Bốn mùa - Trời và Đất

bon-mua-troi-va-dat
Tác giả:Márai Sándor
Sưu tầm Truyện Hay
Giới thiệu:

Tĩnh lặng đi tới số phận

Những điều ông viết ra ở đây được dùng để suy nghĩ, không phải để thuật lại.

Cũng không phải để bình phán. Mặc dù có vẻ như trên đời không gì thoát khỏi cảnh ấy.

Có vẻ như ông viết với một tâm trí, một tâm thế của kẻ tin, một con người tôn giáo nếu có thể gọi như vậy - điều có nghĩa là tâm trí ấy dựa tối hậu vào một hệ chắc chắn những giá trị mà từ đó người ta luôn có thể rút ra những diễn đạt về chân lý hay có tính chân lý.

Ông là một người tin vào đấng Chúa của Kinh Thánh, hơn nữa là một kẻ tin sùng kính. Trong các ghi chép ở đây, nhất là khi nói đến “thi ca” và các nhà thơ, ông luôn nhắc tới phẩm chất “lòng sùng mộ” như là một trong vài phẩm tính quyết định. Ông không giải thích, nhưng để cho hiểu rằng lòng sùng mộ dẫn người ta tiếp cận những sườn dốc thẳng đứng của chân lý, và cái xúc cảm sinh ra từ nỗi tuyệt vọng cao thượng đó mới là đáng kể.

Nhưng tính tôn giáo đó tỏ ra cũng là, hoặc gây nên, mối mâu thuẫn hẳn không hề không đáng kể trong con người tư tưởng của ông.

Cuối cùng ông cũng tự hỏi, và không chỉ một lần trong những ghi chép này: “vì chắc hẳn cuộc đời cũng là một hành động có chủ đích, chứ không chỉ là sự nảy nở của các tế bào” (Trời và Đất, tr.523).

Một người có đức tin tôn giáo thực sự sẽ không bao giờ để cho những băn khoăn thuộc loại đó đi vào suy nghĩ. Và người đó cũng sẽ không cùng lúc đề cao cả đạo đức truyền thống dẫn chiếu về ý niệm tội lỗi phổ quát, về các thánh và các nhà tiên tri Cựu ước, với sự tự do tâm linh và tính độc lập của tinh thần cá nhân.

“Hay công việc chưa xong?... - chỉ vì Chúa đã chán và bỏ dở vào ngày thứ bảy” (Bốn mùa, tr.170).

Đó đúng là Hoài nghi. Nhưng trong trình thức của văn chương, ông hướng cái nhìn đó vào trần thế: suốt mấy trăm trang sách của cả hai tập tản văn này không có lấy một dòng về các biến động chính trị-xã hội, chiến tranh-hòa bình đương thời, dù ông có đôi lúc đề cập thoáng qua những bắn phá hạt nhân, nguyên tử, thuyết tương đối, Einstein, Max Plank…

Như thể ông không nhìn nhận một thứ lịch sử nào đó, tách chúng ra khỏi BỐN MÙA và TRỜI ĐẤT.

Ông nói điều đó rạch ròi; theo ông, Flaubert theo cách riêng mình đã tiếp tục cuộc Cách mạng Pháp bằng việc viết cuốn Bà Bovary, và như thế hiệu quả hơn nhiều so với việc nếu ông ngã xuống trên một chiến lũy.

“Nhà văn chỉ có thể làm chính trị theo một cách: nói sự thật về cuộc đời, và dạy con người nhu cầu cảm quan chống lại sự giả dối và sự lười biếng của cảm xúc và nhận thức” (Bốn mùa, tr.234).

Sự thật- ông tách ý niệm đó ra khỏi cái gia đình trần thế đông con không ngừng ở vào cảnh tranh giành thừa tự của nó.

Nhưng không có vẻ ông muốn đưa nó vào chỗ đã quen, định vị trong kinh sách và đứng trên tất cả: “Phía sau thực tại là điều gì đó mang một ý nghĩa không thể diễn đạt bằng lời” (Bốn mùa, tr.17).

Ông thật sự muốn dành lại cho người đọc việc chiêm nghiệm.

Bằng cách nhắc đi nhắc lại cụm từ “điều gì đó” qua hầu quá nửa những cái viết có vẻ như tản mạn ở đây; đôi khi thay bằng “báu vật nào đó” hay “một âm thanh trong thế giới” v.v…

Đôi khi dẫn đến thật gần, như trong đoạn Ngôi nhà của Krúdy, ông viết: Đó là sự thật, sau khi đã gắn xong ngôi nhà một tầng rách nát với thứ nghệ thuật trong sáng, sang trọng, không giả dối chiều đời của bậc thầy văn xuôi Krúdy Gyula; hay như khi ông viết Henrik Ibsen “biết rằng lẽ ra phải tiêm thuốc phiện cho tất cả những gì thuộc về con người”.

Tất cả những diễn đạt ấy có thể gây bối rối, và sự bối rối đó lại có thể là cách tác giả muốn để truyền đạt tính muôn hình muôn vẻ của thực tại, tính cố ý bền bỉ của việc truy cầu sự thật; bởi lẽ ngay từ đoạn văn mở đầu ông đã viết với một vẻ hăng hái gần như tuyệt vọng rằng “Ý nghĩa của cuộc đời là sự thật”, rằng ta biết được sự thật bằng món quà Chúa ban là lý trí, và “Thời gian đã dạy tôi rằng cái chết là quà tặng kiêu hãnh của cuộc sống, cũng là lời giải thích và giải đáp. Lý trí cũng đã dạy tôi rằng tất cả mọi hoan lạc đều là khoản thuế phải trả cho cái chết”(Bốn mùa, tr.10); và bởi lẽ, ông đã nói: những ghi chép này không phải là nhật ký, tức không vụn vặt tùy thời điểm, màcó tựa đề, có chủ ý, với nội dung được dàn dựng…(Trời và Đất, tr.376).

Nên hiểu cái ông gọi là dàn dựng đó như thế nào?

Trước đấy, ở phần Tháng Mười Một của tậpBốn mùa, trong phiến đoạn “Đình công”, ông viết những lời như thể trực tiếp giải thích cho hình thái diễn đạt này: “Tôi không còn hứng thú để viết “những tác phẩm”. Tôi chỉ muốn viết như cây cỏ thở, như trái tim đập nhẹ nhàng và thoải mái, những dòng chữ… như những sinh vật khiêm nhường được hình thái nội tại của chúng đem lại cho chúng quyền tồn tại” (tr.258).

Vậy là có, và chỉ có, Chúa với thiên nhiên “cây cỏ”-“sinh vật” và những con người: sự “dàn dựng” của ông là một bức tranh ghép, một tổng thể được suy ra từ các đoạn ghi chép mà bề ngoài - tức những đề tài của các ghi chép đó - có vẻ rất ngẫu nhiên, nhưng lại nằm trong một trật tự của suy tưởng; một trật tự kiểu Pascal - bởi nhìn lại đoạn mở đầu Tháng Giêng sẽ thấy chất hùng biện và sáng suốt cổ điển của nó, hơn thế nữa là giọng điệu tuyên tín của nó, với một lòng sùng mộ không phô trương nhưng quả quyết, hoàn toàn có thể gợi lên hình ảnh một tinh thần vừa nhận được mạc khải.

Đây là một điều rất đặc biệt và sâu xa. Ở bên ngoài truyền thống Thiên Chúa giáo, và nói chung tất cả những người không thực sự tin tưởng hay quan tâm, người ta dễ bằng lòng với một vài hình dung hoang đường mờ ảo về khải ngộ, một cái gì đó kỳ lạ thần bí một cách vu vơ, mà lại huy hoàng chói sáng; nhưng ở đây Márai Sándor cho thấy, dù không thật sự hiển ngôn, một tinh thần ngộ đạo có thể và nhất thiết gần gũi với đời sống thường nhật như thế nào.

Gần cuối sách, trong đoạn “Lời khuyên và lời thề” (Trời và Đất, tr.490), ông viết: “… hãy quan sát công việc của mọi người, hãy ghi chép lại nếu mi hiểu ra một điều gì đó, mà trước đó, theo mi chưa có ai nhận ra hay hiểu ra (…) hãy đọc thật nhiều và chuẩn bị cho cái chết. Vì niềm vui đã qua. Chỉ còn lại sự thật đơn giản đến tuyệt vời”.

Sự thật không có gì chung với niềm vui. Và khải ngộ là chấp nhận một cách hiểu biết. Đằng sau những suy tưởng này, Márai Sándor chấp nhận một thế giới bị phân ly bởi bản chất của nó, bản chất con người trong nó.

Trên hướng này thực ra ông lại xa rời con người tôn giáo truyền thống mà có lẽ ông đã nhận thấy là quá mang tính thế tục.

Ông suy nghĩ về Nietzsche hay Schopenhauer, hình dung Nietzsche hét lên với ông rằng Phải sống một cách nguy hiểm(Bốn mùa, tr.259), sống với bổn phận bảo vệ sự độc lập của tinh thần và lý trí (món quà Chúa ban!).

Ông hình dung Schopenhauer từ chối gặp Byron, vì thấy chàng thi sĩ quá đầy danh vọng.

Ông tìm sự thông hiểu với thế giới cổ điển, cái thế giới sự thật của bốn mùa và trời-đất, khi ông suy nghĩ về Baudelaire: “Đôi mắt ấy đã nhìn thấy địa ngục và chỉ còn biết nhìn những cảnh trí trên mặt đất một cách thờ ơ và lãnh đạm” (Bốn mùa, tr.252).

Đó là từ bởi kinh nghiệm của chính ông, từ Những khác biệt mà ông thấy và suy ngẫm, phát xuất trong ứng xử của con người với cái thánh thiêng, và nhanh chóng trở thành hình mẫu ứng xử giữa con người - “Chưa bao giờ con người đánh giá bản thân thấp kém như bây giờ” - vào thời đại những phát minh huyền thoại của thế kỷ XX còn mới tinh - “Nhưng khi trưởng thành, tôi biết một thời tàn bạo đã bắt đầu, man rợ nhất trong mọi thời đại” (Bốn mùa, tr.26-27).

Dường như ông đã sống đến hai phần ba thế kỷ đó mà vẫn là một tinh thần tinh hoa của thế kỷ trước đó - “Tôi đã sống trong thời kỳ mà những người viết bán những giá trị tinh thần quá rẻ mạt” (Bốn mùa, tr.169).

Đó có thể là một lời tiên tri rất gần - “Tôi muốn sống như một người phụng sự con người. Nhưng người ta không cho phép tôi phụng sự: người ta luôn đòi hỏi tôi sống kiếp tôi đòi, hai việc ấy khác hẳn nhau” (Trời và Đất, tr.362).

Những dòng viết như thế cũng rực lửa chứ, nhưng theo cách riêng của nó, nó buồn bã, lấp lửng tinh tế và hướng thượng.

Cái tinh thần và cái nhãn quan u sầu ở bên trong đó vẫn còn thấy cứu cánh của mình ở cái đẹp cổ điển của cả nghệ thuật, văn chương và niềm tin - ông viết: “Con người chỉ đáng giá bằng chừng mức anh ta hiểu được những biểu tượng lớn” (Trời và Đất, tr.388).

Dường như ông đã dứt khoát chối từ rất sớm việc bước hẳn vào kỷ nguyên hiện đại, dẫu ông không tránh được trải nghiệm đó.

“Con người chỉ tồn tại trong tâm hồn mình”(Trời và Đất, tr.409).

Ông viết như vậy. Và lặng lẽ đi tới, đi trong tâm hồn riêng ông.