

Từ khi đăng cơ tới nay, Chu Hiển Vương chưa từng bị bề tôi truy hỏi kiểu đấy bao giờ, trong lúc cấp bách, chỉ biết ngây người, lưỡi cứng đờ trong miệng, mãi hồi lâu mới lắp bắp được vài tiếng: “Nên… nên phạt!”

Nghe thấy vậy, Ngụy Huệ Hầu dường như cuối cùng cũng nhớ ra đạo làm tôi, chậm rãi rời khỏi chỗ, sửa lại vạt áo, bước tới trước mặt Chu thiên tử, khấu bái sát đất: “Bệ hạ thánh minh! Ngụy Anh nguyện dẫn cánh quân chính nghĩa, chọn ngày lành phạt Tần, chấn chỉnh thiên đạo, tấu xin bệ hạ ân chuẩn!”

Chu Hiển Vương lại nhìn hai bên trái phải, thấy chẳng ai nói gì, đành đáp: “Vậy… vậy… cứ làm theo lời ái khanh!”

Ngụy Huệ Hầu cất giọng sang sảng: “Ngụy Anh lĩnh chỉ!” Rồi đứng dậy, lại bước tới vị trí ngang hàng thiên tử, ngồi xuống, đảo mắt một vòng, chậm rãi nói: “Chư vị công hầu, Ngụy Anh nhận lệnh thiên tử khởi binh phạt tội, trừng trị giặc Tần, mong chư vị dốc sức trợ giúp, có sức góp sức, có của góp của. Số lượng cụ thể sẽ do thượng đại phu Trần Chẩn tính toán. Ngụy Anh không rườm lời nữa, mong chư vị sau buổi đại lễ hội minh, cứ theo hẹn ước, vận chuyển lương thực, điều động binh lính, cùng chung tay tru diệt giặc Tần thất đạo!”

Chư hầu đưa mắt nhìn nhau, không ai hưởng ứng, song cũng không ai dám ho he phản đối.

Ngụy Huệ Hầu thoắt cái đã lại vui cười hớn hở: “Đêm nay hoa đẹp trăng tròn, chư vị hãy vui say thoả thích! Thượng đại phu, cho gọi đội ca vũ vào hầu!”

Trần Chẩn đắc ý đáp: “Vi thần lĩnh chỉ!”

Trần Chẩn vẫy tay, nhạc lại nổi lên, vũ công lướt vào, múa điệu “Đại Vũ” do chính Chu Công soạn ngay sau khi Vũ Vương phạt Trụ khải hoàn. Điệu múa ca ngợi sự nghiệp phạt Trụ kỳ vĩ của Vũ Vương, phàm trong nghi lễ triều bái thiên tử, đều được biểu diễn. Đây là tiết mục thường lệ, vốn không có gì đáng nói. Song vào hôm nay, lại có chút bất thường. Đó là binh lính Đại Chu cầm giáo mác trong điệu vũ lại vận trang phục màu xanh của võ binh Đại Ngụy, còn binh lính phía Thương Trụ Vương lại mặc trang phục của Tần, rõ ràng, Ngụy Huệ Hầu kiếm cớ phạt Tần là có âm mưu từ trước.

Thiên tử ban yến đột nhiên biến thành tuyên thệ phạt Tần, đây là việc không ai ngờ tới. Tuy rằng chiến hoả còn chưa lan tới, song bá khí của Ngụy Huệ Hầu đã khiến đám công hầu trong lòng bất mãn. “Đại Vũ” vốn gồm sáu khúc, vừa mới múa tới khúc thứ hai, Điền Tích Cương đã kéo Hùng Hoè rời khỏi yến tiệc trước tiên. Chư hầu khác nhìn thấy, cũng lần lượt cáo từ. Ngụy Huệ Hầu dường như sớm đã lường trước kết cục này, vô cùng khách khí ra tận cổng tiễn chư hầu, sau đó mới quay trở về hành dinh.

***

Công Tôn Diễn sau khi rời khỏi hành dinh, ba chân bốn cẳng chạy về trại tướng quốc, thuật lại chi tiết sự việc xảy ra trong yến tiệc với Bạch Khuê. Bạch Khuê vừa nghe vừa chau mày, lớn giọng kêu lên: “Đúng là hồ đồ! Chúa thượng đã tự mình hại mình rồi!”

Công Tôn Diễn vội hỏi: “Chúa công, lúc này còn cứu vãn được chăng?”

Bạch Khuê trầm ngâm hồi lâu, rồi lắc đầu than thở: “Lão hủ sớm đã lường trước sự việc sẽ tới nước này. Ba tháng trước, nghe Trần Chẩn đề ra chuyện triều kiến thiên tử ở Mạnh Tân, trong lòng ta đã thấy hoài nghi. Nào ngờ chúa thượng không những nhất nhất nghe theo mà còn quyết tâm thực hiện. Than ôi, mấy năm nay, từ lúc Trần Chẩn làm thượng đại phu, chúa thượng ngày càng nhiều mơ mộng hão huyền!”

“Người này có dụng tâm khác, chúa công nên chú ý đề phòng! Công Tôn Diễn nghe nói hắn đang rình rập vị trí của chúa công!”

Bạch Khuê cười khẩy: “Hừm, hắn muốn làm tướng quốc ư, hãy còn sớm! Đi, lão hủ muốn tới bái kiến chúa thượng!”

Trong hành dinh nước Ngụy, tỳ nhân, hoạn quan nội thị thân tín của Ngụy Huệ Hầu, giúp Huệ Hầu cởi áo cừu, vừa đỡ ông ta ngồi xuống ghế thì thượng đại phu Trần Chẩn, thượng tướng quân công tử Ngang bước vào, khấu bái sát đất.

Ngụy Hầu vẻ rất phấn khởi, đích thân đỡ hai người dậy: “Trần ái khanh, Ngang Nhi, mau đứng dậy! Quả nhân đang định cho gọi hai người!”

Hai người ngồi xuống, Trần Chẩn tâu rằng: “Vừa rồi chúa thượng khí thế như cầu vồng, uy chấn chư hầu! Chu Vương thì ngược lại, khúm na khúm núm, run rẩy sợ sệt, chẳng có lấy một chút phong độ của bậc thiên tử!”

“Than ôi!” Ngụy Huệ Hầu cố ý thở dài. “Quả nhân chẳng qua cũng chỉ là tên đã lên cung, không thể không bắn!”

“Chúa thượng, theo ý vi thần, vương khí của Đại Chu dường như đã tận rồi!”

Ngụy Huệ Hầu trầm ngâm một thoáng: “Ái khanh chớ nên nói bừa. Việc phạt Tần, chư hầu có ý kiến gì không?”

“Người Tần phạm thiên uy, chư hầu đều nói nên phạt.”

Ngụy Huệ Hầu khẽ nhếch mép cười nhạt: “Hừm, bọn chúng nào muốn phạt, chẳng qua chỉ là muốn đục nước béo cò mà thôi! Không giấu ái khanh, trong triều hội Mạnh Tân, quả nhân chỉ muốn tìm lý do để thảo phạt Tần Công, đồng thời lập nên phép tắc cho thiên hạ. Nào ngờ, còn chưa tìm lý do, Tần Công đã tự dẫn xác đến nộp.”

“Chúa thượng thánh minh! Nước Tần ngày một cường thịnh, đã trở thành mối họa tâm phúc. Hôm nay trời ban cơ hội, chúa thượng quyết đoán chóng vánh, không phải bậc minh chủ của thiên hạ thì không thể làm được như vậy!”

Ngụy Huệ Hầu gật đầu: “Đúng vậy, ái khanh nói rất phải! Tần Công dùng biến pháp của Công Tôn Ưởng, thi hành pháp luật hà khắc, nghe nói dân chúng oán hận, bách tính lầm than, quả nhân dù có bỏ qua, trời cao cũng không dung thứ!” Rồi khẽ ngoảnh đầu sang phía công tử Ngang: “Ngang nhi, nếu cho con dẫn quân thảo phạt, liệu con nắm mấy phần thắng?”

Công tử Ngang bước lên một bước: “Khởi tấu quân phụ, nhi thần chỉ cần năm vạn tinh binh, đảm bảo sẽ đạp tan cổng thành Hàm Dương, buộc Doanh Cừ Lương, Công Tôn Ưởng phải quỳ gối nhận tội!”

Ngụy Huệ Hầu hài lòng nhìn công tử Ngang: “Được lắm, không hổ danh là con trai của quả nhân!”

Tỳ nhân bước vào: “Bẩm chúa thượng, có tướng quốc cầu kiến!”

“Cho vào!”

Công Tôn Diễn bị đám lính chặn lại, đành đứng bên ngoài cửa hành dinh. Một mình Bạch Khuê vào trong trại, quỳ xuống khấu đầu: “Vi thần khấu kiến Chúa Thượng.”

Ngụy Huệ Hầu nhìn Bạch Khuê, ân cần hỏi: “Lão ái khanh! Đêm hôm khuya khoắt, khanh còn chưa nghỉ, có việc gì mà vội vàng làm vậy?”

Bạch Khuê lại khấu bái: “Vi thần nghe nói chúa thượng muốn phạt Tần, e rằng không thể!”

Ngụy Huệ Hầu kinh ngạc hỏi: “Vì sao không thể?”

“Bẩm chúa thượng, nước Tần hôm nay đã không còn là nước Tần hôm qua. Công Tôn Ưởng biến pháp mười năm, nước Tần giờ lương thực đầy kho, binh lính hùng hậu, từ lâu đã không thể xem thường. Nếu chúa thượng nhất quyết phạt Tần, ắt sẽ dẫn đến cục diện lưỡng bại câu thương!”

Công tử Ngang hừ mũi một tiếng, cắt lời Bạch Khuê: “Cái gì mà lưỡng bại câu thương? Lão tướng quốc, hãy thử tính xem, trong sáu mươi năm qua, Tần và Ngụy đã trải qua cả thảy ba mươi trận chiến lớn nhỏ, người Tần đã thắng được mấy lần? Bảy trăm dặm Hà Tây vốn là của Tần, sáu mươi năm qua, người Tần đã trụ nổi một bước ở đó chưa?”

Bạch Khuê không đếm xỉa tới công tử Ngang: “Tâu chúa thượng, xin hãy nghe lão thần một câu, chuyện phạt Tần lần này, tuyệt đối không nên!”

Ngụy Huệ Hầu hơi chau mày: “Thế theo lão ái khanh, chuyện nào mới nên?”

“Bẩm chúa thượng, nghiệp bá vương, trước hết ở gốc rễ. Gốc rễ của một nước, cai trị nhờ vào nhân tài, chính sự nhờ vào nông thương, chứ không phải ở binh lính tinh nhuệ. Ngày xưa Văn Chiêu Hầu chiêu hiền nạp sĩ, cầu từ gốc rễ, mới có thể khiến Đại Ngụy hùng bá vài chục năm ở Trung Nguyên. Thời gian biến cải, nay đã khác xưa. Nước Tề bắt đầu từ thời Tề Uy Vương Điền Nhân Tề, nỗ lực đồ trị, mau chóng lớn mạnh. Nước Tần bắt đầu từ thời Doanh Cừ Lương, biến pháp cải chế, ngày một đổi khác, chúa thượng không thể xem thường mà khinh suất!”

Ngụy Huệ Hầu thoáng giận dữ: “Có phải khanh đang muốn nói với quả nhân, quả nhân đã không bằng Tề Công, cũng không bằng Tần Công?”

Bạch Khuê dập đầu lia lịa: “Lão thần không có ý đó.”

Ngụy Huệ Hầu hừ mũi một tiếng, thủng thẳng nói: “Xem ra, lão ái khanh đã già thật rồi!”

Bạch Khuê mắt ngấn lệ: “Chúa thượng!”

Ngụy Huệ Hầu trách cứ: “Lão tướng quốc, không phải quả nhân trách mắng gì khanh. Về mặt trị quốc, trị dân, khanh đều là nhân tài, song lại không nhìn ra đại thế của thiên hạ, nói gì tới lo toan quốc sự? Xem ra, ở Mạnh Tân này, chẳng còn việc gì cho khanh làm nữa. Khanh nên tới Đại Lương tu bổ kênh lớn thì hơn. Kênh lớn có hoàn thành đúng kỳ hạn hay không, vừa liên quan tới nông, cũng liên quan tới thương, chính là ‘cầu từ gốc rễ’ mà khanh vừa nói!”

Bạch Khuê nước mắt giàn giụa, nghẹn ngào: “Chúa thượng!”

Ngụy Huệ Hầu bực bội phẩy tay: “Đi đi! Giờ Thìn ngày mai, lập tức lên đường!”

Bạch Khuê lại dập đầu, giọng trầm nặng: “Lão thần cáo lui!” Rồi nặng nề lê bước ra ngoài.

Nhìn theo bóng dáng run rẩy của Bạch Khuê khuất dần ngoài cửa hành dinh, Ngụy Huệ Hầu hừ mũi một tiếng, quay sang Trần Chẩn, công tử Ngang: “Đúng là kiến giải hủ lậu! Gốc rễ, gốc rễ? Gốc rễ là gì? Đánh đâu thắng đó, công đâu hạ đó mới là gốc rễ. Nếu không có mưu sách công phạt của Ngô Khởi(5), Nhạc Dương(6). Nếu không có võ binh, kỵ binh thiết giáp oai hùng, tiên quân sao có thể uy phục liệt quốc? Đại Ngụy sao có thể hùng bá tới ngày nay? Ngụy Ngang nghe lệnh!”

Công tử Ngang lập tức đứng bật dậy: “Có nhi thần!”

“Phong Ngụy Ngang làm Tây chinh đại tướng quân, Long Giả làm phó tướng, Ngụy Thân làm giám quân, dẫn theo mười hai vạn võ binh, năm trăm chiến xa, năm nghìn kỵ binh thiết giáp, chọn ngày tốt rời Hà Tây, thảo phạt Hàm Dương!”

“Nhi thần tuân lệnh!”

Ngụy Huệ Hầu quay sang Trần Chẩn: “Trần ái khanh!”

Trần Chẩn đứng dậy đáp: “Có vi thần!”

“Phía liệt quốc, khanh sắp xếp đến đâu rồi?”

“Hồi bẩm chúa thượng, theo vi thần thấy, hai nước Hàn, Triệu, có thể điều động mỗi nước hai vạn binh mã. Còn các nước khác, tuỳ vào tài lực cụ thể, chia nhau đảm đương việc cung ứng lương thực quân nhu cho đại quân.”

“Tốt!” Huệ Hầu gật đầu. “Liệt quốc tốt nhất chỉ nên tham gia, không được ỷ lại vào họ. Khanh hãy thông báo cho Triệu Hầu và Hàn Hầu, vào ngày Tần đầu hàng, phàm là đất đai Triệu, Hàn giành được, đều sẽ thuộc về họ! Hàn, Triệu chỉ cần xuất binh, quả nhân tuyệt đối không để họ uổng công!”

“Vi thần lĩnh chỉ! Chúa thượng thưởng phạt phân minh, thực may mắn cho thiên hạ!”

“Sắp xếp cẩn thận, thăm dò kỹ lưỡng động thái của quân thần nước Tần!”

“Vi thần tuân chỉ!”

***

Trong một thung lũng núi non trập trùng bao bọc nằm giữa dãy Chung Nam kéo dài tám trăm dặm, tọa lạc một dãy doanh trại. Đối diện với cửa doanh trại là một bãi tập rộng lớn. Đại lương tạo Công Tôn Ưởng đứng trên đài quan binh, đang chăm chú theo dõi một buổi diễn tập đặc biệt.

Thấy Hiếu Công nhất quyết không chịu tới tham gia triều hội Mạnh Tân, việc đầu tiên của Công Tôn Ưởng chính là tuần sát ba quân. Tới lúc này, Công Tôn Ưởng biến pháp đã hơn mười năm. Những năm trước chú trọng đến nước giàu, hai năm gần đây bắt đầu chú trọng tới binh mạnh, đặc biệt chọn ra năm vạn tráng đinh, lập nên một đội quân mới, phân tán trong vùng rừng sâu núi thẳm này, bí mật huấn luyện dựa theo “tân pháp cường quân” do đích thân ông biên soạn.

Trên bãi tập, một binh sĩ thân không manh giáp đang thoăn thoắt nhảy trái né phải, một tay cầm khiên, một tay cầm món vũ khí sắc nhọn có thể đâm thủng da bò mà tộc Nhung Địch phía tây thường sử dụng, đang diễn tập đánh giáp lá cà với đám binh sĩ giáp trụ cồng kềnh. Chỉ một lát sau, đám giáp sĩ đã thở hồng hộc, để lộ rất nhiều sơ hở, “thương tích” đầy mình. Trong khi binh sĩ người không manh giáp lại chẳng mảy may xây xước.

Công Tôn Ưởng xem đến ngây người, rồi hỏi lớn: “Đây gọi là chiêu pháp gì?”

Thiên phu trưởng(7) đứng cạnh ông trả lời: “Bẩm đại lương tạo, đây gọi là ‘quăng giáp bỏ trụ’, chuyên dùng để ứng phó với võ binh nước Ngụy!”

Công Tôn Ưởng gật gù: “Tốt lắm, không giáp đánh có giáp, quả là mới mẻ. Thiên phu trưởng thử nói xem, nguyên lý của nó ở đâu?”

“Võ binh nước Ngụy được trang bị tận răng, phòng bị quá dư thừa, sẽ mất đi linh hoạt. Mạt tướng đã tính kỹ càng trọng lượng mà một võ binh Đại Ngụy mang trên người, cộng tất cả cân nặng của áo giáp, khiên mâu, đao kiếm, ít nhất cũng phải trên dưới bốn mươi cân(8). Sức nặng bốn mươi cân, lại thêm áo giáp cồng kềnh bó chặt lấy mình, đã bất lợi cho bôn tập đường trường, lại bất lợi cho giao chiến vùng núi. Nếu chúng ta cởi bỏ mũ trụ, áo giáp, trang bị gọn nhẹ xung trận, lựa chọn địa hình rừng núi chơi trò ‘mèo vờn chuột’ với lính Đại Ngụy, chắc chắn sẽ có cơ thủ thắng!”

“Tốt, cách này rất hay! Thiên phu trưởng còn có pháp bảo nào khác không?”

Thiên phu trưởng bèn vỗ tay thật lớn. Ngay lập tức, một binh sĩ toàn thân giáp trụ chạy lên bãi tập, một tay cầm khiên, một tay cầm cây chùy gỗ lớn cỡ đầu người. Binh sĩ di chuyển nhanh nhẹn, giơ khiên che chắn. Chùy gỗ gõ vào khiên, phát ra những tiếng ‘boong boong’ vang trầm.

Công Tôn Ưởng nhìn một hồi, vẫn mơ hồ không hiểu, quay sang hỏi thiên phu trưởng: “Có diệu quyết gì trong đó?”

“Hồi đại lương tạo, đây gọi là lính chùy, mạt tướng chuyên dùng để ứng phó với kỵ binh thiết giáp của Ngụy.”

Công Tôn Ưởng sửng sốt: “Ồ, ứng phó thế nào?”

“Kỵ binh thiết giáp của Ngụy toàn thân mang áo giáp dày, vũ khí bình thường không thể gây tổn thương tới chúng. Mạt tướng đã thử cách này, chỉ cần nện trúng đầu ngựa, nhẹ thì khiến ngựa hoa mắt chóng mặt mà phát điên, nặng thì khiến ngựa chết lăn tại chỗ. Mất ngựa chiến, kỵ binh Ngụy chỉ còn nước giơ đầu chịu báng!”

Công Tôn Ưởng trầm ngâm hồi lâu, rồi liên tiếp gật gù: “Tuyệt lắm! Này chàng trai, ngươi tên gì?”

“Tư Mã Thác!”

“Tư Mã Thác, bắt đầu từ hôm nay, ngươi không còn là thiên phu trưởng nữa, mà là tả thứ trưởng!”

Tả thứ trưởng là chức vị do Tần Hiếu Công đích thân sắp đặt từ khi Công Tôn Ưởng bắt đầu biến pháp. Từ cấp thiên phu trưởng nhảy vọt lên tả thứ trưởng, tăng liền bốn cấp, khiến Tư Mã Thác kinh ngạc đến trố mắt, đứng sững hồi lâu mới kịp phản ứng, quỳ xuống bái lạy: “Mạt tướng tạ ơn sự cất nhắc của đại lương tạo!”

“Tả thứ trưởng đại nhân, trước hết ta giao cho ngươi hai vạn bộ binh, để ngươi đích thân huấn luyện. Có điều, cũng không thể hoàn toàn ‘quăng giáp bỏ trụ’. Ngươi hãy triệu tập thợ mộc, chế tạo ra loại áo giáp gọn nhẹ. Hãy nhớ, trên chiến trường, binh sĩ của chúng ta còn sống một người thì xác của kẻ thù sẽ tăng thêm một người!”

Tư Mã Thác dõng dạc đáp: “Mạt tướng tuân lệnh!”

“Còn nữa, loại đao của tộc Nhung không nên cứ thế mà dùng, cần phải cải tiến, để có thể đâm một nhát xuyên thấu cơ thể võ binh Đại Ngụy. Tư Mã Thác, đối thủ của ngươi chỉ có một, chính là võ binh và kỵ binh của Đại Ngụy!”

Tư Mã Thác đáp: “Mạt tướng tuân lệnh!”

“Nghe nói gần đây có một dòng suối tên gọi Hàn Tuyền, ngươi biết ở đâu không?”

Tư Mã Thác chỉ tay về một đỉnh núi ở phía nam: “Vượt qua đỉnh núi kia sẽ tới.”

“Đi! Đưa ta tới đó!”

Tư Mã Thác lập tức chọn ra vài tên lính thân tín, thay thường phục, đưa Công Tôn Ưởng tới suối Hàn Tuyền. Hai canh giờ sau, họ đã trèo qua đỉnh núi, lọt vào trong một khe núi thâm u.

Quả nhiên là một nơi tuyệt diệu! Núi biếc trùng điệp, chim hót hoa thơm, vài nếp nhà cỏ thấp thoáng dưới bóng tùng bách xanh rợp, thật thư thái lòng người. Bên cạnh nhà cỏ có vài cây cổ thụ, tuy chỉ tầm một vòng ôm, song nghe nói đã vài trăm năm tuổi.

Tư Mã Thác chỉ vào mấy gian nhà cỏ trong thung lũng phía xa, nói: “Dòng suối Hàn Tuyền chảy qua phía trước gian nhà cỏ. Nghe nói trong nhà cỏ có một ông lão kỳ lạ sinh sống, là ẩn sĩ, tên gọi Hàn Tuyền Tử!”

Công Tôn Ưởng gật đầu nói: “Biết rồi, các ngươi hãy đợi ở đây!”

Nói đoạn, Công Tôn Ưởng sải bước tiến về phía mấy gian nhà cỏ. Khi ông bước tới gần một gốc cổ thụ, từ trong nhà cỏ bước ra một một ông lão râu trắng phơ phơ. Công Tôn Ưởng tiến lên một bước, vái dài mà nói: “Xin hỏi lão trượng, nơi này phải chăng có dòng Hàn Tuyền mà dân gian vẫn thường nhắc tới?”

Ông lão râu trắng cũng vái đáp lễ, rồi chỉ về một phía, nói: “Xin khách nhân hãy xem!”

Công Tôn Ưởng nhìn theo hướng chỉ, cách khoảng trăm bước, thấy một vạt nước suối trong vắt đang ào ào tuôn chảy.

“Xin hỏi lão trượng, cớ sao lại gọi Hàn Tuyền?”

Ông lão mỉm cười, chỉ vào dòng suối mà nói: “Suối này mùa hè vẫn lạnh như băng nên mới gọi Hàn Tuyền. Thường uống nước suối này, có thể trừ bách bệnh, thọ tới ngàn năm.”

Công Tôn Ưởng cười nói: “Thảo nào lão trượng lại dựng nhà ở đây!”

Ông lão râu trắng khẽ lắc đầu: “Dựng nhà ở đây là Quan Doãn Tử, không phải lão hủ!”

“Quan Doãn Tử?” Công Tôn Ưởng vô cùng kinh ngạc. “Là người đã giữ Lão Đam tại Hàm Cốc để viết ra năm nghìn câu ‘Đạo đức’(9) đấy chăng?”

Ông lão khẽ gật đầu: “Đúng vậy! Sau khi Lão Đam cưỡi trâu xanh rời khỏi Quan Tây ba ngày, Quan Doãn Tử đột nhiên đốn ngộ mọi việc thế gian, bèn treo ấn, ruổi ngựa đuổi về tây. Tiếc là lúc đó trời đã tối mịt, không còn nhìn thấy bóng dáng Lão Đam đâu nữa. Quan Doãn Tử vô cùng hối hận, đã tìm kiếm khắp núi Chung Nam suốt nhiều năm trời, vẫn không thể tìm thấy Lão Tử. Quan Doãn Tử biết Lão Tử không muốn gặp mình, thở than không ngớt, rồi dựng nhà cỏ ở đây trú lại.”

“Nghe lão trượng nói vậy, phải chăng lão trượng là đệ tử cao tài của Quan Doãn Tử?”

Ông lão râu trắng gật đầu nói: “Cuối đời Quan Doãn Tử nhận hai đồ đệ, một là lão hủ đây, và một là sư huynh Vương Hủ. Ân sư quy tiên đã ba năm, sư huynh xuất sơn chơi tiên, chọn Quỷ Cốc ở núi Vân Mộng làm nơi cư ngụ, tự xưng là Quỷ Cốc Tử. Lão hủ không nỡ rời xa nếp nhà cỏ của tiên sư, nên lưu lại đây, được chư tiên hữu gọi là Hàn Tuyền Tử!”

Công Tôn Ưởng liền phủ phục xuống đất khấu đầu: “Hàn Tuyền Tử tiền bối, xin nhận của vãn sinh một lạy!”

Hàn Tuyền Tử vội đỡ ông dậy: “Khách nhân là bậc tôn quý, lão hủ sao dám nhận?”

Công Tôn Ưởng đứng dậy, trong lòng thoáng ngạc nhiên, thuận miệng hỏi luôn: “Vãn sinh chẳng qua chỉ là một thư sinh quèn, tiền bối dựa vào đâu mà nói là tôn quý?”

Hàn Tuyền Tử mỉm cười nói: “Nhìn khách nhân thiên đình đầy đặn, phong thái phi phàm, tuyệt không phải hạng tầm thường! Chỉ là có khí đen tích tụ ở ấn đường, hẳn trong lòng có tâm sự lớn!”

Công Tôn Ưởng kinh ngạc: “Tâm sự của vãn sinh quả không giấu nổi tuệ nhãn của tiền bối. Có điều…”

“Khách nhân theo lão hủ tới thảo đường trò chuyện được chăng?”

Công Tôn Ưởng đi theo Hàn Tuyền Tử bước vào gian nhà cỏ, nhìn thấy mấy người dáng chừng là đệ tử ngồi trên chiếu, đều đang trầm tư tĩnh tọa. Hàn Tuyền Tử dẫn ông đi qua hai gian nhà, bước vào hậu đường, hai người phân ngôi chủ khách ngồi xuống. Một đệ tử trẻ tuổi bước vào, rót trà xong bèn lui ra.

Công Tôn Ưởng sau khi xưng rõ thân phận, liền kể lại một lượt chuyện triều hội Mạnh Tân cho Hàn Tuyền Tử nghe, rồi nói:

“Ngụy Hầu mở triều hội Mạnh Tân, dụng ý là nhằm vào Tần. Vãn sinh gắng thuyết phục chúa thượng tới dự hội, song chúa thượng không nghe. Nếu đúng như dự đoán của vãn sinh, Ngụy Hầu tất sẽ thảo phạt ta trong vài ngày tới. Trước mắt, thực lực của ta tuy có thể chống cự, song muốn thắng lợi, e rằng rất khó. Nếu kết cục quả là như vậy, khác nào ngọc đá đều tan, với nước Tần là mất đi cơ hội đánh bại nước Ngụy, giành lại Hà Tây, với dân chúng là một trường kiếp nạn, bởi trận chiến xảy ra trên đất Tần. Mấy ngày qua, vãn sinh vì chuyện này mà lo lắng không yên, nghe nói nước suối nơi đây có thể giúp tỉnh táo tinh thần, vãn sinh mộ danh mà tới, nào ngờ may mắn gặp được tiền bối ở đây!”

Công Tôn Ưởng nói liền một mạch, Hàn Tuyền Tử trước sau luôn giữ nụ cười trên môi, thần sắc như nghe mà không giống nghe. Công Tôn Ưởng chợt nhận ra mình đã quá nhiều lời, vội dừng lại: “Vãn sinh bất tài, thỉnh cầu tiền bối chỉ giáo”

Hàn Tuyền Tử vẫn giữ nguyên nét cười trên mặt, quay ra ngoài gọi lớn: “Xá Nhân!”

Người đệ tử trẻ tuổi vừa rót trà khi nãy nghe gọi, vội vã bước vào, cúi gập người hướng về Hàn Tuyền Tử.

“Ngươi hãy đi hứng một chậu nước suối về đây, để giúp khách nhân tỉnh táo tinh thần!”

Xá Nhân cất bước đi ngay, một lát sau đã bưng một chậu sứ quay về, bên trong đựng lưng lửng nước suối.

Hàn Tuyền Tử chỉ vào chậu nước nói: “Đại lương tạo, hãy giúp tinh thần tỉnh táo!”

Công Tôn Ưởng ngẩn ra một thoáng, song lời đã nói ra, cũng không tiện phân trần gì thêm, bèn miễn cưỡng tiến lại, nhúng bàn tay vào chậu nước. Tay vừa chạm vào nước, quả nhiên cảm thấy một làn hơi mát lạnh thấu tận tâm can. Công Tôn Ưởng hít vào một hơi thật sâu, vốc nước vã lên đầu, xoa lên mặt, lớn tiếng xuýt xoa: “Sảng khoái! Thật sảng khoái!”

Hàn Tuyền Tử mỉm cười hỏi: “Đại lương tạo tinh thần đã tỉnh táo chưa?”

Công Tôn Ưởng cảm thấy lời nói của Hàn Tuyền Tử dường như mang ẩn ý sâu xa, suy nghĩ một lát, hỏi khẽ: “Tinh thần tỉnh táo hay không, dựa vào đâu mà biết?”

“Nếu tinh thần đã tỉnh táo, đại lương tạo tất có thể nhớ lại năm nghìn câu ‘Đạo đức’ của Lão Đam.”

Công Tôn Ưởng ngẫm nghĩ một lát, không hiểu được ý tứ, bèn ngẩng lên hỏi: “Năm nghìn câu ‘Đạo đức’, vãn sinh đã khắc cốt ghi tâm, dù không uống nước suối này, cũng có thể thuộc làu.”

Hàn Tuyền Tử vẫn mỉm cười: “Xin đại lương tạo đọc đoạn thứ ba mươi sáu!”

Công Tôn Ưởng lập tức đọc luôn: “Muốn cho buông chùng, phải giương cho căng. Muốn cho suy yếu, phải giúp mạnh thêm. Muốn cho phế bỏ, phải giúp hưng vượng. Muốn cướp đoạt lấy, hãy ban cho trước. Thế gọi là…”

Chữ “hiểu rõ” còn chưa phát ra khỏi miệng, Công Tôn Ưởng như thể bổ đề quán đỉnh, nhất thời đại ngộ, lập tức dập đầu khấu bái: “Vãn sinh tạ ơn tiền bối chỉ giáo!”

Hàn Tuyền Tử không đáp, đưa tay chỉ vào chén trà đặt trên bàn đá, cười nói: “Đại lương tạo, mời dùng trà!”

Hai người ngồi thưởng trà một lát, Công Tôn Ưởng còn bận việc, không dám nấn ná lâu, bèn cáo từ xuống núi. Vừa tới doanh trại, quả nhiên đã thấy có ngựa khoẻ chờ sẵn, nói là Tần Công triệu ông trở về Hàm Dương lập tức.

Đường núi rất khó đi, mặc dù Công Tôn Ưởng đi miết không nghỉ, nhưng mãi tới chập tối ngày hôm sau mới tới Hàm Dương. Đến trước cửa cung, Công Tôn Ưởng nhảy xuống ngựa, sải bước chạy phăm phăm lên bậc thềm. Nội thần đứng hầu bên cửa cung lập tức nghênh đón: “Đại lương tạo, mau lên, chúa thượng đợi ông trong cung Di Tình lâu lắm rồi!”

Công Tôn Ưởng khẽ gật đầu, rảo bước theo nội thần vào trong. Hai người tới cung Di Tình, nội thần vào trong bẩm báo: “Bẩm chúa thượng, đại lương tạo cầu kiến!”

Tần Hiếu Công vội nói: “Mau cho vào!”

Công Tôn Ưởng bước vào, quỳ xuống khấu bái: “Vi thần Công Tôn Ưởng khấu kiến chúa thượng!”

“Ái khanh miễn lễ!”

“Tạ ơn chúa thượng!”

Công Tôn Ưởng đứng dậy, chậm rãi tiến lại vị trí của mình, ngồi xuống, đưa mắt nhìn quanh, thấy đám đại quan như thái tử Doanh Tứ, thái phó Doanh Kiền, thượng đại phu Cảnh Giám, quốc uý Xa Anh ai nấy đều ngồi ngay ngắn, sắc mặt trầm trọng. Xem ra, họ đã chờ đợi rất lâu.

Tần Hiếu Công không ngẩng lên, nói với Công Tôn Ưởng: “Quả đúng như dự đoán của ái khanh, Ngụy Hầu đã viện cớ quả nhân không tới triều hội Mạnh Tân, chuẩn bị khởi đại binh!” Không đợi Công Tôn Ưởng tiếp lời, lại quay sang Cảnh Giám. “Cảnh ái khanh, hãy mau nói rõ tình thế!”

Thượng đại phu Cảnh Giám tiếp lời: “Theo vi thần dò la biết được, Ngụy Hầu chia quân ba lộ, trung lộ gồm mười hai vạn võ binh Đại Ngụy, năm trăm cỗ chiến xa, năm nghìn kỵ binh thiết giáp, chủ tướng là công tử Ngang, phó tướng là Long Giả. Bảy vạn võ binh của công tử Ngang xuất phát từ Hàm Cốc: năm vạn võ binh và năm nghìn kỵ binh thiết giáp của Long Giả xuất phát từ Hà Tây. Tả lộ là hai vạn quân Hàn, xuất phát từ Lạc Dương, chủ tướng là Nghi Dương lệnh Đường Thu; hữu lộ là hai vạn quân Triệu, xuất phát từ Tấn Dương, chủ tướng là Tấn Dương lệnh Triệu Báo.”

Chưa tính quân Hàn, Triệu, chỉ riêng mười hai vạn võ binh Đại Ngụy đã đủ khiến người ta nghe tin mà xanh mặt. Những người có mặt không ai thốt được câu nào, bầu không khí vô cùng trầm trọng.

Tần Hiếu Công chậm rãi ngẩng lên: “Chư vị ái khanh, các khanh có kế sách nào đẩy lui quân địch chăng?”

Doanh Kiền nện nắm đấm đánh “thình” xuống bàn, giận dữ rít lên: “Quân chó Ngụy, mối nhục Hà Tây còn chưa rửa được, hôm nay lại bức bách đến tận cửa, chẳng phải coi người Tần ta là phường vô dụng ư?”

Doanh Tứ lại càng căm phẫn sục sôi, đứng phắt dậy: “Công phụ, nhi thần bất tài, xin dẫn một vạn tử sĩ đi trước quyết chiến với địch!”

Tần Hiếu Công lừ mắt nhìn Doanh Tứ, Doanh Tứ thở phì phì ngồi phịch xuống.

Tần Hiếu Công từ từ di chuyển ánh mắt sang quốc uý: “Xa tướng quân thấy thế nào?”

Xa Anh vòng tay tâu: “Nước tới đất chặn, binh tới tướng đỡ. Ngụy Hầu tuy khởi ba lộ đại quân, song hai nước Hàn, Triệu chưa chắc đã thật lòng xuất binh, chúng ta chỉ cần ứng phó với trung lộ, hẳn có cơ hội thắng lợi!”

Hiếu Công khẽ gật đầu: “Được, nói tiếp đi!”

“Võ binh Đại Ngụy trang bị ưu việt, khí thế dũng mãnh, giỏi dã chiến, giao chiến trực diện sẽ bất lợi với ta. Song người Ngụy đi xa khỏi biên giới, lương thảo cung ứng khó khăn. Ngược lại chúng ta kho lẫm dồi dào, ý chí sục sôi, chỉ cần kiên trì giữ thành, không tới ba năm, có thể khiến người Ngụy suy kiệt!”

Hiếu Công nhìn sang Cảnh Giám: “Ý Cảnh ái khanh thế nào?”

Cảnh Giám đáp: “Vi thần tán thành biện pháp của Xa tướng quân. Chỉ còn cách cố thủ các thành. Lính dã chiến của ta không đủ tám vạn, hơn nữa về kinh nghiệm và trang bị, đều thua xa võ binh Đại Ngụy, do vậy không thể liều lĩnh giao chiến. Trước mắt địch mạnh ta yếu, nếu ta dùng kế vườn không nhà trống, cố thủ thành trì, vờn nhau với địch, có lẽ sẽ đẩy lui được quân Ngụy!”

Sắc mặt Hiếu Công hơi giãn ra chút ít, đôi mắt mở tròn, đằng hắng thật mạnh, cất giọng uy nghiêm: “Chư vị ái khanh, quả nhân dốc sức lo toan việc nước đã mười năm, là vì cái gì? Vì một điều duy nhất: rửa mối nhục Hà Tây! Sáu mươi năm trước, người Ngụy chiếm đoạt Hà Tây của ta, bắt bớ thần dân của ta, ức hiếp ta tới tận ngày nay! Sáu mươi năm là thế nào? Là một vòng Giáp Tý! Là một luân hồi! Sáu mươi năm đã là quá đủ, quả nhân thực sự không thể nhẫn nhịn thêm được nữa!”

Bốn người Doanh Kiền, Doanh Tứ, Xa Anh, Cảnh Giám đều đồng thanh nói: “Chúa thượng, chúng thần thề chết chiến đấu với quân Ngụy, thu phục Hà Tây!”

Tần Hiếu Công phẩy tay: “Chư vị ái khanh, quả nhân quyết định, dốc toàn lực nước Tần, quyết chiến với Ngụy một phen!”

Hơn chục năm qua, đây có lẽ là lần đầu tiên Tần Công đưa ra một quyết định dứt khoát và nhanh chóng đến vậy trước việc trọng đại. Trên đường từ núi Chung Nam trở về, kỳ thực Công Tôn Ưởng đã tính toán đến kế sách phòng ngự, song Tần Hiếu Công lại chưa hỏi ý kiến của ông, rõ ràng cho rằng thời cơ quyết chiến với Ngụy đã chín muồi. Mà đây cũng chính là mối lo âu của Công Tôn Ưởng. Đại địch trước mặt, quân chủ nôn nóng, ắt quốc thế lâm nguy.

Công Tôn Ưởng vốn từ đầu tới cuối chưa nói câu nào, lúc này hai mắt đang khép hờ bất chợt mở choàng, ngẩng đầu nhìn Tần Hiếu Công, khẽ gọi: “Chúa thượng!”

Hiếu Công dường như lúc này mới sực nhớ tới Công Tôn Ưởng, liền liếc nhìn sang, cất giọng kiên định: “Ái khanh bất tất phải nhiều lời! Lần trước quả nhân vì giận dữ nhất thời, không nghe lời ái khanh, đúng là đã phải hối hận. Song ái khanh cũng nên biết rằng, dù quả nhân có tới Mạnh Tân, Ngụy Hầu cũng không dễ dàng bỏ qua cho quả nhân. Thế Tần, Ngụy như nước với lửa, ngươi không chết thì ta phải chết, sớm muộn cũng phải quyết chiến một phen! Bảy trăm dặm Hà Tây vốn do tiên tổ Mục Công đích thân đao thương chinh phạt mà có được, sáu mươi năm trước lại bị quy về đất Ngụy, người Tần vẫn xem đây là quốc nhục. Quả nhân dốc sức vì nước đã mười năm, mục đích chính là rửa mối đại nhục này. Vào ngày đăng cơ, quả nhân đã thề rằng, Hà Tây chưa được thu hồi một ngày, thì quả nhân không nhắm mắt một ngày!” Rồi quay sang Xa Anh. “Xa tướng quân, bài bố thế nào, quả nhân giao cả cho khanh. Sức người, sức của cần bao nhiêu, quả nhân sẽ ban đầy đủ. Còn các vị ái khanh khác, thái phó phụ trách lương thảo, thượng đại phu phụ trách bang giao, thái tử phụ trách binh lính, đại lương tạo…”

Tần Hiếu Công chợt khựng lại, ngạc nhiên nhìn sững vào Công Tôn Ưởng. Công Tôn Ưởng chậm rãi đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi, đi thẳng tới trước mặt Tần Công, dập đầu sát đất, giọng nói tuy khẽ, song rất trầm trọng: “Đại lương tạo khẩn cầu chúa thượng thu hồi mệnh lệnh!”

Hiếu Công kinh ngạc: “Công Tôn ái khanh?”

Công Tôn Ưởng kiên quyết: “Chúa thượng, vi thần cho rằng, trước mắt chúng ta không thể quyết chiến với Ngụy!”

Thấy Công Tôn Ưởng ngăn cản quyết liệt, suốt bao năm qua chưa thấy ông thẳng thừng như vậy bao giờ, quần thần thảy đều sửng sốt.

Hiếu Công trầm ngâm một lát, chậm rãi hỏi: “Theo ý ái khanh, quả nhân nên làm thế nào?”

Công Tôn Ưởng nhấn mạnh từng chữ: “Cúi đầu cầu hoà!”

Công Tôn Ưởng vừa dứt lời, quần thần lập tức nhao nhao phản đối. Doanh Tứ hoả khí đùng đùng, cao giọng chất vấn: “Đại lương tạo, đứng trước cường địch, ông chưa đánh đã hàng là có ý gì?”

Doanh Tứ vừa dứt lời, Doanh Kiền bèn hừ mũi: “Hừm, có ý đồ gì đừng có hỏi hắn, đôi mắt già này sớm đã nhìn thấu tỏ! Hễ chuyện nào cần khua môi múa mép đấu đá mưu mẹo, kẻ này chẳng ai bì kịp. Song hễ bàn tới xông pha trận mạc, đao kiếm giao tranh, là hắn nhũn như chi chi!”

Cảnh Giám sắc mặt lộ vẻ bất bình, đang định lên tiếng thì Công Tôn Ưởng đã thủng thẳng cất lời: “Điện hạ và thái phó chớ vội tức giận, xin hãy nghe Ưởng giải thích!”

Doanh Kiền ngoảnh đầu sang hướng khác, lộ vẻ khinh thường: “Đồ hèn nhát, còn có lời gì để nói?”

Công Tôn Ưởng chẳng buồn để tâm, chỉ nhìn Hiếu Công: “Trước đây binh gia Tôn Vũ Tử có câu rằng, ‘người biết lúc nào nên chiến và lúc nào không nên chiến mới có thể chiến thắng’. Hai bên giao tranh, bên thủ cần giữ cho vững, bên công cần đánh cho mạnh!” Rồi chậm rãi nhìn sang Xa Anh: “Trong tình thế trước mắt, ngoài con sông Lạc Thuỷ chỗ nào cũng có thể băng qua, chúng ta hầu như không có địa hình hiểm trở nào để cố thủ. Xin hỏi Xa tướng quân, cố thủ trong suốt ba năm, liệu chúng ta nắm chắc được mấy phần?”

Việc này, dường như chưa có ai tính đến.

Xa Anh ngần ngừ: “Khoảng năm, sáu phần!”

Công Tôn Ưởng gặng hỏi: “Xa tướng quân, là năm phần hay sáu phần?”

Xa Anh ngẫm nghĩ một lát, ấp úng nói: “Năm phần!”

Công Tôn Ưởng lại nhìn sang Hiếu Công: “Chúa thượng, trước một trận chiến chỉ nắm chắc năm phần thắng, như vậy mà cũng có thể khai chiến ư?”

Nghe Công Tôn Ưởng hỏi vậy, Tần Hiếu Công cũng bắt đầu bình tĩnh lại, đôi mày chau tít, trầm ngâm suy nghĩ.

Công Tôn Ưởng tiếp tục nói: “Biết rõ không thể đánh, mà cứ khăng khăng đánh, là cái dũng của kẻ thất phu, là tự chuốc bại vong! Chúa thượng, đại trượng phu sống ở trên đời, biết cương biết nhu mới có thể trường tồn. Năm xưa Câu Tiễn nếm mật nằm gai, mới phục hưng cơ nghiệp…”

Doanh Kiền cười khẩy một tiếng: “Công Tôn Ưởng, ngươi chỉ nhớ được nếm mật nằm gai, song quên mất trước khi nếm mật nằm gai, Câu Tiễn đã quyết chiến một trận!”

Công Tôn Ưởng quay sang Doanh Kiền, mỉm cười, hỏi lại: “Lẽ nào thái phó thực sự cho rằng Ngụy Anh chỉ là hạng Phù Sai?”

Doanh Kiền cứng họng. Tần Hiếu Công càng chau tít đôi mày, một lát sau nói khẽ tới mức gần như không thành tiếng: “Chư vị ái khanh, chuyện đối phó với quân địch, để mai bàn tiếp!”

Đêm xuống, trong điện Dưỡng Tâm, tẩm cung của Hiếu Công, Hiếu Công không có vẻ gì muốn ngủ, nhăn trán nhíu mày, liên tục đi đi lại lại. Một lát sau, từ bên ngoài cửa vọng lại tiếng bước chân. Nội thần bước vào, quỳ xuống bẩm báo: “Muôn tâu chúa thượng, những thứ chúa thượng cần đều đã chuẩn bị xong!”

Nội thần vỗ tay, lập tức hai hoạn quan mỗi người bê theo một bó rơm và một cung nữ bưng khay đồng đựng túi mật theo nhau bước vào.

Nội thần đứng dậy, dẫn họ tới góc tường, chỉ vào khoảng nền gạch lạnh, nói: “Rải ở đây!”

Hai hoạn quan rải rơm xong, nội thần xem xét một hồi, đích thân treo túi mật lên.

Mọi việc xong xuôi, nội thần cho ba người lui ra, bẩm báo với Hiếu Công: “Muôn tâu chúa thượng, mọi thứ đã sắp xếp xong xuôi. Rơm này là rơm phương nam, túi mật này là mật của loài trâu nước đắng nhất phương nam, đến cả dây treo mật và vị trí treo mật cũng không sai một ly so với ghi chép trong sử nước Việt.”

Hiếu Công phẩy tay, nội thần bèn lui ra.

Hiếu Công thử nằm lên lớp rơm, hai mắt nhìn vào túi mật treo lủng lẳng trên đầu. Do dự một lát, ông từ từ kéo túi mật lại gần, để bên miệng, rồi nhắm mắt lại, thè lưỡi ra, đưa về phía túi mật.

Đầu lưỡi vừa chạm vào túi mật, Hiếu Công đã nhảy bật khỏi đống rơm, hét toáng lên: “Người đâu!”

Nội thần hối hả chạy vào.

Tần Công mặt nhăn như bị, luôn miệng kêu: “Nước! Nước! Nước!”

Nội thần như đã chuẩn bị từ trước, khẽ vỗ tay một cái, cung nữ đứng hầu sẵn bên cửa tay bưng khay lật đật chạy vào, trên khay đặt bát nước và đĩa đường đen. Hiếu Công cầm bát nước lên, súc liền vài ngụm, lại xúc một thìa đường đổ vào trong miệng, mới thấy đỡ hơn một chút.

Nội thần chỉ vào đám rơm và túi mật: “Chúa thượng, hay là để lão nô thu dọn những thứ này đi!”

Hiếu Công xua tay nói: “Cứ để đấy!”

Tối đó, Hiếu Công không tài nào chợp mắt, chỉ nhìn chong chong vào túi mật. Cung Tần thiết triều vào ngày lẻ, hôm sau là ngày chẵn, không phải lên triều. Trời vừa rạng sáng, Hiếu Công rửa mặt chải đầu qua loa, không kịp ăn uống, lập tức sai nội thần chuẩn bị kiệu đến phủ đại lương tạo.

Công Tôn Ưởng bình thường quen dậy sớm, hôm nay còn dậy sớm hơn, bởi cũng không ngủ được, chỉ canh cánh suy nghĩ phải làm thế nào mới khiến Hiếu Công đổi ý.

Khi Tần Hiếu Công giá lâm, Công Tôn Ưởng đang múa kiếm trong sân. Thanh bảo kiếm trong tay lên xuống loang loáng, dệt thành một vạt hào quang. Tần Công đứng xem một lúc, buột miệng thốt lên: “Kiếm pháp tuyệt diệu!”

Nghe thấy tiếng nói, Công Tôn Ưởng vội dừng lại, thấy là Hiếu Công, ngạc nhiên sửng sốt, lập tức quăng kiếm xuống đất khấu đầu hô: “Vi thần khấu kiến chúa thượng!”

Tần Hiếu Công vội bước đến, đỡ ông dậy, nói: “Ái khanh mau bình thân!”

Hai người bước vào trong phủ, phân ngôi chủ thứ ngồi xuống. Hiếu Công nhìn Công Tôn Ưởng chậm rãi nói: “Ái khanh, tối qua quả nhân đã nếm thử rồi!”

Công Tôn Ưởng ngơ ngác không hiểu, ngạc nhiên hỏi lại: “Nếm thử gì kia?”

Tần Hiếu Công mỉm cười: “Chính là thứ Việt Vương Câu Tiễn đã từng nếm.”

Công Tôn Ưởng bỗng chốc xúc động dâng trào, liền hỏi: “Mùi vị thế nào?”

Tần Hiếu Công vẫn mỉm cười: “Từ tối tới nửa đêm đắng không tả xiết, từ nửa đêm về sáng dần dần cảm nhận được vị ngọt trong đắng!”

Công Tôn Ưởng nhìn Hiếu Công chăm chú, biết rằng chủ ý của Hiếu Công đã thay đổi, trong lòng mừng rỡ, thuận miệng nói tiếp: “Chúa thượng, vị ngọt sau đắng mới là vị ngọt thực sự!”

Tần Hiếu Công thu lại nét cười, giọng nói trầm nặng: “Ái khanh, quả nhân nằm trên đống rơm khô, suốt đêm không ngủ, hai mắt chong chong nhìn túi mật, bên tai văng vẳng lời nói của ái khanh. Tới khi trời sáng, quả nhân cuối cùng cũng đã hiểu ra. Đúng vậy, bây giờ nhìn lại mới thấy Câu Tiễn quả thực rất may mắn, bởi Phù Sai đã cho ông ta cơ hội để nếm mật nằm gai!”

Giọng Công Tôn Ưởng đầy cảm kích: “Linh dương lùi lại là để chuẩn bị bật nhảy. Câu Tiễn nếm mật là để tiêu diệt Phù Sai! Chúa thượng, cục thế hiện tại, tiến một bước, tất đá ngọc đều vỡ! Lùi một bước, sẽ xoay chuyển càn khôn!”

Tần Hiếu Công mở to mắt: “Khanh nói xoay chuyển càn khôn?”

“Đúng vậy!” Công Tôn Ưởng trịnh trọng gật đầu. “Vi thần dám hỏi chúa thượng, nước Tần nỗ lực trị quốc suốt chục năm qua, lẽ nào chỉ là vì rửa mối nhục Hà Tây?”

Tần Hiếu Công cúi đầu suy nghĩ, một lát sau mới ngẩng lên nhìn Công Tôn Ưởng: “Quả nhân muốn nghe cao kiến của ái khanh!”

“Chúa thượng, biến pháp mười năm, nước ta đã có phép tắc, dân ta sức lực dồi dào, kho lẫm có lương thực tích luỹ, binh sĩ có ý chí chiến đấu. Nếu thực sự khai chiến với người Ngụy, giống như Xa tướng quân nói, ta có lẽ cũng có cơ thủ thắng, chưa hẳn đã bại. Nếu chúa thượng chỉ muốn hả dạ một chốc, thì ta vẫn có thể đánh một trận, song ai thắng ai thua, vi thần thực sự không thể nói trước. Nếu chúa thượng muốn mưu tính lâu dài, vi thần cho rằng nhất thiết chưa thể đánh ngay. Song một khi đã đánh, thần muốn một trận toàn thắng, quét sạch quân Ngụy ra khỏi Hà Tây!”

Tần Hiếu Công khẽ gật đầu.

Công Tôn Ưởng dõng dạc nói tiếp: “Chúa thượng! Chỉ cần chúng ta giữ chặt Hà Thuỷ hiểm trở, phía đông lấy được hai ải Hào, Hàm, phía nam chiếm lấy Vũ Quan, sẽ trở thành đất nước bốn bề phong kín, tiến có thể uy hiếp Sơn Đông, chấn động liệt quốc, lùi có thể dựa vào địa hình hiểm trở mà cố thủ, an nhiên vô ưu.”

Tần Hiếu Công khẽ thở dài: “Lời ái khanh nói, chính là điều quả nhân vẫn thường mơ thấy!”

Công Tôn Ưởng mỉm cười nói: “Chỉ cần lúc này chúa thượng lùi lại một bước, tất cả những điều đó sẽ không còn là giấc mơ nữa!”

Ánh mắt Tần Hiếu Công lộ rõ vẻ kinh ngạc.

Công Tôn Ưởng sắc mặt kiên định: “Vi thần tin chắc, chưa tới ba năm, không những có thể rửa được mối nhục Hà Tây, giành lại Hà Tây, chiếm được sông trời Hà Thuỷ, mà cán cân mạnh yếu giữa Tần Ngụy cũng đảo chiều, chìm hay nổi, đều do chúa thượng định đoạt!”

Vẻ mặt Tần Hiếu Công chuyển từ kinh ngạc sang hoài nghi, rồi khẽ lắc đầu, cười gượng mà rằng: “Ái khanh chớ nên an ủi quả nhân, đã quyết định cúi đầu cầu hoà thì chúng ta hãy cứ cúi đầu cầu hoà đi thôi! Quả nhân đã hiểu, người biết cúi đầu mới là anh hùng thực sự, song hiện tại quả nhân vẫn còn một khúc mắc…”

“Vi thần xin nghe!”

“Ngụy Anh mưu tính đã lâu, quyết ý thảo phạt ta, hôm nay chính là tên đã lên cung không thể không bắn. Giờ đây dù quả nhân có muốn cúi đầu, e rằng hắn cũng không chấp nhận!”

Công Tôn Ưởng mỉm cười nói: “Chúa thượng yên tâm, chỉ cần vi thần đích thân đi sứ, tặng nhiều lễ vật hậu hĩnh, ông ta sẽ không từ chối!”

Tần Hiếu Công vô cùng kinh ngạc, nhìn Công Tôn Ưởng nửa tin nửa ngờ. Hồi lâu, bèn lắc đầu dứt khoát: “Ai đi cũng được, riêng ái khanh không thể đi!”

Công Tôn Ưởng từ từ thu nét cười lại: “Chúa thượng?”

Tần Hiếu Công chậm rãi nói: “Ái khanh còn nhớ chuyện năm xưa chăng? Năm đó tể tướng Ngụy là Công Thúc Toạ cực lực khuyên Ngụy Anh giết ái khanh. Ngụy Anh không giết khanh, nghe nói vẫn hối hận tới tận hôm nay. Giờ nếu ái khanh một thân một mình tới Ngụy, khác nào chim tự lao đầu vào lưới? Hơn nữa, bên cạnh quả nhân không thể một ngày thiếu khanh!”

“Chúa thượng yên tâm! Năm xưa Ngụy Anh không giết vi thần, ngày nay sẽ càng không giết. Hơn nữa, vi thần cũng không phải đi sứ một mình. Không giấu chúa thượng, vi thần sớm đã chọn ra trợ thủ. Chỉ cần có người này, việc lớn ắt thành.”

Tần Hiếu Công vô cùng ngạc nhiên: “Trợ thủ? Là ai?”

“Thượng đại phu nước Ngụy, Trần Chẩn!”

Tần Hiếu Công lắc đầu quầy quậy: “Nước Ngụy thực quyền nằm cả trong tay Bạch Khuê, Trần Chẩn chẳng qua chỉ là một tên thượng đại phu hữu danh vô thực, đến tước khanh còn chưa tới, làm sao có thể làm nên việc lớn?”

Công Tôn Ưởng mỉm cười đáp: “Chúa thượng, kẻ này tước vị không cao, song tham vọng lại lớn, sớm đã rình rập ngôi vị tướng quốc của Bạch Khuê, còn tước khanh, hắn vốn không thèm đếm xỉa tới. Hơn nữa, kẻ này rất dễ tham lợi mờ mắt, chỉ cần nhìn thấy danh lợi, sẽ chẳng còn phân biệt được trắng đen phải trái.”

“Ý ái khanh là, người này là một tên tiểu nhân vụ lợi?”

“Tiểu nhân hùng hổ, đẩy đổ đỉnh lớn!”

Tần Hiếu Công thấy Công Tôn Ưởng nói nghe có lý, đành phải gật đầu: “Ái khanh đã nhất quyết muốn đi, quả nhân sẽ không nói thêm gì nữa. Song nước Ngụy không như nước Tần, quả nhân dù muốn giúp khanh, cũng là lực bất tòng tâm!”

“Chúa thượng yên tâm, vi thần tự biết bảo vệ mình!”

Tần Hiếu Công quay sang nội thần: “Trong kho còn bao nhiêu vàng bạc châu báu?”

Nội thần đáp: “Khởi bẩm chúa thượng, vàng bạc châu báu trong kho đã dùng để đặt mua chiến mã của tộc Tây Nhung và thép thô của nước Hàn, còn lại chẳng bao nhiêu!”

Tần Hiếu Công thoáng chau mày: “Quả nhân muốn hỏi còn bao nhiêu?”

Nội thần do dự một lát: “Còn lại trăm dật(10) vàng, hai vạn bạc, ba hòm kỳ trân dị bảo các loại, đều là do lão nô giữ lại phòng khi chúa thượng có việc gấp cần dùng!”

“Quả nhân chỉ cần dùng chỗ bạc đó thôi. Vàng và châu báu, còn lại bao nhiêu đưa hết cho đại lương tạo!”

“Lão nô tuân chỉ!”

Tần Hiếu Công quay sang nói với Công Tôn Ưởng: “Khanh hãy chọn lấy một người khôn ngoan lanh lợi làm phó sứ. Khanh thử xem, ai thích hợp?”

“Ngũ đại phu Sư Lý Tật!”

Tần Hiếu Công suy nghĩ một lát, gật đầu nói: “Cho hắn đi!”

Sự việc không thể chậm trễ, Công Tôn Ưởng lập tức cấp tập chuẩn bị, tới khi trời tối, mọi thứ đã sẵn sàng. Tảng sáng hôm sau, đoàn xe đi sứ sang Ngụy của Công Tôn Ưởng đã rầm rập rời khỏi phủ đại lương tạo, lao về phía cổng thành đông.

Song Công Tôn Ưởng hoàn toàn không ngờ, bên dưới cổng thành, có một người đang đứng đợi trong ánh ban mai, chính là Tần Hiếu Công. Phía sau ông còn có các trọng thần đầu triều như thái tử Doanh Tứ, thái phó Doanh Kiền, thượng đại phu Cảnh Giám, quốc uý Xa Anh. Hiển nhiên là họ đã đứng đó đợi sẵn từ sớm.

Công Tôn Ưởng hô dừng xe, bước lên phía trước vài bước, vội vã cùng phó sứ Sư Lý Tật dập đầu khấu bái. Tần Hiếu Công đích thân đỡ hai người dậy. Hai người đưa mắt nhìn nhau, rồi Công Tôn Ưởng vòng tay nói: “Chúa thượng xin dừng bước, vi thần cáo từ!”

Tần Hiếu Công nắm tay Công Tôn Ưởng: “Công Tôn ái khanh, quả nhân không biết phải nói gì thêm. Lần này đi sứ, ái khanh dùng sức một người chống lại quân đội một nước, vận mệnh tương lai của nước Tần hoàn toàn đặt trên vai ái khanh đó!”

Công Tôn Ưởng dõng dạc: “Vi thần thề chết làm tròn sứ mệnh!”

Tần Hiếu Công phẩy tay, nội thần bèn từ trên xe bê xuống một hòm lễ vật vô cùng tinh xảo đặt trước mặt Công Tôn Ưởng. Công Tôn Ưởng ngạc nhiên nhìn hòm lễ vật, rồi đưa ánh mắt dò hỏi hướng vào Hiếu Công. Hiếu Công đưa mắt cho nội thần, nội thần lập tức mở hòm, bên trong đựng đầy các món trang sức rực rỡ đủ màu.

Hiếu Công chỉ tay vào hòm lễ vật, chậm rãi nói: “Ái khanh! Chút đồ tế nhuyễn này, tối qua quả nhân mới gom được từ chỗ các phu nhân, phi tần và công chúa, khanh hãy mang theo! Quả nhân chỉ có thể giúp khanh được đến thế!”

Những người có mặt nghe thấy lời này đều cúi gục đầu, đưa tay áo che mặt mà khóc.

Công Tôn Ưởng lại quỳ sụp xuống, dập đầu liền ba cái, rồi đóng hòm lại, đứng vụt dậy, quay sang Sư Lý Tật, hô khẽ: “Khởi hành!”

Công Tôn Ưởng rời khỏi Hàm Dương, tiến thẳng về phía đông. Vừa qua Lạc Thuỷ, đoàn người lập tức cảm thấy bầu không khí có vẻ khác thường. Trạm gác dọc đường nhiều hơn hẳn bình thường, tra xét cũng gắt gao hơn. Thấy các chữ “Sứ Tần”, “Công Tôn” trên cờ hiệu, người đi đường ai nấy đều nhìn đoàn xe đi sứ bằng con mắt hiếu kỳ, thậm chí thù địch. Điều này khiến họ vô cùng thấp thỏm, suốt dọc đường đi không ai nói lấy một câu.

Công Tôn Ưởng thì khác, không những không cảm thấy lo âu, mà ngược lại, cứ như đã biến thành một người khác, càng đi càng phấn chấn. Vừa qua biên giới nước Ngụy, chốc chốc ông lại kéo toang rèm cửa xe, ánh mắt sáng rực bao quát toàn bộ khung cảnh bên ngoài ô cửa. Khi sắp tới Âm Tấn, một trọng trấn của Hà Tây, Công Tôn Ưởng còn thò hẳn đầu ra ngoài cửa sổ, vừa nhìn thành luỹ phía xa, vừa gật đầu khe khẽ, dường như đang tính toán điều gì.

Phó sứ đi sau xe tưởng Công Tôn Ưởng muốn gọi, bèn thúc ngựa áp lại, lên tiếng hỏi: “Đại lương tạo có gì sai bảo?”

Công Tôn Ưởng thần thái ung dung, chỉ ra phía ngoài: “Sư Lý Tật, có biết đây là nơi nào không?”

“Bẩm đại lương tạo, chúng ta đã vào biên giới nước Ngụy, đây là Âm Tấn thuộc Hà Tây!”

Công Tôn Ưởng không nói gì nữa, vẫn nhìn chăm chú ra ngoài cửa sổ. Chợt trông thấy một cỗ xe bò chở đầy lương thực dừng ở vệ đường, bên cạnh có một ông lão mặc áo đen và một gã trai mặc áo lam đang ngồi nghỉ chân, Công Tôn Ưởng liền hô dừng xe, nhảy xuống, bước tới trước mặt ông lão vòng tay vái dài mà hỏi: “Xin hỏi lão trượng, lão phải chăng là người Tần?”

Ông lão đưa mắt dò xét, lại ngẩng đầu nhìn lá cờ, thấy bên trên có chữ “Tần”, bèn đứng dậy đáp lễ, khẽ gật đầu.

Công Tôn Ưởng chỉ vào lương thực trên xe hỏi: “Lão trượng, lão định mang xe lương thực này đi đâu?”

Ông lão còn chưa kịp nói gì, gã trai bên cạnh đã đáp: “Là đưa quân lương, chúa thượng sắp khởi binh chinh phạt!”

Công Tôn Ưởng nhìn gã trai trẻ, cố ý than thở: “Thiên hạ chưa thái bình nổi mấy năm, chúa thượng nhà cậu lại muốn chinh phạt nước nào vậy?”

Chàng trai trẻ ngước mắt nhìn lá cờ, tiến sát về phía Công Tôn Ưởng, nói khẽ: “Ông là người Tần! Trông ông không giống người xấu, tôi nói cho ông biết, chúa thượng sắp chinh phạt nước Tần các ông đấy, ông nên cẩn thận thì hơn. Chớ nên sống trong thành, tốt nhất hãy chuyển vào trong núi!”

Công Tôn Ưởng bật cười vài tiếng, quay sang ông lão: “Xin hỏi lão trượng, nơi này là đất gì?”

Vẫn chưa để ông lão kịp trả lời, gã trai lại lanh chanh đáp: “Đây là Âm Tấn!”

Ông lão ho khẽ một tiếng, lừ mắt nhìn gã, rồi chậm rãi nói: “Hồi bẩm quan nhân, sáu mươi năm trước, chúng tôi gọi vùng này là Ninh Tần!”

Công Tôn Ưởng cung kính cúi gập người trước ông lão, sau đó quay trở về xe, vừa đi vừa nói với Sư Lý Tật: “Phó sứ đã nghe rõ rồi chứ? Lão trượng nói, vùng đất này không phải là Âm Tấn mà là Ninh Tần!”

Sư Lý Tật thân là người Tần, đương nhiên có biết đến cái tên này, liền gật đầu nói: “Đúng vậy! Thuở nhỏ từng nghe cha nói, nơi đây trước gọi là Ninh Tần!”

Công Tôn Ưởng giọng quả quyết: “Sáu mươi năm trước, vùng đất này tên gọi Ninh Tần. Không tới vài năm nữa, nó lại sẽ được gọi là Ninh Tấn!”

Sư Lý Tật chớp mắt một cái, sực hiểu ra: “Ý đại lương tạo là chúng ta phải thu lại Hà…” Bỗng nhận ra mình lỡ lời, vội im bặt, liếc nhìn xung quanh.

Công Tôn Ưởng mỉm cười, nhảy lên xe, cỗ xe lại từ từ lăn bánh.

***

Cung thành nước Ngụy tọa lạc ở vị trí hơi lệch về phía bắc so với trung tâm thành An Ấp, được dày công xây dựng suốt ba đời quân chủ Văn Hầu, Võ Hầu và Huệ Hầu, trông rất mực huy hoàng lộng lẫy, rất tương xứng với quốc thế bừng bừng lớn mạnh của nước Ngụy hiện tại.

Trên bãi cỏ xanh trong hậu hoa viên cung Ngụy, Ngụy Huệ Hầu đang chân lướt như bay, thanh bảo kiếm trên tay vùn vụt xé gió, múa lên loang loáng. Tỳ nhân nơm nớp đứng hầu bên cạnh, ánh mắt di chuyển theo đường kiếm của Ngụy Huệ Hầu. Bảo kiếm của Ngụy Huệ Hầu càng múa càng nhanh, ánh mắt của tỳ nhân dường như không thể theo kịp đường kiếm, bèn đưa tay lên dụi mắt vài cái. Ngụy Huệ Hầu chợt dừng lại, thu thế rất đẹp mắt, rồi thu kiếm về.

Tỳ nhân lại dụi mắt: “Muôn tâu chúa thượng, hôm nay chúa thượng múa kiếm còn nhanh hơn hôm qua, lão nô nhìn mà hoa cả mắt.”

Ngụy Huệ Hầu cười ha hả, tra kiếm vào bao, sắc mặt bí hiểm: “Lại đây, quả nhân nói cho ngươi biết một bí mật!”

Tỳ nhân có vẻ sợ sệt, vội ghé sát tai lại.

Ngụy Hầu im lặng một lát rồi nói: “Nếu ngươi chỉ nhìn thấy kiếm quang, không thấy quả nhân, thì ba quân đã đến lúc xuất chinh rồi!”

Tỳ nhân lắp bắp: “Nhưng… vừa rồi lão nô đã không nhìn thấy chúa thượng!”

Ngụy Huệ Hầu sững lại một thoáng, rồi lại cười: “Vậy sao? Thế thì ba quân nên xuất chinh rồi!”

“Chúa thượng, thật vừa khéo! Long tướng quân mới từ Hà Tây trở về, đang ở điện phụ cầu kiến!”

Ngụy Huệ Hầu vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội nói: “Mau truyền tới thư phòng yết kiến!”

Tỳ nhân tuân lệnh, bước ra ngoài truyền chỉ. Hai nội thị đứng hầu bên cạnh liền tiến lại thay y phục cho Huệ Hầu. Huệ Hầu đi về ngự thư phòng, vừa ngồi xuống, tỳ nhân đã dẫn quận thú(11) Hà Tây Long Giả bước vào đến sân. Nghe tiếng chân bước, Ngụy Huệ Hầu vội đứng dậy ra tận cửa nghênh đón.

Long Giả nhìn thấy Huệ Hầu ra sân đón, lập tức dập đầu khấu bái, miệng hô: “Mạt tướng Long Giả khấu kiến chúa thượng!”

Ngụy Huệ Hầu rảo bước lại, đỡ Long Giả dậy, đưa ánh mắt thân thiết nhìn ông ta một lượt, chậm rãi nói: “Mấy tháng không gặp, Long ái khanh gầy đi nhiều quá!”

Long Giả cảm kích nhìn Ngụy Huệ Hầu: “Chúa thượng, trông người cũng gầy đi!”

“Phải rồi, phải rồi! Việc nước việc nhà, bận rộn chồng chất, quân thần chúng ta, muốn phát tướng cũng khó lắm thay!”

Long Giả mắt ngấn lệ, giọng nói có phần nghẹn ngào: “Vi thần thân phận hèn mọn, chết cũng không tiếc. Chúa thượng long thể tôn quý, muôn lần xin bảo trọng!”

Ngụy Huệ Hầu cười nói: “Bảo trọng! Quân thần chúng ta đều phải bảo trọng! Thế gian còn rất nhiều đại sự đang đợi chúng ta! Đi, vào trong nói chuyện!”

Hai người bước vào thư phòng, cung nữ vội mang trà lại. Hai người phân ngôi quân thần ngồi xuống. Ngụy Huệ Hầu thân mật nhìn Long Giả: “Long ái khanh, lần này cho gọi khanh tới, không cần hỏi, hẳn khanh cũng biết là vì chuyện gì!”

“Vi thần cũng vì chuyện này mà cầu kiến chúa thượng!”

“Không giấu Long ái khanh, lần này phạt Tần, tuy quả nhân thấy phần thắng đã nắm trong tay, song ái khanh cũng biết, quả nhân không hề lỗ mãng. Ái khanh trấn thủ Hà Tây nhiều năm, rất hiểu người Tần. Quả nhân thực lòng muốn hỏi khanh, trận chiến này liệu nắm chắc được mấy phần thắng?”

Long Giả do dự một lát: “Vi thần khó mà đoán chắc!”

Ngụy Huệ Hầu sững người: “Khó mà đoán chắc? Ý ái khanh là trận chiến này không thể nắm chắc phần thắng?”

“Muôn tâu chúa thượng, nếu mười năm trước phạt Tần, vi thần có thể cầm chắc tám phần thắng; năm năm trước phạt Tần, là sáu phần. Còn hiện tại, vi thần chỉ có thể chắc được năm phần!”

“Năm phần?” Ngụy Huệ Hầu sửng sốt. “Mới chỉ mấy năm không giao chiến, lẽ nào quân Tần đã thành thần binh?”

Giọng Long Giả đầy lo lắng: “Chúa thượng, chưa nói đến chuyện khác, vi thần chỉ nói một điều, nước Tần mười năm trước đổi ngựa lấy lương thực, nước Tần hiện nay đổi lương thực lấy ngựa; nước Tần mười năm trước có đất không có người trồng cấy, nước Tần hiện nay có người không có đất trồng cấy. Chúa thượng thử nghĩ xem, một đất nước có người mà không đủ đất trồng, có dễ thảo phạt hay không?”

Ngụy Huệ Hầu cúi đầu, trầm ngâm suy nghĩ, hồi lâu sau ngẩng đầu nhìn Long Giả: “Ái khanh, ta không phạt Tần, Tần ắt phạt ta! Nước Tần hôm nay đã như vậy, nếu lại thêm mười năm nữa, Đại Ngụy ta liệu có còn tồn tại được chăng? Hơn nữa, tên đã lên cung, không thể không bắn! Quả nhân xưa nay nhất ngôn cửu đỉnh, sao có thể bỏ cuộc giữa chừng?”

“Việc này…” Long Giả không biết phải nói gì.

“Khanh xem thế này được không?” Ngụy Huệ Hầu dừng lại một lát, chậm rãi nói. “Quả nhân giao thêm cho khanh năm vạn tinh binh, dốc toàn lực cả nước, khởi binh thảo phạt Tần, trước hết khiến chúng trở tay không kịp, tiếp đến đoạt lấy kho lẫm của chúng để dùng cho ta!”

Long Giả gật đầu: “Nếu cuộc chiến này đã không thể tránh, vi thần sẽ dốc hết sức mọn, dù thịt nát xương tan cũng không dám từ!”

Ngụy Huệ Hầu giọng quả quyết: “Long ái khanh, quả nhân không muốn khanh thịt nát xương tan, chỉ mong khanh bắt sống Tần Công, khải hoàn trở về!”

“Vi thần tuân lệnh! Dám hỏi chúa thượng, lúc nào khởi binh?”

“Hôm qua quả nhân đích thân tới Thái miếu xin quẻ, quẻ nói rằng giờ Ngọ, ngày Đinh Sửu, hợp tây chinh.”

Long Giả kinh ngạc: “Ngày Đinh Sửu? Là ngày kia rồi!”

“Đúng vậy! Giờ Ngọ, ngày Đinh Sửu, quả nhân sẽ đích thân tới cửa doanh trại làm lễ tế cờ, đưa tiễn tướng quân!”

Long Giả đứng dậy khấu đầu: “Vi thần và ba quân tướng sĩ cung kính chờ chúa thượng đại giá!”

Long Giả đang định cáo từ thì tỳ nhân bước vào, nói: “Bẩm chúa thượng, thượng đại phu có việc gấp cầu kiến!”

“Truyền vào!”

Trần Chẩn vội vã rảo bước vào trong, quỳ xuống khấu đầu nói: “Khởi tấu chúa thượng, có sứ giả nước Tần là Công Tôn Ưởng đến triều kiến!”

Ngụy Huệ Hầu thoáng ngạc nhiên: “Công Tôn Ưởng? Trong lúc này, hắn tới làm gì?”

“Có vẻ như hắn tới để cầu hoà!”

“Cầu hoà?” Ngụy Huệ Hầu ngẩn ra một lát, rồi cười nhạt một tiếng. “Trần ái khanh, khanh hãy nói với Công Tôn Ưởng, quả nhân không có thời gian nghe hắn khua môi múa mép, bảo hắn hãy giữ sức mà trở về nghênh chiến với Long tướng quân!”

Long Giả do dự một thoáng, bước lên tâu rằng: “Khởi tấu chúa thượng, vi thần cho rằng, chúa thượng cứ nên gặp hắn, thử xem tay Công Tôn Ưởng kia có lời gì để nói?”

Ngụy Huệ Hầu ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu: “Được, Long tướng quân đã khuyên như vậy, quả nhân cũng muốn thử gặp mặt hắn xem sao. Trần ái khanh, khanh hãy về nói với Công Tôn Ưởng, bảo hắn ngày mai lên triều để chứng kiến uy nghi của Đại Ngụy ta. Nếu nói năng dễ nghe, quả nhân có thể cho hắn một con đường sống! Nếu ăn nói hồ đồ, quả nhân sẽ bắt hắn làm vật tế cờ.”

Sáng sớm hôm sau, Công Tôn Ưởng mang theo lễ vật, cùng Sư Lý Tật đi tới cung Ngụy. Lúc này, tiếng chuông thượng triều đã điểm hai lượt, quan viên nước Ngụy từ cấp đại phu trở lên đang lục tục kéo đến. Ở bãi buộc ngựa cách cửa cung hai tầm tên bắn, tiếng người gọi nhau í ới, tiếng ngựa hí ồn ào, vô cùng náo nhiệt.

Do sắp triệu kiến sứ Tần, cung Ngụy ngày thường vốn đã khí thế hào hùng, hôm nay lại càng khác biệt. Lính canh cửa nhiều gấp đôi so với mọi hôm, giáo mác tua tủa, hết sức uy nghiêm.

Tiếng chuông thượng triều điểm qua ba lượt, văn võ triều thần bắt đầu tiến vào cửa cung. Do chưa có chỉ, đám Công Tôn Ưởng chỉ có thể đứng đợi ở ngoài cửa. Chưa đầy một khắc quả nhiên có truyền chỉ đại phu bước ra cửa cung, đứng trên bậc thềm, cất giọng sang sảng: “Chúa thượng có chỉ, truyền sứ thần Công Tôn Ưởng lên điện cầu kiến!”

Sư Lý Tật liếc nhìn Công Tôn Ưởng, thần sắc căng thẳng. Công Tôn Ưởng lôi từ trong ống tay áo ra một chiếc túi gấm: “Phó sứ hãy cầm lấy vật này! Nếu xảy ra chuyện, hãy mở ra!”

Sư Lý Tật hai tay đỡ lấy túi gấm: “Hạ quan tuân lệnh!”

Công Tôn Ưởng quay người, ngẩng cao đầu bước lên bậc thềm hành lễ với truyền chỉ đại nhân, hạ giọng thì thầm vài câu, rồi quay xuống vẫy tay. Sư Lý Tật hiểu ý, lập tức sai thuộc hạ khiêng lễ vật lên. Đi qua cửa chính của cung điện, lại qua hai tầng cửa trong nữa mới tới chính điện. Quan truyền chỉ bước vào, một lát sau từ bên trong vọng ra tiếng truyền chỉ của tỳ nhân: “Truyền sứ thần nước Tần Công Tôn Ưởng bái kiến!”

Công Tôn Ưởng một mình bước vào đại điện, từ xa nhìn thấy Ngụy Huệ Hầu ngự trên ngai vàng, bên trái là một hàng võ tướng như công tử Ngang, Long Giả, bên phải là một dãy văn thần như thái tử Thân, Trần Chẩn, Chu Uy.

Công Tôn Ưởng quỳ xuống khấu đầu bái lạy, dõng dạc hô lớn: “Sứ thần Công Tôn Ưởng khấu kiến bệ hạ, chúc bệ hạ long thể an khang, vạn thọ vô cương!”

Công Tôn Ưởng vừa dứt lời, khắp triều chấn động, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào Ngụy Hầu. Dù sớm đã lễ băng nhạc hoại, song hai chữ “bệ hạ” vẫn vô cùng đường đột.

Lời Công Tôn Ưởng nằm ngoài dự liệu của Ngụy Huệ Hầu. Ngụy Huệ Hầu thoáng nghĩ ngợi, rồi đập bàn quát lớn: “Công Tôn Ưởng, là ngươi không hiểu lễ nghi, hay là thực lòng muốn làm loạn thần tặc tử?”

Công Tôn Ưởng mỉm cười: “Bệ hạ vì đâu mà nói vậy?”

Ngụy Huệ Hầu cười nhạt: “Công Tôn Ưởng, ngươi chớ khua môi múa mép. Quả nhân hỏi ngươi, hai chữ ‘bệ hạ’ chỉ được phép dùng khi tham bái thiên tử, sao ngươi có thể tuỳ tiện xưng hô bừa bãi làm vậy?”

Công Tôn Ưởng đĩnh đạc đáp: “Bệ hạ, Công Tôn Ưởng không hề nói bừa. Thiên tử tức con trời, con trời đương nhiên là bậc minh chủ có thể cai trị thiên hạ, hiệu lệnh chư hầu. Luận theo thiên hạ ngày nay, bệ hạ uy thế đủ để hiệu lệnh chư hầu, đức tài đủ để cai trị thiên hạ, cớ sao lại không thể xưng hai tiếng ‘bệ hạ’?”

Ngụy Huệ Hầu thừa hiểu Công Tôn Ưởng nói vậy là có ý nịnh bợ, hoặc vì mục đích khác. Tuy nhiên, dù gì đi nữa, những lời này quả thực nghe rất khoái nhĩ. Ngụy Huệ Hầu đảo con ngươi một vòng, hơi ngả về sau, chậm rãi nói: “Hừm, xem ra ngươi quả thực không hiểu lễ nghi, quả nhân tạm không trách tội ngươi. Nói đi, ngươi từ nghìn dặm tới đây hẳn không chỉ vì muốn gọi hai chữ ‘bệ hạ’!”

Công Tôn Ưởng trong lòng đã có suy tính, lại dập đầu một cái, ngẩng lên nói: “Bệ hạ thánh minh! Công Tôn Ưởng nhận uỷ thác của Tần Công, tới vấn an bệ hạ. Nước Tần tuy nghèo khó, không có mấy sản vật, song Tần Công vẫn phái vi thần tới cống tiến lên bệ hạ chút ít đặc sản đất Tần, mong bệ hạ không chê!”

Ngụy Huệ Hầu mặt không đổi sắc: “Là đặc sản gì?”

Công Tôn Ưởng ngoảnh ra phía cửa, hô to: “Dâng tiến cống phẩm lên bệ hạ!”

Đoàn tuỳ tùng nước Tần đang đợi sẵn ngoài điện, nghe thấy tiếng hô của Công Tôn Ưởng, lập tức khiêng những hòm lễ vật kềnh càng bước vào trong điện, trên các hòm lễ vật nổi bật hai chữ “Tần cống”.

Đám người khiêng hòm vừa lui ra, lại có chục thiếu nữ Tần uyển chuyển bước vào, quỳ xuống trước mặt Ngụy Hầu, dập đầu rồi đồng thanh lên tiếng: “Dân nữ khấu kiến bệ hạ, cung chúc bệ hạ long thể an khang, vạn thọ vô cương!”

Khắp đại điện lặng phắc như tờ, dường như hết thảy những người có mặt đều kinh ngạc đến sững sờ trước những hành động của Công Tôn Ưởng.

Công Tôn Ưởng hai tay dâng lên danh sách lễ vật. Tỳ nhân nhận lấy, đặt trước mặt Ngụy Huệ Hầu. Công Tôn Ưởng khấu đầu nói: “Số Tần nữ kia do đích thân Tần Công tuyển chọn từ trong dân gian, tuy nhan sắc chưa đến mức nghiêng nước nghiêng thành, song cũng đàn hay múa giỏi, biết chữ hiểu lý, kính mong bệ hạ không chê.”

Công Tôn Ưởng khẽ phẩy tay, đám Tần nữ từ từ rút lui.

Nước Ngụy còn chưa khởi binh, nước Tần đã chịu khuất phục, kết cục này nằm ngoài dự liệu của Ngụy Huệ Hầu. Ông ta không khỏi ngỡ ngàng, rồi như sực hiểu, bật ra một tràng cười lớn, ném đánh vèo tờ danh sách xuống đất: “Thứ nhất, quả nhân không thiếu những thứ này. Thứ hai, không muốn cướp đoạt những thứ Tần Công yêu quý. Công Tôn Ưởng, xem ra ngươi lại phải vất vả một phen, mau mang toàn bộ những thứ này về đi. Những món tốt đẹp như thế, hãy để Tần Công hưởng thụ dần dần!”

Công Tôn Ưởng đáp lời: “Bệ hạ, xin cho thần nói một lời! Những thứ này tuy nhỏ mọn, song là thành ý của Tần Công. Vi thần nhận uỷ thác của Tần Công, tới đây dâng lên bệ hạ, nếu bệ hạ không nhận, vi thần trở về biết ăn nói thế nào với Tần Công đây?”

Ngụy Huệ Hầu cười nham hiểm: “Hãy nói với Tần Công của ngươi, sớm biết như vậy sao trước còn làm?”

Công Tôn Ưởng ra vẻ kinh ngạc: “Vi thần ngu muội, mong bệ hạ chỉ rõ!”

Ngụy Huệ Hầu cười nhạt: “Quả nhân hỏi ngươi, một tháng trước Tần Công nhà ngươi đang làm gì?”

Công Tôn Ưởng bình thản đáp: “Một tháng trước, Tần Công đang đi khắp nước Tần lựa chọn cống phẩm dâng lên bệ hạ.”

Ngụy Huệ Hầu đập mạnh tay xuống bàn: “Lựa chọn cống phẩm cái gì? Quả nhân sớm đã nhận ra, Doanh Cừ Lương ngỡ mình đủ lông đủ cánh muốn bay lên trời rồi!”

Công Tôn Ưởng làm bộ kinh hãi: “Bệ hạ giận dữ là vậy, vi thần thực sự không biết là bởi chuyện gì?”

Ngụy Huệ Hầu lại cười nhạt: “Ngươi đã giả vờ không biết quả nhân sẽ nói cho ngươi nghe! Quả nhân mở hội triều kiến thiên tử ở Mạnh Tân, liệt quốc Trung Nguyên nô nức tới dự, duy có Tần Công nhà ngươi tự cao tự đại, cự tuyệt không đến là vì lẽ gì?”

Công Tôn Ưởng cố ý thở phào một tiếng thật dài, rồi mỉm cười, chậm rãi nói: “Thảo nào suốt dọc đường đi, Công Tôn Ưởng thấy đao kiếm loang loáng, người xe rầm rập, cứ ngỡ các nơi đang mở hội săn bắn, nào ngờ lại là do bệ hạ nổi trận lôi đình!”

Công tử Ngang cười khẩy: “Đại lương tạo, ông bất tất phải khua môi múa mép, hãy về cho mau, khoác giáp đội trụ dẫn binh lính quyết một trận sống mái với đại quân ta!”

Công Tôn Ưởng quay sang công tử Ngang, vòng tay nói: “Thượng tướng quân nói đùa rồi! Võ binh Đại Ngụy đánh đâu thắng đó, thượng tướng quân lại là đệ nhất hổ tướng trong thiên hạ, Ưởng chẳng qua là một thư sinh quèn, nào dám đối đầu với thượng tướng quân dù là nửa chiêu nửa thức?”

Công tử Ngang khoé miệng lại nhếch nụ cười nhạt: “Kể ra ngươi cũng biết điều! Mau về báo với Tần Công nhà ngươi, thiết quân Đại Ngụy giờ Ngọ ngày mai tế cờ, bảo hắn giơ sẵn đầu trên thành Hàm Dương đợi ta đến lấy!”

Công Tôn Ưởng chuyển ánh mắt sang Ngụy Huệ Hầu: “Lẽ nào bệ hạ thực sự có ý phạt Tần, mà không muốn biết nguyên do vì đâu Tần Công không tới Mạnh Tân triều kiến thiên tử?”

Ngụy Huệ Hầu cười nhạt: “Nói đi, lúc này quả nhân cũng không có việc gì gấp gáp, nghe cũng không sao!”

“Thiên hạ hiện nay, Chu thất đã suy vi, ở nơi chật hẹp, chỉ còn cái hư danh ‘vương’ rỗng tuếch, đừng nói là Tần Công, chư hùng trong thiên hạ, liệu có ai thật lòng kính lễ Chu thiên tử?”

Ngụy Huệ Hầu cười nhạo: “Nói như vậy, hoá ra chư hầu thiên hạ nên tới Hàm Dương triều kiến Tần Công mới phải?”

“Bệ hạ nói đùa rồi. Bậc vương dựa vào đức và lực để uy phục thiên hạ. Nhìn vào chư hầu trong thiên hạ, người vừa có đức vừa có lực chẳng ai hơn được bệ hạ!”

“Câu này là có ý gì?”

“Đại Ngụy từ đời Văn Hầu đến nay, thực thi rộng rãi nền chính trị nhân đức, liên tiếp lập nhiều chiến công hiển hách, suốt mấy chục năm qua hùng bá Trung Nguyên, uy phục thiên hạ, liệt quốc Trung Nguyên đều kính sợ mà thần phục, thực chất từ lâu đã lãnh đạo quần hùng, là vị vương không vương miện trong thiên hạ.”

Công Tôn Ưởng dừng lại, đưa mắt nhìn Ngụy Huệ Hầu. Tuy sắc mặt Ngụy Huệ Hầu không chút cảm xúc, song cơ thể hơi ngả về phía trước, rõ ràng có ý lắng nghe. Công Tôn Ưởng đã nhận ra, khẽ đặng hắng một tiếng, nói tiếp: “Không tính đến Man Sở phía nam, trong liệt quốc Trung Nguyên, Chu thất hữu danh vô thực, Chu thất hữu thực vô danh, sự thực rõ như ban ngày, không phải bàn cãi.”

Ngụy Huệ Hầu ngồi thẳng người dậy, đặng hắng khẽ một tiếng, tiếp lời: “Công Tôn Ưởng, lời nói của ngươi chỉ là suy nghĩ của kẻ tiểu nhân. Tuy thiên hạ danh không hợp với thực, song lễ nhạc vẫn còn, Chu thiên tử vẫn là chủ chung của thiên hạ, chư hầu thiên hạ trên danh nghĩa vẫn là thần bộc của Chu thất. Quả nhân thân là thần tử của Chu thất, đương nhiên phải dốc lòng vì Chu thất, tận lực khiến thiên hạ hướng về nhân, lòng dân hướng về nghĩa, và vì sự an lạc của trăm họ. Ngoài những điều đó, quả nhân không có vọng tưởng gì khác. Những lời ngươi vừa nói bất luận có đạo lý đến mấy, đều không liên quan tới quả nhân.”

Những lời phân trần của Ngụy Huệ Hầu, đặc biệt là những từ “trên danh nghĩa” và “có đạo lý”, thực chất đã bộc lộ dã tâm trong lòng ông ta. Công Tôn Ưởng trong lòng hiểu rõ như ban ngày, bèn mỉm cười, dõng dạc mà nói: “Tấm lòng nhân nghĩa của bệ hạ, Công Tôn Ưởng tuy kính phục song không tán thành. Nhân có lớn có nhỏ, nghĩa có dày có mỏng. Thương Thang không hành đại nhân, đâu có thể diệt trừ Hạ Kiệt? Chu Vũ không hành hậu nghĩa, sao có thể quét sạch Thương Trụ? Hạ Kiệt, Thương Trụ còn tồn tại ngày nào, thiên hạ không yên ngày đó. Thiên hạ không yên, làm gì còn lễ nhạc nữa đây? Hơn nữa, lễ nhạc của Chu thất tới thời Xuân Thu đã suy tàn. Vài trăm năm chiến loạn, lễ nhạc càng là danh tồn thực vong. Thiên hạ ngày nay, chế độ cũ không trị, chế độ mới không lập, đương nhiên là cội gốc của họa loạn, là khởi nguồn của tai ương. Chính vì vậy, Tần Công cho rằng, vì đại nhân hậu nghĩa trong thiên hạ, vì hạnh phúc an lạc của trăm họ, sự việc cấp bách hiện thời là bỏ cũ lập mới, khiến danh tương xứng với thực, chứ không phải là tới Mạnh Tân triều bái một thiên tử hữu danh vô thực. Muôn tâu bệ hạ, trong triều hội Mạnh Tân, kẻ mà chư hầu phải triều kiến chẳng qua chỉ là Chu thiên tử, nên Tần Công không muốn làm chuyện vô vị này, vì thế mà không đến. Còn như nếu tới Mạnh Tân không phải là để triều kiến Chu thiên tử, mà là để triều kiến bệ hạ, thì Tần Công sao có thể không đi?”

Ngụy Huệ Hầu lại ngả người về phía trước, hạ giọng hỏi: “Ý Tần Công là…”

Công Tôn Ưởng dõng dạc nói: “Tần Công nguyện tôn bệ hạ làm chủ chung của thiên hạ, nguyện dốc tận quốc lực để phò tá bệ hạ quay mặt về nam xưng tôn.”

Công Tôn Ưởng vừa dứt lời, toàn triều chấn động. Ngụy Huệ Hầu mặt vẫn lạnh tanh, ngả người ra phía sau, trong mắt loé ra một tia sáng quắc. Trần Chẩn đã phát giác ra, bèn chớp mắt vài cái, liếc sang công tử Ngang đứng đối diện. Công tử Ngang chau tít đôi mày, vẻ mặt không vui, muốn nói gì đó song lại cố gắng nín nhịn.

Quần thần trong triều mỗi người một vẻ mặt, đưa mắt nhìn nhau, cuối cùng không hẹn mà cùng nhìn về phía Ngụy Huệ Hầu. Ngụy Huệ Hầu thình lình sầm mặt đập bàn liền mấy cái, quát lớn: “Công Tôn Ưởng to gan, ngươi xúi giục Tần Công còn chưa đủ, còn dám chạy tới An Ấp nói những lời phản nghịch trước mặt quả nhân, muốn đẩy quả nhân vào chỗ bất trung bất nghĩa là có dụng ý gì đây?”

Toàn triều lại một phen sững sờ. Công tử Ngang đầu mày giãn ra, bước lên tấu: “Khởi tấu quân phụ, đại quân ta ngày mai khởi binh chinh phạt, vậy mà hôm nay Công Tôn Ưởng lại dám lên triều nói lời mê hoặc, hẳn là muốn kéo dài thời gian, ngăn cản bước tiến của đại quân ta. Nhi thần thỉnh cầu quân phụ minh xét.”

Tư đồ Chu Uy cũng bước lên một bước, cao giọng tấu: “Vi thần đồng ý với thượng tướng quân. Giữa Tần và Ngụy thù hận đã lâu, khó mà hoà giải, sớm đã như nước với lửa. Mười sáu năm trước người Tần nước yếu lực mỏng, Hiến Công còn dám đại chiến ở Hà Tây với ta. Nay người Tần nước mạnh lực lớn, Tần Công lại ra vẻ yếu ớt cầu hoà, từ đó có thể thấy dụng tâm của Công Tôn Ưởng rất đáng ngờ!”

Công tử Ngang tiếp lời: “Đại tư đồ nói chí phải! Công Tôn Ưởng vừa là giặc Tần, bụng dạ lại nham hiểm khó lường, nhi thần thỉnh cầu trừng phạt hắn thật nghiêm!”

Quần thần vẻ đã hiểu ra, theo nhau gật đầu tán thành. Công tử Ngang quăng một ánh nhìn về phía tiên phong phạt Tần là Bùi Anh đứng cạnh Long Giả. Bùi Anh hiểu ý, bước lên trước một bước, quỳ một gối, cất giọng sang sảng: “Đại quân sắp lên đường phạt Tần, mạt tướng thỉnh cầu chúa thượng, dùng máu Công Tôn Ưởng để tế cờ soái quân ta!”

Trừ Long Giả, tất cả võ tướng đều bước lên một bước, đồng thanh tấu: “Chúng thần thỉnh cầu chúa thượng, giết Công Tôn Ưởng tế cờ!”

Ngụy Huệ Hầu dường như rất hài lòng trước lời chư tướng, hơi ngả người về phía sau, ngón tay gõ nhẹ trên mặt bàn, mắt liếc xéo Công Tôn Ưởng, khoé miệng lộ một nét cười thâm độc: “Công Tôn Ưởng, ngươi còn lời gì để nói?”

Công Tôn Ưởng quét mắt khắp lượt quần thần, sau đó dừng lại ở Ngụy Huệ Hầu, bật cười một tràng dài.

Toàn triều đều kinh ngạc.

Ngụy Huệ Hầu lạnh lùng hỏi: “Công Tôn Ưởng, ngươi cười gì?”

Công Tôn Ưởng thu lại nét cười, ngạo nghễ nói: “Công Tôn Ưởng không biết phải nói gì, chỉ có thể cười mà thôi!”

Ngụy Huệ Hầu hơi ngả người về phía trước, khoé miệng lại lộ ra nụ cười âm trầm: “Được, ngươi đã không biết phải nói gì thì chớ oán trách quả nhân. Người đâu!”

Hai tên vệ sĩ lập tức bước lên, cùng giữ chặt lấy Công Tôn Ưởng.

Ngụy Huệ Hầu gằn mạnh từng chữ: “Áp giải hắn đi! Giờ Ngọ ngày mai, đưa ra trước cổng doanh trại tế cờ!”

(((Chú thích)))

(1) Còn gọi là Đại thượng tạo, tên quan, là chức quan cao nhất của nhà Tần thời Chiến Quốc, nắm giữ đại quyền quân chính, cũng dùng làm tên tước.
(2) Nay là phía đông bắc huyện Mạnh Tân, Lạc Dương, Hà Nam.
(3) Đô thành nước Sở, nay là phía bắc Kinh Châu, Hồ Bắc.
(4) Chức quan thời xưa chuyên trực bên đồng hồ nước để báo thời gian.
(5) Nhà chính trị, nhà quân sự nổi tiếng thời kỳ đầu Chiến Quốc, phò tá Ngụy Văn Hầu biến pháp, trước tác có Ngô Tử binh pháp.
(6) Đại tướng thời Ngụy Văn Hầu, tổ tiên của Nhạc Nghị.
(7) Chức chỉ huy đứng đầu một nghìn quân lính.
(8) Cân thời xưa, tương đương khoảng 0,5kg hiện nay.
(9) Tức Đạo đức kinh, trước tác của Lão Đam (Lão Tử).
(10) Đơn vị trọng lượng thời cổ, một dật bằng hai mươi lượng.
(11) Chức quan đặt ra từ thời Chiến Quốc, đứng đầu một quận ở biên cương, nắm quyền hành chính, quân sự tối cao của khu vực đó.