[Lịch Sử - Quân Sự] Ly kỳ dị sự ký (1

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả:
Lăng Du Thiên Khách

Chương X:
CHUYẾN ĐI KINH HOÀNG

Bọn tôi nhảy đại xuống cái hang, tuy trông có vẻ như dựng đứng, nhưng cái hang lại là một cái dốc thoai thoải xuống phía dưới, phía dưới tối mịt tối mù, không nhìn thấy điểm tận cùng, cứ thế bọn tôi trượt xuống. Bỗng cả bọn rơi từ trên cao xuống một cái hố cạn, không ngờ khi rơi xuống đã nghe tiếng răn rắc, đến khi soi đèn lại nhìn thì thấy dưới hố toàn xương với xương, nhưng không phải xương người, mà là xương con vật gì đó, rất nhiều, toàn là động vật to lớn không biết gọi tên là gì? Trong hố có một cái hang nhỏ chỉ đủ để hai người cùng sóng đôi đi vào. Cái hang này là một con đường rất dài, vừa đi vừa nghỉ, đi đến mỏi mệt vẫn chưa ra khỏi, đến khi ra khỏi cái hang đó, nhìn lại đã mất hơn năm mươi tiếng đồng hồ.

Cuối đoạn đường ấy là một bãi cỏ rất rộng, bên trên rễ cây, dây leo mọc giăng khắp nơi, có vài cây cổ thụ mọc xa xa chỗ bọn tôi đứng. Tôi cảm thấy quái lạ khi dưới lòng đất sâu gần ngàn thước, lại có cỏ mọc rộng khắp, nhưng có lẽ bọn tôi đã lầm, đó không phải cỏ, mà là một cái bẫy, bên dưới đó chính là bãi đầm lầy đặc kẹo như cát lún, bên trên là một thảm thực vật hình như là một loại rong rêu gì gì đó, vài anh lính Campuchia vô tình giẫm lên lớp rong rêu ấy, lập tức bị nhấn chìm một cách chậm chạp khiến họ một phen kinh hồn khiếp đảm trước khi chết, nhìn cặp mắt họ mở to, trắng dã, đón nhận cái sự tàn khốc của tạo hóa dành cho mình, miệng không ngừng kêu la, gào thét, tôi và cả bọn đau đớn nhìn họ vùng vẫy chìm dần trong đầm lầy mà không làm gì được. Lúc này, vài người lính lấy ra những sợi dây thừng có móc sắt, quăn dây vào những cây cổ thụ xa xa, rồi lấy cọc thép cố định đầu dây, lần lượt từng người đu dây trèo lên cây vượt qua khu đầm lầy. Lên cây rồi lại lấy đoạn dây khác, tìm nơi nào đó chắc chắn, quăn dây lấy đường đi xuống, khi vượt qua đầm lầy, bọn tôi biết là không chắc có thể quay lại được nữa.

Đi một lúc, lại gặp một cái hang sâu, bóng tối hun hút, mùi ẩm ướt bốc lên kèm theo mùi hôi thối nồng nặc, y như mùi chuột chết. Cái hang này rộng hơn cái hang trước rất nhiều, trên vòm hang hình như chỉ có đá với đá, có những mỏm lồi ra chằng chịt như gai cá sấu, bên dưới lại là đất đen, thỉnh thoảng, lại bắt gặp vài bộ xương người. Cái hang đó đã dẫn bọn tôi đến một không gian xa lạ dưới lòng đất, đó có thể coi là một nền văn minh cổ xưa nào đó, bị bụi lịch sử vùi lấp.

Cuối hang là một cửa hang bằng đá, cả đám bọn tôi cố mở mấy lần mới dịch chuyển nổi cửa hang ấy, sau cửa hang là một cánh cổng bằng đá lớn, đi qua khỏi cổng, thì gặp ngay một tấm bia khổng lồ chắn ngang cũng bằng đá cả, khắc tám dòng chữ gì đó không rõ, không biết đọc ra sao, toàn là ký hiệu tượng hình như mặt người, cây cỏ, chim thú... bên dưới là một con đường mòn bị bia đá chặn đứng và cỏ mọc đầy che khuất, cố nhìn thật kỹ mới thấy. Hai bên của đường mòn mọc đầy lau, sậy um tùm, cùng cỏ dại. Lách mình qua bia đá, bọn tôi tiến về phía trước, đi khoảng một cây số đã thấy có rất nhiều mái nhà lụp sụp, có nhà gỗ, có nhà tranh, có cả nhà bằng đá, có đèn đá, cuốc đá, xẻng đá, cày, bừa cũng toàn bằng đá, có đuốc bằng cây rừng, có giếng nước, có chuồng trâu bò, có sào phơi quần áo, ... Nhưng tất cả đều bị bỏ hoang, đều cũ nát, chỉ cần chạm nhẹ có thể sẽ tan thành tro bụi. Đây có lẽ là một làng quê nào đó, nhưng tuyệt không một bóng người, không những thế, ở trong, mấy căn nhà bọn tôi vào quan sát được, chỉ thấy bụi đóng dày, mạng nhện giăng khắp lối, tro bếp nguội lạnh, vắng vẻ hoang tàn, chứng tỏ nơi này đã lâu lắm không ai ở. Quan sát kỹ thấy củi vẫn còn, lương thực như thóc, lúa, ngô, khoai... tuy mốc meo không dùng được, nhưng thấy còn khá nhiều, trên bếp vài nhà còn có đặt nồi đồng lên, đồng đã gỉ màu đi. Trong nồi, cơm đã biến thành màu đen vón cục, chứng tỏ đã có người nấu cơm, nhưng chưa kịp ăn, họ đã gặp phải chuyện gì đó, đến bây giờ cơm trắng đã biến thành đen xì lên như thế, thật quái lạ! Ở ngoài, bên giếng nước vẫn có những thùng gỗ, thau gỗ bằng thân cây được khoét rỗng, dùng cho việc giặt giũ, trong thau còn có ít quần áo đã bị mạng nhện giăng đầy, giếng nước đã cạn khô, nước trong thùng, trong thau gỗ cũng đã bốc hơi từ lâu, số quần áo trong ấy đều đen lại theo năm tháng, không thể nhận ra là vải hay là vỏ cây? Qua khỏi thôn làng bỏ hoang đó, bọn tôi bắt gặp một cánh đồng, có những con đường được đắp đất, để người dân ra thăm đồng nữa, nhưng trước mắt giờ đã mọc đầy cỏ dại, sau cánh đồng ấy hình như là rừng cây, vì quá mỏi mệt, bọn tôi quay lại thôn làng nghỉ ngơi lấy sức, nên không đi tiếp về phía rừng cây ấy, thực chất, không biết có phải là rừng hay không? Nếu là rừng thì thật kỳ lạ, thôn làng, đồng ruộng, rừng cây đều mọc lên trong lòng đất, không có chút ánh mặt trời hay sao?

Do quá mệt mỏi, bọn tôi đã tắt hết đèn pin gắn trên nòng súng, đốt một đống lửa lớn, rồi giăng lều, căng bạt ra làm nơi nghỉ ngơi, ăn xong lương khô, bọn tôi thay phiên nhau đi ngủ. ngủ được một lúc tôi đã nghe tiếng thét kinh khiếp, bèn mở to mắt thức dậy, trong ánh lửa bập bùng, một cảnh tượng hãi hùng đập vào mắt tôi, có mấy người bị vật gì đó treo ngược lên không trung, có mấy người bị treo cổ lơ lửng trên mặt đất tầm tám chín thước, những người bị treo ngược ra sức vùng vẫy, giẫy giụa, thậm chí còn rút dao găm trong người ra, gồng lưng lên cắt gì đó ở ống chân, nhưng đều không có tác dụng, lát sau họ bị dựng trở lại, trong ánh lửa lờ mờ, không biết họ bị gì mà từ toàn bộ cơ thể co giật dữ dội, rồi lưỡi họ lòe ra như bị người ta xiết cổ, tôi xách súng, trố mắt nhìn kỹ, thì ra bên dưới có vật gì đó cử động y như con rắn, nhiều vô số, bật đèn pin trên súng lên, tôi nhìn thấy, đó là những đoạn dây leo, chính là những loại dây leo ban nãy, không biết tên gọi là gì? Nhưng nó hoạt động như những xúc tu trên vòi loài Bạch Tuộc. Nó vươn ra, gặp người nào là túm chân người đó, đưa lên cao, sau đó đoạn dây khác sẽ từ từ quấn vài vòng qua cổ người đó, rồi bắt đầu xiết, xiết đến khi người ta không còn giẫy giụa gì, những đoạn dây đó mới thả cho những cái xác không hồn kia rơi xuống đất. Tình cảnh xác chết cũng giống như tự tử bằng cách treo cổ vậy, nhưng chỉ thoáng chốc, khi hơi thở họ không còn, những xác người ấy lập tức khô héo thân thể, chỉ còn lại da bọc xương mà thôi.

Có vài người mất bình tĩnh đã nổ súng đì đùng, nhưng như vậy, càng làm cho cái loại dây kỳ quái kia ý thức được rằng: "Con mồi vẫn còn, đừng nên bỏ lỡ!" Tôi lôi mấy người đứng gần tôi bỏ chạy, trong khi đó một số khác bị tóm lấy, bị xiết cổ, chết từng người, từng người một, thân xác khô quắc lại. Tôi cùng một vài người chạy ra chỗ cánh đồng mọc toàn cỏ dại, thấy phía trước đúng thật là khu rừng rộng lớn, với vô số cây cổ thụ cao cả trăm thước hoặc có thể hơn. Lập tức bọn tôi băng qua cánh đồng, tiến vào khu rừng mà chẳng còn tâm trí nghĩ ngợi xem điều gì sẽ xảy ra? Trong rừng, cây bụi, dây leo bao phủ dày đặc, nhưng tuyệt đối không hề nghe tiếng một loài động vật hay côn trùng gì, thậm chí tiếng dế cũng không hề nghe thấy, trong rừng bỗng vọng lại tiếng xào xạc, lại một loạt dây leo cũng từ tiếng xào xạc ấy vươn ra nhanh như tên bắn. Đã có thêm vài người bị treo cổ, tôi không còn tinh thần gì nữa, liền cắm đầu bỏ chạy, mấy người còn lại cũng chạy theo, mặc kệ phía sau cho dù có vàng chất như núi, cũng không dám quay đầu lại nhìn. Băng qua mấy lần rừng, thấy trước mặt có một cái hang to lớn dị thường như được khoét ra từ một ngọn núi lớn, trong hang có hơi nóng bốc ra ngột ngạt, có mùi tanh tanh, nồng nồng thoảng ra rất khó chịu. Lũ dây leo đuổi đến đây, lập tức khựng lại, hình như đang sợ thứ gì đó, không dám đuổi tiếp, các dây leo kỳ quái kia vươn tới, vươn lui vài lần rồi rút sâu vào khu rừng tối tăm.

Tôi cảm thấy quái lạ, thứ dây leo kia có thể đã tấn công thôn làng mà bọn tôi thấy, có thể nó đã hút đi máu thịt của hàng trăm, hàng ngàn người trong thôn làng, nó không sợ dao găm, súng cũng chẳng làm gì nổi, vậy giờ đây nó tỏ ra cảnh giác với cái hang trước mặt bọn tôi, chẳng lẽ trong hang này còn có thứ gì đó ghê ghớm, đáng sợ hơn nữa? Nghĩ tới đó, tôi thấy toàn thân lạnh toát, lông tóc trên người đều dựng đứng cả lên, nhưng bây giờ không còn đường lui, chỉ có tiến lên, mong là may mắn tìm đến đúng một con đường nào đó, có thể đưa bọn tôi thoát ra ngoài, quay về với cuộc sống bình thường. Mấy người còn lại bọn tôi đành làm liều bước vào cái hang ấy, bên trong hơi nóng kèm mùi tanh tỏa ra ngột ngạt vô cùng, bỗng phía trước xuất hiện một đốm lửa lớn, không biết từ đâu, cả bọn rón rén bước tới, hóa ra đây chính là nơi trú ngụ của một con quái vật, bọn tôi không nhìn thấy nó là con gì, chỉ biết thân nó có giáp vẩy rất lớn, thân như một loài rắn khổng lồ, nhưng chắc chắc không phải rắn, bởi tôi thoáng thấy cổ nó còn có lông dài như của bờm sư tử vậy, nó thoát ẩn thoát hiện trong bóng tối, đốm lửa ấy là do cái miệng giống như mõm cá sấu của con quái vật đó phun ra.

Trong hang lúc này lại xuất hiện rất nhiều miệng hang, to lớn dị thường, đều là những hang ngắn, có thể trông thấy miệng hang bên kia, bóng của con quái vật lúc ở hang này lúc ở hang khác, trườn tới, trườn lui hết miệng hang này đến miệng hang nọ, không sao phán đoán được vị trí cụ thể của nó, chốc chốc lại có tiếng gào thét của những người trong bọn, họ bị con quái vật đó bắt đi khi nào không ai hay biết? Từng người một bị biến mất ngay sau lưng tôi. Tôi hoảng loạn thật sự hét lên một tiếng kinh hãi, rồi chui vội vào một miệng hang, thấy thân của con quái vật đang trườn qua trước mặt, tôi nghĩ nó đã trườn qua, thì trước mặt sẽ không gặp nữa, nên cứ thế đâm đầu chạy mãi, bây giờ cả một đội chỉ còn lại mình tôi, chạy khỏi miệng hang có một khúc quanh, qua khúc quanh đó có một hang khác dài hơn, tôi cứ cắm đầu chạy miết không dám ngoảnh đầu lại. Đến khi hai chân đều mỏi rã rời, tôi đến được một ngôi miếu nhỏ dựng bằng mấy tản đá, bên trong chỉ thờ một bệ đá, trên bệ là một hòn đá hình quả trứng khá lớn, cũng khắc toàn chữ ký hiệu, tôi lấy một đoạn cây đã cháy gần hết nằm ngay dưới đất, trên đoạn cây có chút than đen, vội vội vàng vàng viết lên áo những văn tự kỳ lạ tôi gặp được, để sau này, khi thoát được ra ngoài, nhất định sẽ tìm hiểu xem nơi đây là nơi nào? Rồi lại tiếp tục chạy, chạy mãi, đến một cây cổ thụ to lớn, ngọn, cành vươn lên cực cao, tôi đánh bạo trèo lên, không ngờ trên đỉnh ngọn cây cổ thụ này lại là một vòm đất kéo dài vô tận, tôi đoán rằng có thể vòm đất này ăn thông lên trên, chỉ cần đào một cái hố, rồi thoát ra ngoài, nên tôi rút dao găm ra, đào một cái hố thoai thoải hướng lên trên tìm đường chui ra, nếu nền đất đó không ăn thông với mặt đất, thì tôi chắc một điều là sẽ bỏ mạng tại đó vĩnh viễn, tôi ra sức đào mãi, đào mãi, dùng tay cào, dùng súng nạy, dùng dao găm bới đất, đến khi nhìn thấy phía trước sụp xuống, có nhiều chấm sáng lấp lánh xuất hiện, nhìn kỹ thấy toàn sao đêm, tôi vui mừng, leo khỏi miệng hố đã đào, mặc dù đã thấm mệt tôi vẫn cố sức chạy nhanh ra trước, nào ngờ trước mặt là một vực sâu thăm thẳm, tôi mất đà rơi xuống, rồi không biết gì nữa. Đến khi tỉnh lại, đã thấy mình nằm trong một căn nhà của một người dân làm nghề câu sấu(1), ông ta nói, sáng sớm đã thấy tôi nằm sấp bên bờ một con sông lớn, thương tích đầy mình, bèn đem tôi về băng bó, thuốc thang, cũng nhờ thế mà tôi sống sót, Dưỡng thương vài tháng, sau đó, tôi rời Cà Mau, đi qua Campuchia, rồi sang Thái Lan buôn lậu vũ khí, có một dịp tôi ghé một ngôi chùa bên Lào, mới nhớ đến cái áo có ghi văn tự kỳ lạ trên tấm bia, tôi có quen một vị sư phụ bên đó, người đó rất thích nghiên cứu văn tự cổ đại của các nước, nhờ người đó tìm hiểu rõ chữ viết mà tôi phát hiện, mới biết đó là chữ viết của người Việt cổ, sau đó, đem phân tích rồi dịch nghĩa, cũng biết được cụ thể nội dung của nó đại khái là: "Xích Quỉ quốc, đời Hùng Vương thứ bảy, đây là Chiền Thượng, vốn là vùng đất yên bình của nhiều bộ lạc, quanh năm no ấm, nhưng bỗng một hôm, thần linh nổi giận, làm đất đai nơi đây bị nuốt chửng vào bụng ác quỷ, chiền bị chìm trong đêm đen tăm tối, khu rừng trong chiền cũng đã bị lũ ác ma khống chế, mọc ra một loại dây leo, giết hại bao nhiêu tộc người trong làng. Cuối khu rừng có một hang sâu, bên trong là nơi trú ngụ của Rồng Thần, khi Rồng Thần thức giấc, sẽ phun lửa thiêu rụi những dây leo ma quỷ, ngôi miếu này để thờ cúng thần Rồng, mỗi năm đều hiến tế, lễ vật gồm một trăm nệm xôi, một chục con trâu, và một chục con dê để mong thần linh phù hộ. Nay lập bia nhắc nhở con cháu toàn tộc đừng quên!"

Kim đầu kể xong, trán đẫm mồ hôi, đôi mắt thất thần nhìn vào khoảng không như đang lục tìm lại ký ức, vẻ mặt vô cùng hoảng hốt, sợ sệt. Tôi cũng hiểu được phần nào câu chuyện mà Kim Đầu đã trải qua, cũng lờ mờ nhận ra rằng: Từ ngàn xưa, các vua Hùng đã chia bộ lạc của họ đến đây cư ngụ. Có lẽ đó là một vùng đất, có nhiều bộ lạc sinh sống, nhưng có lẽ do kiến tạo địa lý hay gì đó, mà đã xảy ra sụt lở khiến vùng đất "bị nuốt chửng vào bụng quỷ", bị vùi trong lòng đất, nhưng họ vẫn bám lấy quê hương, sống tại vùng này dưới lòng đất tối tăm, rồi lại xuất hiện loại dây leo quái lạ, lại được "Rồng Thiên" nào đó hỗ trợ, có lẽ nó đã phun lửa, đốt đi những dây leo, chỉ tiếc rằng họ bị những dây leo giết chết hết, việc tế lễ hằng năm không được thực hiện đúng tiến độ, khiến "Rồng thần" bỏ rơi, cuối cùng, vùng đất này mãi mãi chìm trong bóng tối. Vậy loại dây leo kỳ lạ kia là cây gì? Rồng Thần được Kim Đầu nhắc đến là con vật thần thoại có thật, hay thực chất chỉ là một con quái vật? Trong lòng đất ấy còn ẩn chứa bí mật gì? Tôi thiết nghĩ, nếu lần này may mắn rời khỏi đây, sẽ đi đến Cà Mau một chuyến xem thật giả chuyện này là như thế nào?

...

Thấy ba cỗ quan tài không còn biểu hiện gì lạ, bọn tôi định trở ra, bé Nhạn dường như phát hiện điều gì, bèn đi đến cuối căn phòng xem xét, thấy trên bức tường bằng đá khối đen có một viên đá khác màu được gắn lên, liền gọi bọn tôi đến xem. Tôi thấy phiến đá được gắn lồi ra nên gọi lão Hòa dùng dá thép khiều thử, đầu nhọn của lưỡi dá vừa chạm vào viên đá, đã nghe vang lên một tiếng "ầm", một bức tường bằng đá khối đen cạnh đó liền xụp xuống, lộ ra một gian phòng đá khác nhìn rất rộng, ba cỗ quan tài cũng dường như có chân, chạy vào gian phòng đó, đồng thời cũng kéo gãy cả ba cây cột hình tam giác, cả bọn hồn như chẳng còn, ba cây cột ấy mà gãy thì trần của căn phòng đá này cũng sụp xuống, cả bọn chỉ có nước bị chôn sống. Cùng lúc này có một lực hút rất lớn, hút cả bọn vào căn phòng bên kia bức tường mới sụp xuống.

Thực chất không có lực hút nào cả, chỉ là nền của căn phòng bị nghiêng vào căn phòng rộng kia mà thôi, nhưng do không biết, nên bọn tôi đều bị ngã, và trượt vào căn phòng bên cạnh. Cả bọn một phen hoảng hốt khi bị "kéo" vào căn phòng rộng bên ấy, chẳng biết trong căn phòng này có chứa bí ẩn gì? Có nguy hiểm hay không? Sau phen kinh hoàng, tôi cũng kịp giơ cao viên ngọc Dạ Hải Thần Châu xem xét xung quanh. Vừa nhìn đã thấy vô cùng sững sốt, thật quái lạ, nơi này, cũng chẳng khác gì căn phòng lúc trước, vẫn có ba cây cột đá hình tam giác, chỉ khác ở chỗ, ba cỗ quan tài Hoàng Dương không sếp thành hình tam giác mà thôi.

Cả bọn chẳng hiểu chuyện gì đã diễn ra, chẳng lẽ những căn phòng này đều ăn thông với nhau, kết cấu y chang nhau hay sao? Nếu vậy, một khi căn phòng này lại bị nghiêng nữa, thì lại xuất hiện căn phòng khác, sẽ xuất hiện bao nhiêu căn phòng nữa đây? Chúng tôi sẽ mãi lẩn quẩn trong những căn phòng này ư? Căn phòng bên kia, tuy bị nghiêng nhưng không sụp đổ hoàn toàn, chỉ thấy vòm của căn phòng bị thu hẹp, bên dưới mấy cây cột gãy là một cái hố lớn đen ngòm, sâu hun hút.

Kiểm tra lại căn phòng bên này, thấy không có viên đá khác màu lồi ra, tôi đoán rằng ngoài căn phòng đá này nữa thì không còn căn phòng đá nào khác. Cẩn thận quan sát xung quanh, ngoài ba cỗ quan tài bị "đẩy" qua đây từ căn phòng trước, nằm không theo lề lối, trật tự gì, và ba cây cột đá hình tam giác chống thẳng lên vòm của căn phòng thì chẳng có gì lạ. Bé Nhạn lên tiếng:

- Nếu đây là mộ ông Táo, thì chắc chắn còn một căn phòng đá khác, căn phòng đó sẽ chứa đồ tùy táng cho chủ mộ. Và đây sẽ là hạ kiều(2), ngoài ra còn có trung kiều và thượng kiều của ngôi mộ nữa, các anh xem, bức tường đằng kia có vết tích bị dịch chuyển, có lẽ đó là cánh cửa để nối liền căn phòng còn lại.

Tôi bước đến chỗ bé Nhạn vừa chỉ, trên bức tường có vết rãnh lớn, y như hình chữ "u" viết ngược, có lẽ đây là một cánh cửa thật, bên dưới nền gặch còn có một đường lõm hình cánh cung. Tôi giương Huyền Thiết Tản ra, đứng tựa một bên của cánh cửa, tì vai vào đẩy mạnh. Cánh cửa rục rịt hé mở, nhờ ánh sáng của Dạ Hải Thần Châu, thấy bên trong là một căn phòng bằng đá, diện tích cũng tương đương với căn phòng bọn tôi đứng, trong căn phòng phản chiếu ánh vàng lấp lánh. Xem ra đúng như bé Nhạn phán đoán, đây là phòng dùng để chôn những vật tùy táng của chủ mộ.

Cánh cửa đá này là một cánh cửa xoay, cửa hé mở, bọn tôi đều bước vào, xung quanh căn phòng này bày la liệt, nào vàng thỏi, bạc nén, nào tượng thú ngọc, nào chén lưu ly, bình hoa sứ, dĩa gốm, vại đồng, ly tách uống trà bằng gỗ quý, đũa ngà voi, vải gấm, khăn nhung, có cả vũ khí như: Kiếm ngắn, đao dài, giáo nhọn, cung tên khảm ngọc, khiên giáp, nhiều vô số, còn có cả bút vàng, giấy lụa, sách thẻ tre, sách lá, áo bào, giầy, mão thời xưa... Mỗi một món đều là đồ cổ cả, với kinh nghiệm và kiến thức của bé Nhạn cùng Kim Đầu, họ đều công nhận rằng: "Đây là đồ cổ thời nhà Đinh(3), cách đây cả chục triều đại, cũng hơn cả ngàn năm". Nếu như vậy, có thể nói mỗi món nơi đây đều có giá trị liên thành cũng không ngoa chút nào, lại toàn là đồ quý hiếm. Thấy nét mặt ai cũng hớn hở, chăm chú nhìn những món bảo vật, tôi lại thấy có gì đó bất thường ở đây, cái cảm giác bất an lại len lõi trong từng khúc xương, từng thớ thịt trên người tôi. Bấy giờ tôi đã thấy, điều không bình thường ấy đã xuất hiện.


------------

Chú thích:

(1) Câu sấu: Săn bắt cá sấu.

(2) Kiều: Cầu

(3) Nhà Đinh: Triều đại phong kiến Việt Nam do vua Đinh Tiên Hoàng – Đinh Bộ Lĩnh lập năm 968, mất năm 980.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)
Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương XI:

ĐƯỜNG VÀO LĂNG MỘ DƯỚI LÒNG ĐẤT

Khi tôi nhận ra điểm bất thường, cũng là lúc, trên những vách đá của căn phòng xuất hiện nhiều lỗ tròn nhỏ, bên trong những lỗ tròn này bắn ra vô số tên. Thật là, chỉ nghĩ đến cơ quan "Liên hoàn đoạt mệnh tiễn" cũng khiến người ta vỡ tim, đằng này, hầu như trên khắp mọi ngóc ngách trong căn phòng này lại có vô số lỗ tròn, những mũi tên nhọn đầu bịt sắt bắn ra veo véo, bọn tôi cả đám, đỡ được một hướng đã là may, đằng này bốn phương, tám hướng đều đồng loạt bắn tên ra, phen này muốn rút lui e cũng là một điều hết sức nan giải rồi.

Tuy bọn tôi có áo chống đạn, lại có cả Huyền Thiết Tản, nhưng Huyền Thiết Tản chỉ đủ che một hướng, có áo chống đạn nhưng chẳng có quần chống đạn, chắc chắn một điều rằng: Trên người bọn tôi sẽ có chỗ bị cắm đầy mũi tên vào như lông con nhím. Tôi bèn dùng Huyền Thiết Tản gạt tứ phía để chắn những mũi tên, đồng thời cũng rút dần về phía cánh cửa xoay, nhưng những mũi tên vẫn bắn ra loạn xạ, ngoài hướng của cánh cửa xoay bằng đá không có tên bắn, các hướng còn lại đều nghe tiếng mũi tên vun vút bắn ra. Rất may, sau lưng tôi là cái ba lô chứa đồ đạc, những mũi tên mà tôi không gạt đi kịp đều bắn vào đó, ba lô bị tên bắn găm vào thủng lỗ chỗ.

Khi ba lô bị thủng, tôi phát hiện có một chiếc hộp dài rơi ra, chiếc hộp ấy là lúc tôi vào căn phòng nhỏ tối om lấy được, trong khi bên ngoài mọi người đang bắt đầu đối phó với lũ chồn. Tôi cũng chưa kịp mở ra xem bên trong ấy là vật gì? Tôi nhanh tay vội nhặt lên, chẳng cần biết bên trong có gì, tôi vội mở hộp ra, bên trong ấy là một vật, nhìn vẻ ban đầu thì giống một cây thước ngắn, cầm lên xem thấy nằng nặng, có thể xòe ra, thì ra đây là một cây quạt bằng vật liệu rất cứng, lại bóng loáng như lưỡi kiếm được mài kỹ, tôi đoán đó là một cây quạt xếp đúc bằng thép, hai thanh thép bên ngoài là cán có khắc những vạch nhìn như một loại thước dài khoảng nửa thước, lại được chia ra làm tám khoảng nhỏ. Đầu tôi lại nhớ ra một loại thước có từ thời xa xưa, dùng để đo dương trạch và âm trạch của mấy ông thầy địa lý, đó chính là "Thước Lỗ Ban". Nhưng có điểm khác là cây thước này được khắc trên cán quạt bằng thép, còn "Thước Lỗ Ban" được mấy thầy phong thủy sử dụng lại làm bằng gỗ.

Xin nói thêm về loại "Thước Lỗ Ban", đó là một cây thước gỗ dài chính xác năm tấc mốt (51 cm), thước có tám cung, là biến thể của đồ hình Bát Quái, thay vì sắp theo hình tròn, người ta sắp lại theo hàng ngang. Trong tám cung đó có bốn cung tốt và bốn cung xấu, chia ra làm hai màu đỏ và đen xen kẽ nhau, đi từ trái sang phải, sắp xếp theo thứ tự sau :"Tài - Bệnh - Ly - Nghĩa - Quan - Kiếp - Hại - Bản", trong mỗi cung đó lại chia thành năm cung nhỏ (tượng trưng cho Ngũ Hành). Thường dùng để đo dương trạch là nhiều (chủ yếu ở các cửa lớn nhỏ trong nhà), với những ứng nghiệm riêng, ví dụ như:

- Cung Tài: Nghĩa là tiền của, ứng nghiệm tốt nhất với cổng lớn, nơi đón nhận của cải từ ngoài vào.

- Cung Bệnh: Là đau bệnh, ứng nghiệm đặc biệt vào nhà vệ sinh. Nơi này thường là góc hung (góc xấu) của nhà, cửa lọt vào chữ "Bệnh" sẽ thuận lợi cho bệnh tật thoát ra.

- Cung Ly: Là chia lìa, rất kỵ cho cửa trong nhà. Cửa lọt vào chữ "Ly", chồng thì làm ăn xa nhà, vợ gặp điều quyến rũ, con cái hoang đàng phá phách.

- Cung Nghĩa: Rất tốt cho cổng lớn và cửa nhà bếp, cửa các phòng thông nhau thì không nên để lọt vào cung này.

- Cung Quan: Rất kỵ ở cổng lớn vì tránh chuyện kiện tụng ra chính quyền, nhưng lại tốt ở cửa phòng riêng vợ chồng, vì sẽ sinh con quí tử.

- Cung Kiếp: Là bị cướp, tượng trưng cho tai hoạ khách quan đến từ bên ngoài khiến hao tổn tiền của. Tránh ở cổng lớn, nhất là các cửa hàng, tiệm buôn càng nên lưu ý.

- Cung Hại: Tượng trưng cho mầm xấu nhen nhúm từ bên trong, rất kỵ ở các cửa phòng trong nhà.

- Cung Bản: Tượng trưng cho vốn liếng, bổn mạng. Thích hợp cho cổng lớn, chia thành: Tài Chí (tiền của đến), Đăng Khoa (thi đậu), Tiến Bảo (được của quý), Hưng Vượng (làm ăn thịnh vượng).

Nếu nói rõ lai lịch, xuất xứ, cách sử dụng của Thước Lỗ Ban, thì có lẽ phải kể ba ngày, ba đêm không hết. Trong lúc bọn tôi bị kẹt giữa những làn tên hung hiểm, tình cờ lại nhặt được cây quạt thép có khắc Thước Lỗ Ban, cũng chẳng còn tâm trí nghĩ xem nó có tác dụng gì? Lại còn được khắc trên cán của một cây quạt thép là nghĩa làm sao? Khi các mũi tên từ tám hướng, bốn phương bắn về bọn tôi, chỉ còn biết lấy nó ra che chắn phần nào hay phần đó, lúc xòe cây quạt ra, nó cũng không khác gì một lá chắn che phần sau lưng, bèn thuận tay sử dụng. Không ngờ sức bảo vệ của nó phải nói là hoàn mỹ. Những mũi tên bắn vào nếu không bị tà đầu, thì bị bắn văng ra ngoài, rất thuận tay khi sử dụng. Tôi khiều bé Nhạn gần đó, nhờ cô bé giữ hộ cây Huyền Thiết Tản, còn tôi thì cầm cây quạt thép tạt bên này, giũ bên kia hòng ngăn chặn những loạt tên chí mạng đang bắn túi bụi về bọn tôi, lão Hòa một tay cầm ba lô chắn tên, một tay cũng huơ cây dá thép gạt những mũi tên ra, anh Bình thì trước khi lên đường đã tìm thợ, rèn hai đoạn thép có thể tháo rời và lắp vào thành một cây côn dài, dùng hai đoạn thép ấy cũng hỗ trợ gạt đỡ những mũi tên, bé Nhạn thì sử dụng Huyền Thiết Tản của tôi, số còn lại thì lấy ba lô ra làm khiên che, tạo thành một vòng chắn khép kín.

Góc tường gần cửa đá là nơi bọn tôi bị những mũi tên dồn về một chỗ, phải ngồi mới không bị những mũi tên bắn vào chân, tiếng la hét của cả bọn vang lên không dứt, bát nháo, hỗn tạp. Bé Nhạn rất linh hoạt, nắm chặt Huyền Thiết Tản đang xòe, bịt chặt một số lỗ tròn đang bắn tên, rồi kéo lê dần về phía cánh cửa đá, bọn tôi cũng đồng thời lê thân theo, đến cánh cửa tôi cầm cây quạt thép đoạn hậu, mọi người cùng theo nhau thoát khỏi căn phòng đá, khi bọn tôi thoát ra ngoài rồi, trong căn phòng kia, các mũi tên vẫn bắn ra như mưa, nhiều vô số kể.

Tuy đã ra khỏi căn phòng đá, thoát khỏi những mũi tên đoạt mạng, nhưng cả bọn đều thấy tiếc nuối, vì chưa quan sát kỹ căn phòng ấy ra làm sao? Tuy đồ tùy táng có nhiều nhưng cả bọn chẳng kịp nhặt nhạnh lấy thứ gì, trong khi đó bẫy tiễn lại bắn ra nhiều không kể xiết, đi trộm mộ mà chưa kịp thó đồ đã quay lưng bỏ chạy thì đúng thật quá ư mất mặt! Lúc này, nhìn lại mọi người, thấy ngoài anh Bình bị một mũi tên bắn sượt qua tai ra, tất cả còn lại đều bình yên vô sự. Tôi nói:

- Dô đây rồi! Hông dìa tay không, mọi người chờ ở đây, tôi tìm cách phá cái cơ quan này!

Nói xong tôi đứng dậy, giao cây quạt thép lại cho bé Nhạn giữ, rồi lấy Huyền Thiết Tản xòe ra, chuẩn bị bước vào căn phòng đá tìm cách phá cơ quan. Theo những gì tôi học được từ vị thầy mù, loại cơ quan này có tên gọi là "Tử vong tuần hoàn xuyên tâm cung", là một loại cơ quan bắn tên hoặc phi trâm liên tục, vận hành bằng sức nước, có nút lẫy khởi động, cũng có nút lẫy đình trệ hệ thống được giấu kín. Dù cho có phá hỏng hệ thống cơ quan, mà không kích hoạt làm nút lẫy ngưng lại thì các mũi tên hoặc phi trâm vẫn bắn ra không ngừng. Tôi cầm Huyền Thiết Tản bước từng bước quan sát, tìm nút lẫy để làm ngưng cơ quan đó đi, vừa bước vào đã nghe những mũi tên xé không gian bắn ra vun vút. Qua khỏi cánh cửa đá, cũng là đang đối mặt với cơ quan tử thần, viên Dạ Hải Thần Châu nắm chặt trong tay, soi tìm nút lẫy để làm ngưng lại cỗ cơ quan. Giơ viên ngọc trong tay soi sáng, trong khi tay còn lại vung cây dù thép như chong chóng gạt những mũi tên đang bắn không ngừng.

Chợt, tôi thấy phía trên trần của căn phòng có một số viên gạch sếp theo hình bảy ngôi sao thất tinh, viên nhỏ, viên to không đều. Trên mỗi viên đều khắc một mũi tên theo kiểu nguyên thủy, lòng tôi thầm đoán đây chính là chốt lẫy để làm ngưng trệ cơ quan, bởi khi bọn tôi bước vào, cơ quan này đã được người nào đó trong số bọn tôi vô tình khởi động rồi, như vậy lẫy phát động sẽ ở dưới nền, hoặc trên vách, còn trên trần sẽ là chốt lẫy ngưng động cơ quan.

Tôi vội lùi ra cửa, cúi người đặt cây dù thép đang xòe chắn trước mặt, dùng chân đạp cán dù, tay phải moi ra đúng bảy cây đinh sắt, nhắm chuẩn xác vào bảy viên gạch rồi phóng vào, bảy cây đinh với lực bắn khá mạnh, kèm theo độ chính xác, đã bắn trúng vào bảy viên đá thất tinh. Chỉ nghe "rụp" một tiếng, các mũi tên đang bắn lập tức dừng lại, thôi không bắn nữa, cùng lúc đó, tôi chợt nghe bên ngoài căn phòng có tiếng la hét, kèm tiếng súng nổ đì đùng. Tôi phát hoảng quay đầu lại, đoán chừng đã có biến cố xảy ra. Khi quay đầu lại đã thấy các “dây leo xiết cổ” vươn ra, những người đồng hành cùng tôi nổ súng, nhưng nó chẳng hề hấn gì, vươn ra càng nhanh, huơ tới, huơ lui hòng tìm được người mà quấn lấy, tôi vội cầm cây dù thép đặc biệt của mình chạy ra, đồng thời giơ viên Dạ Hải Thần Châu lên soi rõ mọi ngóc ngách bên căn phòng có ba cỗ quan tài Hoàng Dương, các dây leo gặp phải ánh sáng diệu kỳ của viên ngọc, vội co lại, tìm đường lủi đi mất, bây giờ tôi và cả bọn mới nhận ra, lúc đầu, khi các dây leo quấn bọn lão Hòa, bé Nhạn, và Hiển Thủy Tề gặp phải một thứ khiến chúng hoảng hốt rút lui, thứ đó không phải là vật gì đáng sợ như tôi nghĩ, mà chính là ánh sáng kỳ ảo của viên Dạ Hải Thần Châu.

Trên cõi đời này luôn tồn tại một định luật, đó là vật này khắc chế vật kia, vật kia lại bị vật khác khắc chế luân phiên, tuần hoàn. Điều này gọi là "Vật cực tất phản" trong Phật giáo hay nói đến. Từ thuở hồng hoang, trời đất khai thiên đã tồn tại thuyết Thái Cực, Bát Quái, Ngũ Hành, Thập Nhị Giáp... Mỗi sự vật, sự việc trên đời nếu muốn tồn tại phải chịu ảnh hưởng của quy luật tương sinh, tương khắc với nhau. Nhưng việc một loại dây leo có thể sợ ánh sáng, thì lại đi ngược lại những quy tắc ấy, nghĩ vậy tôi cứ đứng trân trân, không thốt được nên lời, hồn thả trôi theo những quy luật vốn tự nhiên của nhân loại và không hiểu được việc đã xảy ra, không hề tuân theo nguyên tắc khoa học, hay quy luật tự nhiên nào cả.

Cả bọn đều chứng kiến các dây leo rút lui, vội tập trung tinh thần, hít thở một hồi sau phen kinh hãi, thấy tôi đứng yên, liền lay gọi, tôi mới chợt như từ trong mộng bước ra, nhìn lại mọi người, thấy không ai bị làm sao, mới nói lại tình hình bên trong căn phòng có cơ quan "Tử vong tuần hoàn xuyên tâm cung" đã bị tôi phá giải ra sao. Nghe xong ai nấy đều mừng thầm, vẻ mặt có phần hân hoan, phấn khởi, cùng tôi đi vào căn phòng đó. Minh khí (tức đồ tùy táng) trong phòng rất nhiều, nếu nói lấy đi hết, thì e với sáu người bọn tôi, dù cố gắng lắm, chắc hẳn cũng phải mất cả tháng mới vận chuyển hết, huống hồ đoạn đường đã đi qua hiểm trở khôn lường. Nghĩ vậy tôi định bàn với mọi người, chỉ nên lấy đi một ít tài vật, số còn lại, sẽ để lần sau vào đây đem theo vật dụng, rồi khuân đi nốt, và cũng nên để lại một số minh khí cho chủ mộ, theo đúng quy tắc hành nghề của phái trộm mộ, còn việc đốt nhang để xin xỏ gì đó, thì không cần, bởi đã thấy quan quách thật sự của chủ mộ đâu mà hành lễ đúng quy định của tông phái. Chưa kịp mở lời, lão Hòa và Hiển Thủy Tề đã vội nhặt lấy, được thứ gì thì cho vào ba lô thứ ấy, bất kể lớn nhỏ. Thấy vậy, bé Nhạn vội ngăn lại:

- Đừng động dô, tôi cảm giác được, nơi này... Nơi này... Có gì đó kỳ lắm...!

Bé Nhạn vừa nói xong, vẻ mặt đã tái đi, điệu bộ hốt hoảng, bàn tay vội nắm chặt lấy cánh tay tôi, tôi nhìn theo đôi mắt bé Nhạn. Thần trí tôi lập tức cũng bị nỗi kinh hoàng vây lấy, trên trần của căn phòng như bị vật gì đè lên, bỗng dưng xuất hiện một vật tròn tròn như một quả cầu khổng lồ đang đè trần đá của căn phòng lún xuống, nơi có các viên đá xếp thành bảy ngôi sao, bọn tôi thất kinh, vội nhanh chóng lùi lại. Vật to tròn kia từ từ lún xuống, rồi lại chuyển động như nhựa dẻo, dần dần hình thành một gương mặt khá to, có đôi môi dày, đôi mắt không đồng tử, cái mũi tròn, nhìn chẳng khác một cái đầu Phật bằng đá, chỉ khác là nó không có đôi tai. Gương mặt đó từ từ chuyển động, từ hai bên khóe môi, lại mọc ra hai nhú đá, nhìn như nanh heo rừng to tướng. Đây nào phải tượng đầu Phật gì, nhìn giống đầu ác thần thì đúng hơn!

Tôi chả còn biết đó là cái quái gì, chỉ nhìn thấy, sau khi xuất hiện, cái miệng nó dần dần mở to ra, nhìn vào trong ấy như một ô cửa vậy, bên trong còn thấy thấp thoáng ánh sáng, lúc đỏ, lúc hồng, lúc mờ, lúc tỏ. Cái miệng bằng đá ấy mở to, rồi kéo dài từ không trung của căn phòng xuống dưới mặt nền. Cũng từ trong cái miệng quái dị kia, bọn tôi thấy được có bậc thang cũng bằng đá, xếp dần lên trên. Khi cái miệng ấy mở to đến mặt nền thì dừng lại, không còn động tĩnh gì nữa, nhưng bé Nhạn vẫn run lên, càng xiết chặt cánh tay tôi, vẻ mặt tái đi, cứ ngó trân trân vào cái đầu, môi lắp bắp nói:

- Đây... Đây là... Đây chính là... Cửa U Minh... Là U Minh Giới... U Minh Giới trong mộ thất...!

Cả bọn có người nghe được, có người chẳng nghe bé Nhạn lí nhí điều gì, tuy tôi nghe bé Nhạn nói rất rõ từng chữ, nhưng cũng chả hiểu ý nghĩa ra sao, bèn quay lại:

- Cái cô này! Nói xàm gì đó! Cái gì là cửa U Minh, lại còn U Minh Giới gì gì đó, cái miệng này liên quan gì tới rừng U Minh chứ?

Bé Nhạn nói càng nhỏ hơn, trong khi giọng nói lại run hơn nữa:

- Hông... Hông phải rừng U Minh... Đây là cửa dẫn dô... Dẫn dô địa ngục... Có đi hông có dìa... Dô rồi, chỉ có... Chỉ có rũ xương ở đây... Suốt đời...

Vừa nói, cô nàng vừa run run cánh tay, chỉ vào cái miệng đá to tướng đang ngoác ra. Cả bọn cùng một phen giật mình, tôi vội lấy lại bình tĩnh, nói:

- Tụi mình trải qua bao nhiêu chuyện kinh thiên động địa, hông phải là còn đang sống sờ sờ đây sao? Tôi hông tin cái gì gọi là "có đi hông dìa", cũng hông tin cái "A Tì, Địa Ngục" gì ráo. Cứ dô thử một lần coi sao?

Cả bọn cũng nhất trí tán thành, tôi lại quay sang bé Nhạn:

- Bọn tôi sẽ dô đó một chuyến, nếu cô sợ, cứ tự nhiên tìm đường quay dìa đi!

Bé Nhạn như bị lời nói của tôi kích động chạm vào sợi dây tự ái, nhưng vẻ mặt vẫn không thay đổi:

- Sao anh lì quá dậy? Hông được dô đâu... Các anh sẽ chết... Dô đó chỉ có chết...!

Tôi an ủi cô nàng:

- Bây giờ, cả đám đã dô tới đây rồi, nếu hông có đường ra, trước sau gì cũng chết, hay cô theo bọn tôi, tùy dô hên xui một chuyến thôi, tôi sẽ cố gắng chiếu cố cho...!

Cả đám cùng gật đầu, thấy vậy, bé Nhạn cũng có thêm phần tự tin, nhưng nhìn tôi hằn học, rồi cũng đồng ý đi theo bọn tôi. Tôi quay qua bàn với cả bọn gom đi một mớ minh khí, lấy bánh pía ra lót dạ, lại thay phiên nhau chợp mắt một tí. Cả bọn chia nhau ngủ được vài tiếng đồng hồ, khi thức dậy lại chuẩn bị hành trang lên đường, cả bọn lấy vải vóc, khăn màn, quấn vào những cây côn, cây thương cán gỗ trong phòng đốt lên để có thêm ánh sáng, tôi soi Dạ Hải Thần Châu đi trước dẫn đầu, theo sau tôi là bé Nhạn, anh Bình, rồi đến Hiển Thủy Tề, lão Hòa và Kim Đầu soi đuốc đi sau cùng, dần tiến vào trong cái miệng quái dị đang mở to, cái miệng như của một con quỷ đang há ra để các con mồi là bọn tôi bước vào.

Dọc đường đi, bé Nhạn có cho bọn tôi biết thêm, ông nội cô có một cuốn kỳ thư nói về vô số mộ lạ, cách bố trí phong thủy, cùng những dị tượng gặp phải trong mộ, thường thì Mộ Ông Táo có chôn ba người, có ba quan tài, cũng có ba tầng, mỗi tầng có ba gian phòng, ba tầng ấy chia ra làm: "Thượng, Trung và Hạ kiều", nếu trong mộ đạo đã có cửa dẫn vào U Minh Giới, thì vẫn còn hai phần nữa, đó là: "Quỷ Môn Cung và Xa Luân Trì", mức độ hung hiểm sẽ tăng lên theo từng phần, mỗi phần đều có vật nguy hiểm trấn giữ. Trong lăng mộ, nếu như đã đi vào ba tầng, thì chỉ khi nào kẻ đó có mạng lớn, vận may, bản lĩnh đầy mình, mới mong trở về bình an, bằng không sẽ ở mãi trong "Tam Kiều" ấy vĩnh viễn, cũng tức là đã bỏ mạng lại đây.

Cũng trên đường đi, bé Nhạn trao cho tôi một vật, giống như lệnh bài vậy, nhưng làm bằng đá, chẳng biết loại đá gì, cứng hơn so với đá Hoa Cương, và sáng hơn cả đá Sapphire, một mặt có khắc chữ Tiều theo lối chữ thảo cổ, mặt kia khắc hình một con Kỳ Lân đang nhe nanh, giương vuốt, dáng vẻ oai phong lẫm liệt, miếng đá ấy có hình bát giác, bốn cạnh ngắn, bốn cạnh dài xen kẽ, bé Nhạn nói, đó chính là bùa hộ thân của các hiệp khách Thiên Tông. Tôi nhận miếng đá đeo lên cổ, ngạc nhiên hỏi bé Nhạn:

- Ủa! Sao chỉ có một miếng dị?

Bé Nhạn nói lại:

- Khi phái trộm mộ Thiên Tông được du nhập qua đây, tổng cộng chỉ có bốn cái Linh Phù: Long, Lân, Quy, Phụng. Ông nội tôi có cả ba cái. Linh Long ông nội mang theo trong mình, tôi đang đeo Linh Phụng, cái anh đang đeo là Linh Lân, còn Linh Quy, nghe cha tôi kể, nó đã bị một người trong Địa Tông trộm mất, đến nay vẫn chưa thấy tái hiện. Còn ông nội tôi thì khi qua miền Nam này, đã biệt tích một cách bí ẩn cùng với Linh Long, hông thấy tin tức gì, nên tôi mới dô trong Nam này tìm.

...

Đây là vật tổ truyền của dân trộm mộ, ở bên Tàu có hẳn một số bùa, ấn dùng để hành nghề trộm mộ, khi xưa, nghe nói Ngụy Vương Tào Tháo thành lập đội quân chuyên đào mồ quật mả, có truyền một số linh vật hành nghề như: Phái Phát Khâu có Phát Khâu Ấn (Ấn Đào Mộ), phái Mô Kim có Mô Kim Phù (Bùa Mò Vàng), Phái Ban Sơn có Ban Sơn Giáp (Áo Giáp Dỡ Núi), phái Xả Lĩnh có Xả Lĩnh Bài (Lệnh Bài Xẻ Núi). Đó là những vật chứng nhận tư cách hành nghề của dân trộm mộ, đồng thời cũng có khả năng trừ tà, bảo vệ kẻ chuyên đào mồ, cuốc mả. Nhưng Linh Phù của Thiên Tông Phái thì lại khẳng định, đó là vật nhắc nhở kẻ hành nghề phải biết trợ giúp kẻ khốn khó, đào mồ, trộm minh khí cũng phải dùng cho việc tế bần, trợ nguy cho người nghèo khổ, không vì tư lợi cá nhân mà đánh mất đi tôn nghiêm của một Hiệp Khách Xới Mả. Vì lẽ đó, những Linh Phù này khi đeo vào để hành nghề, việc trừ hung, tránh tà rất hiệu nghiệm, đồng thời chủ nhân ngôi mộ cũng sẽ cảm thông phần nào cho dân trộm mộ vào mộ phần của mình mà có mang theo Linh Phù của Hiệp Khách Thiên Tông.

Tôi soi viên ngọc với ánh sáng kỳ ảo đi trước, ước chừng cả bọn đi khoảng bốn, năm trăm thước, bậc thang đá lại có phần dốc xuống. Lại đi xuống nữa, đến hết bậc đá dốc xuống, thì có một con đường lát đá phiến màu xanh ngọc trải dài, phía cuối con đường đá ấy tối đen, ánh sáng của viên ngọc và mấy cây đuốc không thể vươn tới phần tối ấy. Bọn tôi bước trên con đường đá ấy mà đi, đến khi đã thấy mỏi chân, thì trước mặt xuất hiện một con đường bằng đá đỏ, những phiến đá trong suốt như gương, nhưng lại có màu đỏ tươi như máu, nối liền với con đường bằng đá phiến màu xanh ngọc. Bọn tôi cẩn thận bước thật nhẹ lên những phiến đá nối liền, thẳng tắp ấy.

Đi được một quãng nữa, chợt Hiển Thủy Tề lên tiếng:

- Mấy ông ơi...! Nghỉ mệt chút đi...! Sắp đứt hơi rồi...!

Nghe vậy, cả bọn ai nấy cũng đã mệt rã rời, nên vội dừng lại, ngồi ngay trên con đường đá đỏ trong suốt kia để nghỉ ngơi, uống nước. Tôi lại rút một điếu thuốc ra châm lửa, vừa hút, vừa quan sát động tĩnh xung quanh, cả con đường màu xanh ngọc ban nãy, và con đường đỏ màu máu trong suốt này đều nằm dưới vòm hang bằng đá hình cánh cung, kéo dài vô tận. Trên vòm, cứ cách khoảng mười mấy thước lại có một ô vuông, tôi đoán đó chính là lỗ thông hơi của ngôi mộ kỳ lạ này, nếu đó là lỗ thông hơi, thì có lẽ nó sẽ thông với bên ngoài, nhưng chỗ bọn tôi đứng cách mặt đất có lẽ cũng cả ngàn thước, có khi còn sâu hơn, nếu lỗ thông hơi mà dài đến vậy, e rằng với cả vạn ô vuông kia, chắc hẳn đã mất rất nhiều nhân lực, vật lực, thậm chí cả trí lực. Nghĩ vậy, tôi thầm ngưỡng mộ kẻ đã thiết kế ra ngôi mộ này, quả là một người xuất chúng, nhưng đáng tiếc một nơi kỳ công, tuyệt vời như vậy, lại chỉ để dành cho người chết!

Nghỉ ngơi đôi chút, cả bọn lại "hành quân" tiếp, đi hết con đường màu đỏ trong suốt thì lại gặp một con đường dốc, có vô số bậc thang kéo dài dẫn xuống bên dưới. Lúc này, cả bọn đều thấy khó thở, lồng ngực như bị ép lại sắp vỡ tung. Kim Đầu mới bảo tôi lấy mấy vỉ thuốc phòng độc cho cả bọn nuốt vào, lại lôi trong ba lô của lão sáu cái bình dưỡng khí nhỏ, chia cho cả bọn. Lại đi hết những bậc thang đá, lần này bọn tôi gặp một con đường màu vàng óng, có thể phản chiếu cả hình ảnh bọn tôi lên trên. Thấy vậy tôi giơ nắm tay lên, ra hiệu mọi người dừng lại. Cúi xuống quan sát, màu sắc con đường này giống y màu sắc của mấy thỏi vàng bọn tôi đã nhặt trong ngôi mộ Tiều cổ, tôi ngạc nhiên, vội cất tiếng:

- Thánh Thần Thiên Địa ơi! Nguyên con đường này, toàn lát bằng dàng (vàng) không đó!

Cả bọn cùng cúi xuống nhìn, ngạc nhiên không kém gì tôi. Thực chất thì ngôi mộ này chôn những ai? Ba cái xác bị thi biến kia, chắc chắn không phải chủ nhân ngôi mộ, mà chỉ là những vật giữ mộ mà thôi, vậy mà, quan tài của chúng lại có giá trị khá lớn, như thế chủ nhân của ngôi mộ này được nằm trong những quan quách như thế nào? Đồ tùy táng lại là vật của triều nhà Đinh, vậy ngôi mộ này có liên quan gì tới triều đại cổ xưa cách đây hơn chục thế kỷ ấy? Ngay con đường dưới chân bọn tôi đã có giá trị rất lớn, vậy lăng mộ này còn chứa đựng những vật dụng giá trị gì? Ý nghĩa của từng kết cấu ra làm sao?... Những câu hỏi này phải đợi đến khi bọn tôi đi đến tầng cuối cùng của Mộ Ông Táo mới mong giải đáp được!

Cứ đi, bọn tôi cứ lần theo con đường bằng vàng bước đi mãi. Hết đoạn đường ấy, bọn tôi thấy trước mặt là một cánh cửa gỗ, bên trên cánh cửa có những mũ đang đồng lớn như cái chén to đính vào, vẫn còn độ bóng loáng như vừa được đánh xong. Bên trên cánh cửa có đề ba chữ Triện lớn viết bằng tiếng Tiều, chỉ có bé Nhạn mới biết được chữ viết trên đó mang ý nghĩa gì. Tôi vội hỏi:

- Ê! Trên đó diết cái gì dậy?

Bé Nhạn trả lời rất khẽ, dường như chỉ nói qua hơi thở:

- Là ba chữ "U Minh Giới"!

Tôi gật gật đầu, rồi cùng cả bọn tiến đến gần cánh cửa. Đưa tay đẩy thử, tôi thấy cánh cửa gỗ này khá nặng, bèn ra hiệu cho cả đám xúm vào đẩy, hì hục một lúc cánh cửa mới hé mở, cánh cửa khá dày, tôi nói với cả bọn:

- Mạnh tay dô! Hai... Ba...

Tiếng kèng kẹt vang lên, cánh cửa đã mở rộng ra khoảng ba, bốn thước. Tôi đi vào trước, giơ viên ngọc lên soi đường, phía trước mặt liền hiện ra một thân cây bằng gỗ tròn, nằm dài trên mặt đất, nơi bọn tôi đứng là một cái bờ, bên dưới cái bờ tối đen không thấy gì, đầu bên kia của thân cây kéo dài vào bóng tối, chắc hẳn thân cây này cũng khá dài, ước chừng hơn hai, ba chục thước chứ chẳng chơi. Cả bọn nhìn nhau, sống lưng đều thấy ướt đẫm mồ hôi, thân gỗ tròn dài kia, có lẽ là một cây cầu, thân cầu vừa tròn, vừa trơn, đi không khéo sẽ ngã ngay xuống bên dưới, chẳng biết bên dưới ấy bao sâu? Chỉ biết ánh sáng không thể soi rõ được.

Bé Nhạn lấy trong ba lô ra một vật có gắng dây thừng, đó là một cây móc sắt có ba ngạnh nhọn ngắn, chia ra ba hướng, bé Nhạn một tay quay cây móc sắt, một tay giữ cuộn dây thừng, bất ngờ vung tay cầm móc, quăng cây móc về phía bên kia của cây cầu. Chỉ nghe móc sắt bay "vù", rồi "keng" một tiếng, móc sắt đã móc vào vật gì đó bên kia. Bé Nhạn cố định đầu dây đang cầm bằng một cây đinh leo núi đóng vào cánh cửa gỗ, lấy sợi dây thừng ấy làm tay vịnh để đi qua cây cầu vừa tròn, vừa trơn kia.

Thế là cả bọn kẻ trước, người sau, lần lượt đi qua, những ánh đuốc trong tay cứ chập chờn trong bóng tối mịt mù, chỉ có viên ngọc trong tay tôi là phản chiếu thứ ánh sáng kỳ ảo, đi đến đâu là xua tan bóng tối đến đó. Khi đã đi qua được đầu cuối của cây cầu, cả bọn vẫn bình an vô sự, nhưng mồ hôi lạnh đã túa ra khắp người, nếu như, trong lúc đi trên cây cầu gỗ, mà có một vài con dơi vô tình đâm sầm vào bọn tôi, thì e là bọn tôi sẽ rơi xuống bên dưới, không biết chuyện gì sẽ xảy ra nữa? Sự hồi hộp cũng dần qua, nhưng trước mắt bọn tôi, nguy hiểm đã bắt đầu xuất hiện!

Vừa bước đến bờ bên kia, tôi đã cảm nhận có một luồn âm phong ập đến, trước mắt hiện ra một vòm hang rộng lớn, luồn âm phong là từ trong sâu thẳm của vòm hang thổi tới. Cả bọn ngơ ngác nhìn, thấy có những đốm sáng li ti, lập lòe, anh Bình lách người, tiến về trước soi đuốc nhìn cho rõ xem những đốm sáng ấy là gì. Bỗng, anh Bình la lên:

- Trời ơi! Ma... Có ma...!

Tôi cũng đã nhận ra phía trước có một đám người bằng xương sọ, chúng đang nằm, ngồi ngổn ngang bên chân tường gạch của vòm hang, rồi đột nhiên cử động, từ từ đứng dậy, trong tay đang cầm dao lăm lăm tiến về bọn tôi. Nhìn những bộ xương người trắng hếu kia hấp tấp tiến về trước, khiến ai nấy cũng hết hồn, tán vía, coi bộ tình hình này chỉ còn nước chiến đấu với cái lũ "Quỷ Cốt" ấy là cách giải quyết triệt để nhất. Khai Sơn Kiếm đã được rút ra, cầm chắc trong tay tôi, những người khác đều trong tư thế sẵn sàng, nhưng người ra tay trước không phải người đi đầu là anh Bình Lùn, hay tôi mà là... Kim Đầu - Người đi sau cùng.

Một loạt đạn quét ra, lũ "Quỷ Cốt" đã có vài con trúng đạn, từng đoạn xương rụng rời. Nhưng những con không trúng đạn vẫn tiến lên, vung dao bằng cánh tay trơ xương chém bổ vào bọn tôi. Tôi vung Huyền Thiết Tản gạt đỡ, đồng thời cũng lia Khai Sơn Kiếm chống trả, cả đám hoảng loạn né bên này, tấn công bên kia, khung cảnh nháo nhác hẳn lên, Kim Đầu sợ bắn lầm, cũng thôi không bắn nữa, rút cây dao găm M chín cùng xông lên tấn công. Nhưng chuyện này không đơn giản chỉ có vậy, lũ "Quỷ Cốt" như những cỗ máy được lập trình, càng đánh càng hăng, càng tấn công càng lợi hại, khiến cả bọn luống cuốn tay chân, chỉ còn chống đỡ, không ngờ đám xương sọ tưởng như mục rửa này lại lợi hại đến vậy! Vài cây đuốc đã tắt, trong vòm hang lại trở nên chập chờn, ánh lân tinh từ những bộ xương tỏa ra lúc mạnh lúc yếu, càng khiến vòm hang trở nên âm u, đáng sợ. Lũ "Quỷ Cốt" vẫn điên cuồng tấn công, không hề có chút sợ hãi, cũng không hề tỏ ra mệt mỏi, càng làm cho bọn tôi hoang mang, bấn loạn.

Lựu đạn của Kim Đầu đã dùng hết khi chiến đấu với con Chồn Chúa, bây giờ, chỉ còn súng đạn, nhưng sợ tình thế hỗn loạn rất dễ bắn vào "đội nhà", nên không ai dám manh động sử dụng đến cái thứ biết khạc ra lửa ấy. Hiển Thủy Tề đã bị thương, một vết chém trúng vai. Bọn tôi không còn tâm trí xem vết thương nặng nhẹ, chỉ kịp lao đến ứng cứu tạm thời. Trong lúc ứng cứu, bé Nhạn lại bị chém trúng đùi, khiến tình thế cả bọn thêm nguy cấp, tôi vội lao vào dùng Khai Sơn Kiếm đỡ một đường chém từ trên cao của một bộ xương, đang chém vào đỉnh đầu của bé Nhạn. Thanh lợi kiếm vừa chạm vào cây dao bóng loáng trong bàn tay xương xẩu của bộ xương, khiến cây dao bị cắt ngọt ra làm hai đoạn, đoạn ngọn dao bay vèo về phía sau, trong bóng tối trước vòm hang sau lưng chúng tôi liền xuất hiện một bóng đen.

Bóng đen ấy chính là người, một người bằng xương bằng thịt, tôi không biết đó là thù hay bạn, nhưng khi bóng đen ấy xuất hiện, tình hình đã có phần biến chuyển.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả:
Lăng Du Thiên Khách

Chương XII: HẬU DUỆ THIÊN TÔNG
Bóng người ấy xuất hiện, đã dùng ngay hai ngón trỏ và ngón giữa của tay phải, giơ lên kẹp chặt lưỡi dao gãy đang bay tới trước mặt mình. Những con "Quỷ Cốt" dường như cũng biết đây là một nhân vật khó chơi, nên e dè, bước chậm lại, thậm chí có con còn thụt lùi. Cả bọn ngạc nhiên khi người lạ mặt kia xuất hiện!

Hắn ta xuất hiện trong bóng tối, mặc bộ đồ đen từ đầu tới chân, chiếc áo khoác dài, trên đầu đội một cái nón lưỡi trai bằng Jean hơi cũ kỹ, trên vai đeo một cái túi nhỏ dài cao hơn đầu một chút, tay đeo găng tay da loại xỏ ngón, có lẽ là làm bằng da động vật, phần mu bàn tay của bao tay ấy hình như là được làm từ vẩy giáp của con vật nào đó bóng loáng, đi đôi giầy giống với kiểu giầy của bộ đội đặc nhiệm, có một điểm rất bắt mắt chính là: Trên cổ hắn có đeo một vật đen, nhọn, dài, bóng đến mức phản chiếu rất rõ ánh đuốc đang cháy từ xa, trên vật ấy còn khắc hai chữ Tiều theo lối chữ triện cổ, chẳng biết đọc ra sao? Có lẽ bé Nhạn mới là người biết được lai lịch của vật ấy và cũng biết rõ trên vật ấy khắc chữ gì mà thôi!

Anh ta vung tay nhẹ, động tác có trước có sau, kẹp chặt rồi hất lưỡi dao bay đi, lưỡi dao gãy bay vào một bộ "Quỷ Cốt", lập tức bộ "Quỷ Cốt" ấy bị chấn động, rồi vỡ vụng. Đám "Quỷ Cốt" thấy thế định bỏ chạy, người lạ mặt phóng người tới như một con mãnh hổ vồ mồi, với tay về trước chộp vào hai bộ xương gần nhất, hai bộ xương chưa kịp phản ứng, đã bị người lạ kia chụm lại làm một vỡ nát. Tiếp tục phóng tới, tay đấm, chân đá, sử dụng các thế móc, chộp, vung, câu, vật... Chỉ trong thời gian chớp mắt, những bộ xương biết di động kia đã thành bụi cám cả...

Bé Nhạn khập khiễn đứng lên, vẻ mặt nửa mừng, nửa sợ, nói lắp bắp trong khi hơi thở hổn hển:

- Bùa... Bùa... Mô... Mô... Mô Kim...!

Tôi quay sang:

- Cô hông sao chứ? Kim, chỉ gì ở đây? Bị thương chút xíu mà sảng hả...?

Hiển Thủy Tề thều thào:

- Ai dị?... Ngầu quá...!

Không ai trả lời, cả đám chăm chú nhìn, trong khi người lạ mặt mới xuất hiện đưa ánh mắt lạnh lùng nhìn lại bọn tôi. Tôi hỏi:

- Anh là ai...?

Người lạ mặt trả lời:

- Dậy các người là ai? Sao dám dô đây?

Tôi ngập ngừng:

- Bọn tôi...

- Dô đây trộm mộ à!

Người lạ mặt hững hờ trả lời. Bé Nhạn hỏi:

- Anh là... Truyền nhân của Mô Kim Hiệu Quý (Úy) hả?

- Sao cô biết? Cô cũng là...

Người lạ mặt vẫn tỏ thái độ lạnh lùng, nhưng có phần ngạc nhiên. Bé Nhạn lại tiếp:

- Chúng tôi là người của Thiên Tông phái...

Người lạ mặt lại buông một câu hững hờ:

- Cùng là đồng đạo rồi...!

Cả bọn đều kinh ngạc, chẳng lẽ anh ta cũng là dân trộm mộ? Bản lĩnh như thế không phải dạng vừa! Thân thế anh ta ra sao? Vẻ thần bí, lạnh lùng kia mới quả thực là một người đổ đấu chuyên nghiệp! Người lạ mặt lại nói:

- Tổ tiên của tôi cũng là người của phái trộm mộ Mô Kim, có thể nói tôi là hậu duệ chính thống, xưa kia có một Phát Khâu Trung Lang Tướng ở bên Tàu, đã lập ra phái Thiên Tông, rồi truyền dần qua đất Việt, nhưng ấn Phát Khâu đã bị phá hỏng, nên trên đời không còn Phái Phát Khâu nữa, đành dùng linh bùa Tứ Linh, làm thần phù hộ mệnh, tôi đeo bùa Mô Kim, bởi sau đó, do ma xui quỷ khiến thế nào, ông cố tổ tôi lại được chân truyền tuyệt kỹ trộm mộ, rồi cũng trở thành một Mô Kim Hiệu Quý đích thực, nhưng phái trộm mộ Mô Kim lại có quá nhiều quy tắc, ông cố tổ tôi đành theo tông chỉ của phái Thiên Tông mà hành sự, những tuyệt kỹ của phái Mô Kim ít được ông sử dụng. Ông nội tôi sau khi di cư qua Việt Nam cũng hành động theo quy định của Thiên Tông phái dới lý tưởng "phò nguy, trợ khó". Rồi truyền tuyệt nghệ trộm mộ đó cho cha tôi, dậy là, ông nội tôi đã đào tạo cha tôi trở thành một Thiên Tông Khách người Việt. Tôi họ Hứa, tên chỉ một chữ Đạt, năm nay hăm tám (hai mươi tám), còn mọi người?

Bé Nhạn giới thiệu từng người, tôi nhỏ tuổi hơn nên phải gọi là "anh Đạt" cho phải phép. Làm "thủ tục" chào hỏi xong, tôi nói:

- Anh làm sao dô được tới đây? Chắc là anh đào đường hầm hả?...

Hứa Đạt trả lời:

- Có sẵn đường dẫn xuống, đâu cần đào đường hầm làm chi!

Tôi lại ngạc nhiên hơn khi nghe Hứa Đạt nói đã có sẵn đường hầm dẫn xuống lăng mộ quái lạ này, vậy là tôi đề nghị anh ta dẫn bọn tôi đi xem. Nhưng anh ta không dẫn bọn tôi đi đâu cả, mà đưa ngón trỏ phải chỉ lên trên đầu, nói chỉ hai chữ:

- Trên kia!

Ý Hứa Đạt muốn nói: "Một trong những lỗ thông khí đã dẫn tôi vào đây". Nói xong, liền chăm chú nhìn vào bàn tay đang nắm chặt Dạ Hải Thần Châu của tôi, dường như đang nghĩ ngợi điều gì? Lại nhìn tôi từ đầu tới chân, nhìn Huyền Thiết Tản, rồi nhìn vào chuôi kiếm Khai Sơn giắt bên hông tôi. Vẻ mặt ngạc nhiên, bất chợt hỏi:

- Những Thần Binh, Lợi Khí này gắn liền tên tuổi của một nhân dật (nhân vật) trộm mộ lẫy lừng, cậu dới (với) người đó quan hệ ra sao?

Tôi lờ mờ nhận ra rằng, vị sư phụ mù dạy tôi những tuyệt kỹ, cho tôi những món vũ khí phi thường lại cũng là một nghệ nhân trộm mộ, nhưng sao thầy tôi lại không hề nói gì với tôi? Thân thế, quê hương thật sự của thầy tôi thế nào? Tôi chưa hề biết qua! Nay nghe Hứa Đạt hỏi vậy tôi muốn biết rõ hơn, bèn hỏi lại:

- Anh biết những dật này, xem ra anh dới chủ nhân của chúng cũng có quen biết?

Hứa Đạt nhìn vào trần của vòm hang, nghĩ ngợi, dường như đang lục lọi lại ký ức xa xôi, rồi đột nhiên nói:

- Tính ra... Thì có chút quen biết... Nhưng mười năm dìa trước người đó hông còn xuất hiện, đến nay hông còn tin tức, cũng hông biết là còn hay đã mất?

Rồi Hứa Đạt kể một chuyện vô cùng ly kỳ có liên quan mật thiết tới gia thế và công việc của anh ta, cũng như một phần nào đó trong cuộc đời vị thầy mù - "Sư phụ" của tôi.

Hơn một trăm năm trước, đất Trung Hoa có một người từng đeo Linh Quy phù đi trộm mộ, người đó họ Hứa, tên là Hứa Thiên An. Ông ta từng vào ra biết bao ngôi mộ lớn nhỏ, được người đời gọi là "Thầy Xới Mả - Nghệ Nhân An", những minh khí lấy được, ông đều bán ra rồi mua gạo, lương thực phân phát cho những người nghèo đói, hành tung của ông rất bí ẩn, chỉ nhận duy nhất một người làm đồ đệ, không hề nghe ông nhắc về thân thế người đó, chỉ biết ông hay gọi hắn bằng cái tên rất lạ: "A Nàm".

A Nàm học tuyệt nghệ rất mau, chẳng bao lâu đã học hết, nhưng lòng người khó đoán, nghệ nhân An chưa kịp truyền Linh Quy phù để A Nàm hành nghề, thì A Nàm lại nghi ngờ Linh Quy phù sẽ truyền cho con trai duy nhất của nghệ nhân An là Hứa Thiên Hưng, rồi một đêm mưa gió thật lớn, sấm giăng đầy trời, A Nàm lẻn vào phòng của nghệ nhân An lục lọi, và cuối cùng cũng tìm thấy được Linh Quy, nhưng vô tình bị nghệ nhân An phát hiện, A Nàm bất chấp nghĩa thầy trò, đánh trọng thương thầy mình, rồi lấy Linh Quy trốn đi biệt tích.

Nghệ nhân An đau lòng, không ngờ rằng đã dẫn sói vào nhà, rước họa vào thân, nghĩ nhiều rồi sinh trọng bệnh. Trước khi lâm chung, đã để lại hai vật cho con trai: Một là chiếc bùa Mô Kim được một người thầy họ Hồ là một Mô Kim Hiệu Úy truyền cho, lằm bằng móng con Xuyên Sơn Giáp, chôn hơn trăm năm dưới "Đất Dưỡng Thi" sâu hơn nghìn thước; hai là một cuốn bí thuật trộm mộ do mình đúc kết kinh nghiệm cùng với kiến thức cổ xưa của các bậc tiền bối trộm mộ thời trước mà viết thành. Trước khi xuôi tay, nhắm mắt, còn dặn kỹ: "Nếu không có gan, đừng đi trộm mộ, nếu đã có gan trộm mộ, phải tìm bằng được Linh Quy Phù"!

Hứa Thiên Hưng chính là ông nội ruột của Hứa Đạt. Nhớ lời của nghệ nhân An, Hứa Thiên Hưng đã bỏ bao tâm huyết vừa đi trộm mộ, vừa để tìm kẻ vong ân bội nghĩa kia. Cuối cùng, lần theo tin tức rồi qua tận Việt Nam, nhưng kết quả chỉ là con số không! Sau đó ông lấy vợ, sinh con và cũng lìa trần nơi đất khách, lời tổ huấn luôn được truyền đời cho con cháu.

Hứa Đạt lớn lên, bị cha ngăn cấm việc hành nghề xới mả, chỉ chú trọng buôn bán làm ăn, không ngờ ý trời khó cãi, việc nào càng cấm đoán, lại làm cho người bị cấm càng tò mò, Hứa Đạt đã vô tình tìm được cuốn bí thuật trộm mộ của tổ tiên để lại. Rồi cũng tập tành đi trộm mộ lúc mới mười bốn tuổi. Có một lần Hứa Đạt gặp được một người lớn hơn mình trên hai mươi tuổi, trên người mang la bàn dò huyệt vị, cầm Minh Châu làm đèn, dùng thần kiếm làm vũ khí, lấy dù thép làm khiên che ám khí để đi trộm mộ. Người này tên là gì thì không ai rõ, chỉ biết người "trong nghề" đều biết ông ta và gọi ông ta là "Thần Nhãn Quỷ", bởi ông ta có khả năng rất đặc biệt, trong bóng tối, hai mắt vẫn y như người bình thường, thấy rất rõ mọi đường đi, lối lại trong lăng mộ cổ. Một kẻ có bí thuật trộm mộ, một người tài năng xuất chúng kết hợp lại đúng là một cặp trời sinh. Họ bắt tay lén lút trộm mộ, từ mồ nhỏ đến mả to, thấm thoát cũng đã bốn năm trôi qua, họ đã trộm không ít ngôi mộ cổ.

Có một ngày, họ bắt tay vào trộm một ngôi mộ cổ thật lớn, ngôi mộ này là lăng mộ của nhà họ Khương, thời vua Gia Long, triều Nguyễn. Không ngờ được rằng, chủ nhân ngôi mộ lại là người hiểu biết về phong thủy, về cơ quan ám khí càng tinh thông nhuần nhuyễn và vận dụng một cách rất lợi hại. Kết hợp được một phong thủy tốt, kèm với một chút dị thuật đã khiến lăng mộ chỉ mới hơn hai trăm năm đã phát tích thành "Đất Dưỡng Thi". Theo quy định của phái Thiên Tông, khi gặp "Đất Dưỡng Thi" nơi cổ mộ, phải mau chóng rời khỏi, không được vào thêm dù nửa bước, Hứa Đạt can ngăn, khuyên giải không muốn Thần Nhãn Quỷ tiếp tục việc trộm mộ. Nhưng Thần Nhãn Quỷ không nghe, một mực đòi đi tiếp, Hứa Đạt bị khích tướng nên cũng hừng hực khí thế xông vào.

Họ đã gặp một thứ không nên gặp, nhận một kết quả không đáng nhận, và một bài học suốt đời không thể quên.

Khi vào đến một cánh cửa khá lớn, Hứa Đạt đã dùng bí thuật trộm mộ học được, dễ dàng mở cánh cửa vừa dầy, vừa kiên cố cuối cùng đó, khiến cánh cửa khi mở ra rồi, liền từ toàn thân cánh cửa trồi ra vô số dao nhọn, nhìn y như một bàn chông bằng đao tua tủa, sắc bén dị thường. Chỉ cần đi qua cánh cửa ấy, là sẽ gặp ngay những cỗ quan tài với vô vàng ngọc ngà, châu báu đặt bên trong. Hứa Đạt thấy có điều quái lạ, tại sao từ lúc phát hiện ra ngôi mộ này là "Đất Dưỡng Thi", thì lại không thấy cơ quan hay vật trấn mộ gì lợi hại cả? Trong lúc đang suy nghĩ, một con vật kỳ lạ đã phóng ra từ đằng sau một cỗ quan tài. Con vật này mình dài, đầu sói, có bốn chân, đuôi của nó thì như đuôi trăn, cuối đuôi lại có vây như đuôi cá... Hứa Đạt thấy nguy, vội chồm tới giật Thần Nhãn Quỷ lùi lại, con vật lạ vồ hụt, liền chuyển người như gió, vồ lại lần thứ hai. Thần Nhãn Quỷ đã đoán được ý đồ của nó, liền xô Hứa Đạt ra, cắm đầu chạy về phía cánh cửa, con vật lại vồ hụt, liền chồm người phóng tới trước đuổi theo con mồi, chỉ chờ có vậy, Thần Nhãn Quỷ đã vội quay lại, phi hai đồng tiền cổ bằng thép luyện vào ngay hai mắt của con vật lạ, rồi nhanh chóng phóng người sang bên, né đà lao tới của con vật ấy.

Thực chất, con vật lạ đó cũng có tên, có tuổi hẳn hoi, nó gọi là "Lang Thi Ngư", là một con vật được giới đào trộm mộ truyền miệng, kể nhau nghe khi trà dư tửu hậu, nó là một giống được kết hợp từ nhiều loài lại với nhau: Đầu Sói Tuyết, thân Kỳ Đà Núi, phần đuôi được chia ra làm hai phần, phần nối với thân là đuôi Trăn Gấm, phần chóp cuối là Đuôi Cá Kình, bốn chân đều có vuốt nhọn và màng bơi, có thể hoạt náo trên bờ, cũng có thể vẫy vùng dưới nước, trên lưng có vẩy rất cứng, nhưng phần da dưới bụng khá mềm. Ngay từ lúc Lang Thi Ngư còn nhỏ, người nuôi đã cho chúng ăn thịt thối của người chết, vì thế tỉ lệ sống sót không cao, sống một con đã là nhiều, khi nuôi con quái vật được mười năm thì cấy vào trong bụng nó một bào thai trẻ con đã chết, để thi khí tích tụ dần. Khi muốn Lang Thi Ngư làm vật giữ mộ, thì sau khi chôn cất người chết, sẽ cho Lang Thi Ngư uống mười chén máu xác người, sau đó mới thả xuống hầm mộ. Lang Thi Ngư có mắt, nhưng do nuôi nhốt trong bóng tối, lại tích tụ âm khí quá nặng, nên nó không hề nhìn thấy gì, mà chỉ cảm nhận nơi đâu có dương khí - Tức là nơi đâu có hơi thở của vật sống nó sẽ lao đến ngay. Cũng chưa nghe ai nói đã gặp tận mắt, chỉ là nghe kể lại hoặc là hư cấu, nên cách đối phó với Lang Thi Ngư ra sao? Chẳng ai nắm rõ!

Thần Nhãn Quỷ tung chiêu trúng đích, chưa kịp vui mừng đã thấy Lang Thi Ngư quay đầu, chuẩn bị vồ mình, Hứa Đạt liền phi thân vào, lấy cây xẻng Lạc Dương trong tay, giáng thật mạnh vào mõm con Lang Thi Ngư, con vật liền mất đà, ngã lộn ra ngoài. Nhưng nó nhanh chóng vùng dậy, chuyển hướng tấn công sang Hứa Đạt. Trong tay Hứa Đạt lúc bấy giờ chỉ có cây xẻng Lạc Dương và một cây pháo sáng cuối cùng mang theo, bèn thuận tay giật chốt pháo sáng, ném về phía Lang Thi Ngư. Con vật nào biết đó là vật gì, chỉ cảm giác có vật đang bay tới, liền há mõm ngoạm lấy, cây pháo sáng bùng lên, khiến miệng con vật bỏng rát, đau không chịu nổi, nó lồng lên, giẫy giụa. Chỉ chờ có thế Thần Nhãn Quỷ, liền phóng lên mình con Lang Thi Ngư, dùng Khai Sơn Kiếm đâm liên tục vào đỉnh đầu nó.

Tuy con vật bị thương chí mạng, nhưng "Chó cùng rứt dậu", nó gầm lên, hất văng Thần Nhãn Quỷ xuống đất, dùng sự phẫn nộ mà dồn hết vào đợt tấn công cuối cùng dành cho ông ta. Thần Nhãn Quỷ lúc đó khoảng hơn bốn mươi tuổi, nhưng không phải chỉ với đôi mắt phi thường, mà kinh nghiệm dày dặn mới là điều tiên quyết, khiến biệt hiệu ông vang danh tứ hải. Khi Lang Thi Ngư dồn sức muốn xé thân ông làm muôn mảnh, thì ông lại trầm tĩnh, dồn hết sức lực vào đôi tay đang giương Huyền Thiết Tản, trọng tâm dồn vào chân trái, ấn xuống đất vững như ngọn Thái Sơn. Con vật điên cuồn lao tới, sức tấn công như cuồn phong bão táp, còn ông lại đứng yên bất động, như một hòn đá kiên cường giữa mưa giông, sóng dậy, quả đúng là một bản lĩnh phi thường.

Binh pháp có câu: "Lấy tĩnh chế động, lấy động khắc tĩnh". Thần Nhãn Quỷ đã vận dụng lý thuyết đó rất tài tình và khéo léo. Ông đứng yên chờ con vật lao tới, khi con vật đã lao vào ông, ông hạ trọng tâm, rồi từ dưới rướn người lên, hất mạnh con vật vào cánh cửa sau lưng. Trên cánh cửa đã có sẵn vô số dao nhọn sắc bén giương ra, nên khi con Lang Thi Ngư bị hất lên, đã vội trở mình, định bám vào cánh cửa lớn ấy, nó nào ngờ bụng đã bị những ngọn dao găm chặt trên thân cửa, chết mà chả hiểu tại sao mình lại chết?

Lúc con Lang Thi Ngư bị găm vào cánh cửa, trong chiếc quan tài từ phía tối bên trong bỗng dưng bị bật nắp, Thần Nhãn Quỷ nghe động, vội huơ Dạ Hải Thần Châu sang soi xem có chuyện gì? Hứa Đạt cũng chăm chú nhìn. Cả hai như thót tim khi thấy một bàn tay với móng nhọn như chông đang giương lên, rồi một đầu tóc rối bù cũng nhô lên. Cái đầu xơ rối bất ngờ phóng vụt ra khỏi áo quan, đó là một cỗ cương thi mặc áo đen, phần eo cỗ cương thi ấy có thắt một cái dây đai bằng vàng khảm ngọc, trên khuôn mặt chỗ thì trơ xương, chỗ thì chỉ có chút da thịt lẫn lộn, chỉ có cái mũi là còn khá nguyên vẹn, ngoài ra hầu hết điều sắp bị phân hủy, nhìn cái xác khô ấy vô cùng gớm ghiếc, kèm vẻ tà mị khó tả.

Lúc này, bỗng dưng viên Dạ Hải Thần Châu trong tay Thần Nhãn Quỷ bỗng dưng sáng rực một cách lạ thường, Thần Nhãn Quỷ biết đã gặp ngay một cương thi đáng gờm, nên thận trọng lùi lại, Hứa Đạt cũng cầm chắc cây xẻng Lạc Dương bằng thép luyện qua trăm lần thủ thế, cả hai chỉ biết một điều, đối với thứ tà dị trước mặt, chỉ có hai con đường, một là bỏ chạy, hai là phòng thủ tới đâu hay tới đó, đến khi có cơ hội chạy thoát hoặc hủy được thứ ấy mới kết thúc.

Đang trong dòng suy nghĩ, cỗ cương thi đã nhảy tới, đâm hai bàn tay với mười móng vuốt sắc nhọn vào Thần Nhãn Quỷ, Thần Nhãn Quỷ lấy cây dù thép ra đỡ, chỉ nghe một tiếng "keng" vang lên lảnh lót, Thần Nhãn Quỷ đã bị cỗ cương thi đẩy bật lui hai, ba bước, thấy "đồng nghiệp" bị tấn công, Hứa Đạt cũng lao vào "tác chiến". Ông cố tổ của Hứa Đạt hành nghề đổ đấu nổi danh trong bốn biển, đến đời cha của y thì vẫn còn hành nghề, nên từ nhỏ Hứa Đạt cũng được cha truyền thụ một ít "kỹ thuật". Hứa Đạt bước chân đi rất nhẹ nhàng, y như một con mèo rình mồi trong đêm, đủ chứng tỏ Hứa Đạt có một thân khinh công xuất chúng, lúc Hứa Đạt lên sáu tuổi, cha Hứa Đạt đã bắt anh phải đeo hai túi vải bên trong chứa đầy cát vào hai chân để bước đi, càng lớn thì túi vải cát đó lại được thay đổi, và mỗi lần thay đổi thì trọng lượng những túi cát tăng lên. Hằng ngày, cho Hứa Đạt đi đứng, chạy nhảy, có khi phải chạy lên gò cao, cứ chạy lên rồi chạy xuống, sau đó đến tập nhảy qua những gò cao đó, từ một thước, rồi một thước mốt, thước hai, đến khi chân đeo túi cát nặng mà vẫn nhảy được qua gò cao thước tám, thước chín, thì lại cho Hứa Đạt nhảy từ dưới đất phi thân lên nóc nhà. Quá trình rèn luyện vô cùng gian nan, vất vả, đến khi tháo rời hai túi cát nặng ở hai chân, lúc đó, cho dù nhà cao, đường trơn, vách tường cũng có thể phi thân, thậm chí cả... Chạy qua sông Hứa Đạt cũng làm được.

Hứa Đạt dùng khinh công, đạp vào thành tường mà bay lên cao, rồi lộn ngược người, đâm cây xẻng Lạc Dương từ trên xuống vào đỉnh đầu cỗ cương thi. Xẻng Lạc Dương thân là một thanh thép đặc, có lưỡi là một ống thép to hơn, được cắt một phần hoặc một nửa để dễ dàng đào đất, thăm dò mộ cổ, xẻng được một người hành nghề trộm mộ ở Lạc Dương, bên Trung Quốc phát minh, nên có tên gọi "Xẻng Lạc Dương". Đỉnh đầu là bộ phận chủ chốt của con người, đối với cương thi cũng khá lợi hại, có câu chuyện kể rằng, khi gặp cương thi thì dùng vàng thỏi lớn, không có vàng thì dùng gạch trấn thi(1) mà đập vào đỉnh đầu của nó, như vậy cương thi sẽ không tác quái nữa, mà sẽ gục đổ ngay. Nhưng đây lại là một cỗ cương thi khá lợi hại, từ chi tiết dây đai vàng khảm ngọc cổ xưa kia, cũng có thể khẳng định cỗ cương thi này tồn tại hơn một ngàn năm, khi Hứa Đạt đâm cây xẻng Lạc Dương vào đỉnh đầu cỗ cương thi, nó chỉ khựng lại, rồi vùng vẫy điên cuồn, Hứa Đạt lại lộn người lơ lửng trên không, tay cầm chặt cây xẻng, nhất quyết không buông, cỗ cương thi lại hết vùng, rồi lao, rồi quay, rồi nhảy... Khiến Hứa Đạt hoa mắt, chóng mặt, máu huyết, ruột gan, tâm phế như bị lộn tùng phèo cả lên.

Trong lúc đầu óc quay cuồng, Hứa Đạt đành buông tay khỏi cây xẻng, rồi bị hất ngã xuống đất. Thần Nhãn Quỷ trông thấy tình hình, vội lao lên dùng Huyền Thiết Tản đánh vào cỗ cương thi tới tấp, nhưng cũng giống như đánh vào bao cát. Vừa đánh, Thần Nhãn Quỷ vừa lùi lại, cỗ cương thi cũng nhảy tới theo, nhìn cỗ cương thi lúc này, cứ y như một con quỷ ghê tởm với cái sừng dài trên đầu, đang lao tới nhắm mười móng vuốt vào Thần Nhãn Quỷ như một gã điên.

Thần Nhãn Quỷ, bị mất thế rơi vào hạ phong, bị cỗ cương thi túm chặt hai vai, chuẩn bị đưa hàm răng lởm chởm, với hai chiếc răng nanh dài cắn vào cổ. Thần Nhãn Quỷ vội đưa cây dù thép chặn cú "cắn cổ" của cương thi, rồi trong tư thế đó dằn co với cỗ cương thi. Hứa Đạt bị ngã một cú như bị trời giáng, nhưng cố chịu đựng, lồm cồm bò dậy. Hứa Đạt thấy Thần Nhãn Quỷ đang nguy ngập đến nơi, có thể sẽ mất mạng trong phút chốc, vội cho tay vào trong túi đeo sau lưng, móc ra một nắm nếp. Thì ra tài năng của Hứa Đạt không chỉ là có bí thuật trộm mộ, khinh công thuộc hàng "cao thủ", mà Hứa Đạt còn có một bản lỉnh cao cường khác, đó là nắm được một dị thuật trừ tà nổi tiếng, chính là "Thuật Mao Sơn".

Thuật Mao Sơn, bắt nguồn từ Mao Sơn Phái, hay Mao Sơn Tông, là tên một giáo phái của Đạo giáo, lấy Mao Sơn (núi Cỏ Mao), nằm ở giữa hai huyện Kim Đàn và Cú Dung của tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, làm tổ đình. Mao Sơn có tên xưa là Cú Khúc Sơn, Địa Phế Sơn, Cương Sơn, Kỷ Sơn. Đây là ngọn núi thuộc hàng động thiên phúc địa nổi tiếng. Mao Sơn Tông kế thừa Thượng Thanh Phái. Đào Hoằng Cảnh là tổ sư đời thứ chín của Thượng Thanh Phái (không chú trọng phù lục). Sau khi quy ẩn 10 năm tại Mao Sơn, ông sáng lập Mao Sơn Tông (coi trọng phù lục), lấy tên núi làm tên giáo phái.

Mao Sơn được mọi người biết đến với uy danh đệ nhất khưu tà trừ ma, pháp thuật thần thông quản đại cao siêu, ngoài ra còn lập đàn, bố trí trận pháp. Mao Sơn Phái có các đời tông sư rất nổi tiếng, qua nhiều thời, sáng tạo ra những pháp thuật xuất chúng, có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa đạo giáo Trung Hoa. Là một môn phái lớn trong tám đại huyền thuật của Trung Quốc với những pháp thuật như: Hành Thông Linh Pháp (đi xuyên tam giới), Luyện Cương Thi (luyện xác chết thành thi biến nhằm mục đích đưa về quê an táng)... Ngoài những pháp thuật kể trên Mao Sơn cón có những trận pháp vô cùng huyền diệu như: Cửu Đăng Liên Hoa Trận, Cửu Tiền Bôi Đỉnh Trận, Bát Quái Trận,... Cho đến nay Mao Sơn không còn phát triển rộng rãi như ngày xưa, do quá trình hiện đại hóa của xã hội, nhưng vẫn còn những người biết và tìm đến học đạo thuật Mao Sơn, hiện Mao Sơn Phái còn hoạt động ở ba nơi là Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan (tổ đình thì vẫn ở núi Mao - Trung Quốc).

Hứa Đạt trong một lần trộm mộ cùng Thần Nhãn Quỷ, đã vô tình thu được một quyển "Mao Sơn Bí Thuật", rồi bỏ công nghiền ngẫm, nghiên cứu suốt bốn năm qua, trong túi đồ mang theo để trộm mộ, lúc nào cũng có gạo nếp, một ống tre chứa huyết chó mực, một cuộn dây thép có tẩm máu chó mực, máu gà, và mực Tàu, Đinh Gỗ Đào, và một số bùa giấy... Nay đã đến lúc thi triển. Hứa Đạt moi nắm nếp ra cầm chắc trong tay, rồi vội lao đến cỗ cương thi, leo lên dùng tay trái mà lôi cổ, tay phải cầm nắm nếp chụp ngay vào mặt cỗ cương thi đang cố cắn bằng được Thần Nhãn Quỷ. Số nếp vừa chạm vào mặt cương thi đã vội bốc khói, nếp chín ngay lập tức, cỗ cương thi cũng vội buông Thần Nhãn Quỷ ra mà gào lên kinh khiếp, vùng vẫy lồng lộn, xem ra rất đau đớn, nhìn kỹ lại đã thấy hai mắt nó bị bỏng nặng đến nỗi lồi ra ngoài, Thần Nhãn Quỷ thoát được mười móng vuốt của cỗ cương thi, liền khụy xuống ho rũ rượi.

Thấy cương thi trúng đòn, Hứa Đạt vội moi tiếp nến ra, ném vào thân cương thi, cương thi trúng nếp, thân nó như lập tức bốc khói, quần áo, da thịt thủng lỗ chỗ, lùi dần lại, Hứa Đạt vội chạy đến đỡ Thần Nhãn Quỷ dậy. Cỗ cương thi, thoáng cái đã hết "đau", cũng vội nhảy ngay về phía cả hai. Số nếp mang theo cũng đã sắp hết, Hứa Đạt đành dùng tới bùa giấy, những lá bùa hình chữ nhật dài màu vành, chữ viết ngoằng ngoèo, mực cũng là từ huyết chó mực, máu gà và mực Tàu trộn lại. Cỗ cương thi phóng tới nơi rồi, Hứa Đạt cũng phóng đến trước mặt cỗ cương thi, lấy bùa dán vào trán nó. Kỳ lạ thay, giấy bùa chẳng có hồ keo gì, nhưng lại dính chặt vào trán của cương thi. Cả hai thở phào nhẹ nhỏm, Hứa Đạt định buông sấp bùa trong tay xuống, thì bỗng cương thi hà ra một hơi, tấm bùa nhỏ bị bốc cháy, cương thi lại phóng bổ về phía hai người.

Hứa Đạt nhanh chóng dán bùa, nhưng hết tấm này đến tấm khác, đều bốc cháy, rồi cương thi lại tiếp tục nhảy tới, có lẽ là, con cương thi này đã thành tinh mất rồi. Lúc này cả Thần Nhãn Quỷ và cả Hứa Đạt đều sắp đứt hơi, vừa tránh, vừa né, có khi té bò lăn bò càng, đành dùng đến Đinh Gỗ Đào. Mao Sơn Phái rất trọng dùng gỗ Đào làm khí giới cũng như pháp bảo trong việc khu tà trừ ma, dùng làm kiếm lập đàn, đinh trấn thi, trấn quan tài, cờ bày trận pháp... Đinh Gỗ Đào đã được Hứa Đạt rút ra, cầm chắc trong tay, chỉ đợi cương thi nhảy đến là lập tức ấn ngay vào cơ thể gớm ghê của nó.

Chỉ trong thời gian ngắn ngủng đó, Hứa Đạt và cả Thần Nhãn Quỷ chỉ còn biết đặt hết hy vọng vào mấy cây đinh gỗ Đào dài khoảng hai tấc kia. Cũng chẳng biết, đối với loại cương thi ngàn năm năm này, đinh gỗ Đào có ăn thua gì không? Nếu đinh gỗ Đào vô tác dụng, vậy phải đối phó ra sao, sinh mạng của cả hai sẽ như thế nào? Nhưng cả hai chẳng còn thời gian nghĩ ngợi cho những gì diễn ra sau đó, trước mắt, cỗ cương thi ghê rợn đã nhảy đến đối diện bọn họ, không thể chần chừ thêm một giây, một khắc nào nữa.

Nên nhớ rằng, đây là cỗ cương thi hơn ngàn năm tuổi, lợi hại vô cùng, chỉ cần đứng gần cũng bị âm khí của nó hút cạn máu huyết, rục xương, khô da, chết trong kinh hãi, nói cho cùng, ai đứng trước nó mà không hoảng sợ cho được. Chuyện gì đến sẽ đến. Khi cỗ cương thi cứ nhắm thẳng một lèo nhảy đến, chỉ chực vồ cả hai và không buông tha người nào, Hứa Đạt cũng bất chấp hiểm nguy, đánh một canh bạc mạo hiểm: Đâm Đinh Gỗ Đào, nếu đinh gỗ Đào đâm sau, hoặc đâm hụt, thì mạng sống sẽ không còn, bởi phản ứng chậm sẽ khiến cương thi vồ phải, bị hút sạch máu, chết rồi vẫn biến thành cương thi hại người. Còn nếu như, đâm đinh gỗ Đào trúng cương thi, làm cho cương thi bị thương, sinh mạng của cả hai mới mong bảo toàn được. Cỗ cương thi chỉ cần một cú nhảy nữa là sẽ chạm vào hai người. Thần Nhãn Quỷ, giật lấy đinh gỗ Đào trong tay Hứa Đạt, rồi xô Hứa Đạt ra một bên, đồng thời lao lên cùng lúc đối diện với cỗ cương thi ngàn năm kia, nhanh như chớp, đâm mạnh cây đinh gỗ Đào vào mặt cương thi.

Cỗ cương thi lập tức lồng lên đau đớn, gào rú ghê rợn, đồng thời từ trong cái miệng đầy răng nhọn hà ra một hơi khói màu xanh đậm. Thần Nhãn Quỷ đâm cây đinh gỗ xong, chưa kịp thoát ra, đã lãnh trọn cú hà hơi của con cương thi quái ác, khiến ông đau đớn, ngã xuống đất, hai tay ôm mặt, oằn oại kêu la, tình cảnh hết sức nguy kịch. Hứa Đạt vội lao đến, dùng chút nếp ít ỏi cuối cùng, đắp lên mặt Thần Nhãn Quỷ, theo Mao Sơn Bí Thuật, nếp có thể khử thi, tránh tà, là pháp bảo nhất nhì trong Thuật Mao Sơn, nó có thể giải trừ thi độc, nên khi nếp được đắp vào vết thương của Thần Nhãn Quỷ, lập tức bốc khói, số nếp như vừa mới nấu xong, chín nhừ ngay trong phút chốc, việc ấy càng làm Thần Nhãn Quỷ đau đớn hơn, nhưng chung quy vẫn còn nhặt lại được mạng sống.

Cỗ cương thi sau khi bị đâm bởi đinh gỗ Đào, nó chỉ đau đớn chốc lát rồi lại vùng lên điên cuồng tấn công tiếp. Hứa Đạt thấy nguy cấp đến nơi, vội dìu Thần Nhãn Quỷ bỏ chạy. Thần Nhãn Quỷ đau đớn đến thấu tim gan, nhưng vẫn cố sức cùng Hứa Đạt thoát khỏi vòng vây. Cỗ cương thi mặc dù đã bị đinh gỗ Đào đâm trúng, xem ra cũng bị trọng thương, nhưng vẫn kiên quyết bám theo không buông tha. Vừa chạy, Hứa Đạt vẫn cố lấy trong túi đồ luôn mang theo trong mình một cái ống tre nhỏ, bên trong ống tre ấy là một pháp bảo vô cùng lợi hại của thuật Mao Sơn, đó là "Huyết Chó Mực".

Loài chó có con toàn thân lông màu đen bóng, đôi mắt sáng tỏ trong đêm, đôi tai thính hơn tai mèo, và đặc biệt cái mũi bắt mùi rất nhạy, loài chó này dưới mỗi con mắt đều có một chấm lông nhỏ như hạt đậu màu nâu sậm, thường được gọi là "chó bốn mắt", linh tính của chúng có thể phát hiện oan hồn lẩn khuất mà những loài chó khác không thể thấy, loài này được gọi là Chó Mực (chó có lông đen như mực). Trong Mao Sơn bí thuật có viết: "Huyết Chó Mực là loại dược liệu thuộc chí dương, có thể khắc chế tà ma, lấy dây mực tẩm vào rồi kết lại làm lưới hoặc roi đả thi để phòng trường hợp thi biến thì tuyệt hảo, ấy là loại pháp bảo dể tìm, nhưng rất hữu ít trong tổ phái Mao Sơn". Vì thế mà những môn đồ của Mao Sơn Phái lúc nào cũng mang theo kè kè bên mình. Hứa Đạt cầm ống tre, tư thế sẵn sàng, chỉ đợi đúng tầm là sẽ cho cỗ cương thi ngàn năm lĩnh trọn một đòn chí tử. Lúc này, cỗ cương thi vẫn nhảy theo sát hai người bọn họ, Hứa Đạt dìu Thần Nhãn Quỷ, vừa chạy vừa canh tầm nhảy của cương thi. Bất ngờ Hứa Đạt quay lưng, tạt máu chó mực vào đúng vết thương trên mặt cỗ cương thi, cỗ cương thi lập tức giẫy nảy, lao mình vào tường, phá bung một mảng tường lớn, khi bức tường bị phá, phần mái vòm của căn phòng liền sập xuống, đè lên cỗ cương thi, Hứa Đạt không còn tâm trí đứng xem cỗ cương thi bị đè ra sao? Vội dìu Thần Nhãn Quỷ bỏ chạy, tránh liên lụy mà thiệt thân.

Chạy ra cánh cửa lớn, nơi con Lang Thi Ngư bị găm chết bên trên, Hứa Đạt để Thần Nhãn Quỷ ngồi xuống, rồi xem xét vết thương. Thấy hai mắt Thần Nhãn Quỷ không còn phản quang, tròng mắt đã bị tím sẫm lan ra đến vùng da bên ngoài, không thể nhìn thấy gì nữa, nói chung, mắt của ông căn bản đã bị trúng thi độc, cho dù có chữa trị, cũng sẽ bị mù hoàn toàn. Hứa Đạt nhớ đến một loại dược liệu được ghi chép trong bí thuật trộm mộ của ông cố mình đó là Tĩnh Thi Kỳ Lân Thảo, dược liệu này là một loại cỏ rất hiếm gặp, thường nó hay mọc ký sinh trên một loài cây có tên là Kỳ Lân Mộc, nên mới có tên gọi như vậy, loài này thường có trong những ngôi mộ cổ chôn sâu dưới lòng đất cả ngàn thước, Tĩnh Thi Kỳ Lân Thảo lá dài, thân vuông, hoa màu đỏ như máu, lấy cả rễ, thân, hoa, lá ấy giã nát, trộn với máu chó mực, lại trộn thêm nước tiểu trẻ con, rồi bỏ vào ruột của cây tre đực, đem phơi nắng bảy ngày thì có thể xác uống nước thoa, giải trừ được thi độc ngàn năm.

Nghĩ vậy, Hứa Đạt liền đưa Thần Nhãn Quỷ về nhà, lấy tim sen (ruột hạt sen), nước nếp vo, mật rắn, trứng gà(2), nấu lên cho Thần Nhãn Quỷ uống để ngăn thi độc phát tán, trong thời gian đó thì đi tìm loại dược liệu Tĩnh Thi Kỳ Lân Thảo. Hứa Đạt lại một mình vào ra biết bao nhiêu mộ thất, nhưng mất đến ba năm mà vẫn chưa tìm được chút tin tức gì. Một hôm, khi quay về nhà, Hứa Đạt không thấy Thần Nhãn Quỷ đâu, tìm khắp phố nhưng chả biết bóng dáng nơi nào, ngẫm lại mới hay, Thần Nhãn Quỷ sợ đem lại nhọc tâm, tổn sức cho mình, nên không từ mà biệt lặng lẽ ra đi, đến nay chưa nghe chút tung tích. Hứa Đạt vẫn nuôi hy vọng chữa lành đôi mắt của Thần Nhãn Quỷ, nên âm thầm tìm dược thảo trong các ngôi cổ mộ, đồng thời để tâm dò la tin tức Thần Nhãn Quỷ, nhưng đến nay đã mất bảy năm ròng, kết quả của hai việc vẫn chỉ duy nhất một con số không tròn vành vạnh.

Thì ra, khi vị thầy mù dạy tôi mọi thứ, thì lúc ấy ông đã trúng phải thi độc, đến khi, thi độc đã đến lúc phát tán, thầy vội vã giã từ tôi, rồi sống cam chịu một mình, không biết hiện nay thầy thế nào? Không đến nỗi bị thi độc công tâm hóa ra một cỗ cương thi rồi chứ! Nghĩ đến đó, toàn thân tôi ớn lạnh, nỗi lo lắng bất an bao trùm, xâm chiếm toàn bộ cơ thể, dù sao công dạy dỗ cũng quý như đức sinh thành, tôi không thể trơ mắt nhìn thấy thầy tôi hóa thành cương thi hại người. Tôi nói với Hứa Đạt:

- Anh Đạt! Chúng ta đều cùng chung mục đích, anh tìm thuốc cứu thầy tôi, tôi dới các bạn đây tìm dàng cứu bà con cơ nhỡ, nay gặp nhau, tôi sẽ cùng anh tìm dược thảo chữa thi độc trên người thầy. Chúng ta kết hợp hành sự ngen!

Hứa Đạt gật đầu, bé Nhạn tiếp lời:

- Hậu duệ Thiên Tông, đồng tâm hợp lực, cứu nguy trợ khó, tiêu trừ tà dị, hành thiện tích đức, tiếng thơm lưu truyền! Đó là chí hướng cao cả của những Thiên Tông Khách.

Cả bọn nghe xong câu khẩu ngữ của bé Nhạn thì liền gật đầu tán thưởng, cùng nhau hô lớn:

- "Chúng ta hợp sức, nhất định thành công"!

Chợt Hứa Đạt giơ tay ra hiệu giữ im lặng, đồng thời nói với cả bọn:

- Cẩn thận! Có âm thanh lạ!

Vừa nói đồng thời đưa mắt quan sát xung quanh, ngưng thần chú ý. Trong không gian im lặng, tĩnh mịt dưới lòng ngôi mộ Ông Táo, cả bọn đều nghe rất rõ dường như có tiếng hú, âm thanh đó vừa âm u, vừa rùng rợn, lại mang vẻ tà dị, khiến ai nghe thấy đều thấy gai ốc nổi rộ khắp người. Âm thanh đó khi gần, khi xa giống như từ một nơi hư không nào đó vọng lại, nói chính xác âm thanh đó phát ra từ một thế giới mà ai nghe cũng phải suy nghĩ ra, sẽ đi đến, nhưng lại không muốn thấy nơi đó, chính là thế giới mà ở đó không có người sống, chỉ có cô hồn dã quỷ, nơi đó chính là Địa Ngục.

-----------
Chú thích:

(1) Gạch trấn thi: Gặch lấy từ những ngôi mộ cổ, đào lên đem về tẩm thêm máu chó mực, dùng để đập vào đầu cương thi.
(2) Những vật làm ngăn độc tính phát tán của vết thương khi bị cương thi cắn hoặc cào trúng, được các đạo sĩ thuật Mao Sơn sử dụng phổ biến.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả:
Lăng Du Thiên Khách


Chương XIII:

CON SỐ MUỜI BA

Khi tiếng hú ấy cất lên trong không gian mịt mờ, bóng tối dày đặc bao phủ, chỉ có ánh sáng từ viên ngọc trong tay tôi là phát ra ánh sáng kỳ ảo, cùng với vài cây đuốc bập bùng cháy, thì khiến tất cả dường như chết cứng, gai ốc nổi rộ khắp người, một cảm giác lạnh toát bao trùm, khiến đầu óc ai cũng căn lên như dây đàn, Hứa Đạt vẫn với cái vẻ mặt lạnh lùng, nở một nụ cười nhạt, cất tiếng:
- Cuối cùng cũng đã đến!

Cả bọn đều ngơ ngác chẳng biết câu nói của Hứa Đạt ẩn chứa điều bí ẩn gì, bé Nhạn quay sang nói khẽ với cả bọn:

- Đã sắp đến gần hạ kiều, chúng ta đang ở trong địa phận của U Minh Giới...!

Cái mà gọi là U Minh Giới, thật ra cũng chỉ là một “gian phòng” rộng lớn trong lòng ngôi mộ cổ, nơi đó chẳng có cái gì quý giá, nhưng bắt buộc bất cứ ai muốn vào khai quật mộ cổ, tìm ra bí ẩn lịch sử, hoặc vào sâu trong lăng mộ để đào mồ cuốc mả, tìm minh khí, thì đều phải đi qua. Nơi ấy tuy không có gì đáng giá nhưng vì nó là rào chắn tiên phong của lăng mộ, nên bên trong “gian phòng” ấy đều đầy giẫy những cạm bẫy, cơ quan trùng trùng lớp lớp, ngăn chặn tất tật những hành động xâm nhậm nào vào trong. Hứa Đạt cất bước tiến về nơi phát ra tiếng hú thê lương, kinh khiếp kia, quả thật đối với chúng tôi, không ai có thể định vị chính xác được điểm xuất phát của tiếng hú đó, chỉ có mỗi Hứa Đạt, một kẻ trộm mộ có tuyệt kỹ lão luyện, kinh nghiệm trải nhiều, mới phát hiện được nó bắt nguồn từ hướng nào?

Thấy Hứa Đạt tiến bước, cả hội đành nối gót lần theo, đi không bao lâu đã thấy một hành lang trải dài hun hút bị bóng tối dày đặc nuốt chửng, nhưng nếu nhìn kỹ thì sẽ phát hiện, phía trước không xa lờ mờ hiện ra một ô vuông, đến khi đến được ô vuông đó thì mới hay, đó là một cánh cửa bằng đá, cũng không thể phân biệt được đó là loại đá gì, chỉ biết nó không phải màu nâu hay màu đen, mà màu sắc của nó cứ đỏ tươi như máu, thấy cả bọn ngơ ngác đứng ngó nhìn không thôi vào cánh cửa, bé Nhạn định giải thích, thì Hứa Đạt lại nói trước:

- Cái này gọi là Huyết Môn, bên trong rất hung hiểm, cẩn thận đó! Bên trong chỗ nào cũng có bẫy, lơ mơ là mất mạng ngen!

Cả bọn nghe xong liền đề cao tinh thần cảnh giác, vũ khí đều được thủ sẵn bằng hết công suất để tránh phải trình diện sớm với Diêm Vương. Hứa Đạt có tuyệt kỹ khinh công cũng như bí thuật trộm mộ khó ai sánh bằng, nên việc cỏn con là mở cánh cửa này chả mấy khó khăn gì với y, chỉ cần anh ta cho tay vào một cái rãnh nằm dọc cạnh thân cửa, rồi xoay cánh tay ấy một chút, lại hơi giật ra, rồi xoay theo chiều ngược lại, ấn mạnh vào, thì đã nghe cánh cửa Huyết Môn đang rục rịt chuyển động, tiếng rào rào vang lên kèm theo bụi cát, vụng đá trong các khe cửa đổ xuống. Khi cánh cửa đã mở rộng khoảng hai, ba tấc thì phía bên kia cánh cửa cũng có hai hàng ánh sáng chợt vụt lên, nhưng lại mau chóng yếu đi, chỉ để lại chút ánh sáng yếu ớt nhỏ như hạt đậu, kéo dài đến hơn ba chục thước.

Những ánh sáng ấy đều bắt nguồn từ hai hàng đèn, khoảng trên dưới năm chục ngọn, với tạo hình chân đèn là một con quỷ bằng đá, trên đầu có sừng, miệng có nanh nhọn, đang gục đầu như phủ phục trước ai đó, tư thế nửa quỳ nửa ngồi, một tay cầm đèn giơ lên khỏi đầu, tay còn lại chống xuống đất. Những chân đèn nhìn cứ giống như những kẻ nô lệ đang phục vụ một vị vương quyền, còn đèn chính là một vật bằng đá dài nhìn như chân nến của thời phong kiến, vật phát sáng không phải nến, mà chính là một sợi dây tựa như gân bò, những ngọn đèn này cứ chập chờn, leo loét như sắp tắt, màu sắc của nó cứ lúc vàng, lúc xanh, khiến khung cảnh trước mắt càng thêm ảm đạm, mơ hồ, nhìn vào sẽ thấy dường như có một sức mạnh ma mị đang chờn vờn chuẩn bị bao trọn lấy bọn tôi.

Hứa Đạt nhìn vào hai dãy đèn, rồi cất tiếng nói:

- Những ngọn đèn này đều đốt (thắp) bằng mỡ người, tim đèn chính là sợi gân xương sống của người ta, trong sách cổ có nói, đây là con đường “Trần Ai”, là lộ đạo duy nhất dẫn dô U Minh Giới, loại đèn này có tên là “Đèn Trường Sinh”.

Tôi cũng chỉ biết ậm ừ gật đầu cho qua, chứ thật ra mấy cái đường trần ai, trần thế gì gì đó chưa từng nghe ai nhắc đến, lại thêm cái U Minh Giới có loại đèn Trường Sinh phải gió kia nữa, chẳng biết nó có lai lịch ra làm sao? Hứa Đạt giải thích rõ ràng thì tôi cũng đã hiểu được phần nào. Ngày xưa, vào thời phong kiến có rất nhiều quan lại tham lam, độc ác, họ đã vơ vét của cải, bóc lột con người, đến khi chết vẫn muốn mình sống trong xa hoa, nhung lụa. Vì thế khi đã có của cải trong tay, họ bắt đầu cho tay sai xây dựng những hầm mộ xa xỉ, sang trọng như thế này: Đường lót đá quý, trên tường đắp ngọc ngà châu báu, bích họa, phù điêu nhiều vô số, quan tài được làm bằng loại gỗ quý hiếm, kỳ trân dị bảo chôn theo nhiều không đếm xuể, lại cài cơ quan, mật thất kín kẽ để bảo vệ lăng mộ, đến khi xong việc rồi thì cho giết tất cả những người thợ xây, hoặc chôn sống họ trong chính ngôi mộ dành cho mình.

Trong quá trình xây dựng mộ thất những tên quan vô pháp, vô thiên ấy đã nghĩ ra một loại đèn đốt mãi không tắt, để những ngọn đèn ấy thắp sáng mãi mãi trong lăng mộ của mình, loại đèn ấy được thiết kế bằng một cái hốc, bên trong đổ toàn mỡ người, bởi họ cho rằng mỡ người sẽ là nhiên liệu không cạn kiệt, tim đèn thì sau khi chặt đầu người nào đấy, sẽ cho người rút luôn sợi dây gân nối từ đầu đến tận chân trái mà làm thành, quả thật sau khi thắp, những những ngọn đèn này sẽ không bao giờ tắt, lý do là vì mỡ người khi đổ vào hốc quá nhiều, lại thêm thời gian lâu dần, mỡ như đông cứng lại, ô xy trong lòng mộ cổ ấy cũng ít dần đi, nên đèn cháy leo loét, lượng tiêu hao nhiên liệu ít hơn, những kẻ chờ đèn tắt, thì đèn chưa tắt, hắn đã theo ông theo bà chầu trời mất rồi, nên không ai biết mỗi ngọn đèn đó sẽ thắp trong thời gian bao nhiêu năm, vì thế loại đèn này được mọi người gọi là Đèn Trường Sinh tức là đèn sống mãi, kỳ lạ nhất là ở trong những ngôi mộ có đèn trường sinh lại không hề có dấu vết của rắn, rết, ruồi, muỗi, kiến, gián, côn trùng nào cả, nếu không số mỡ người ấy ít nhiều cũng bị tiêu hao không ít.

Nay đã biết chút ít thông tin về nơi này, thôi thì một phen đánh bạo, mang gạo chạy về vậy, nghĩ vậy tôi đành lẽo đẽo theo sau lưng Hứa Đạt. Cây dù thép Huyền Thiết Tản luôn cầm chắc trong tay, bởi linh tính của tôi dạo này rất nhạy, chỉ cần bén hơi của nguy hiểm, tôi đã lập tức phát hiện ngay. Lúc này, tinh thần tôi căng lên sắp đứt, đôi mắt mở to nhìn về phía trước, quả nhiên linh cảm tôi lần nữa lại chính xác đến không tưởng tượng. Phía trước mặt hiện ra một vật vừa to vừa tròn, đang rung động từng chút một, có thể nói nó là một khối cầu, nhưng khối cầu này hoàn toàn làm từ vẩy giáp, những vẩy giáp ấy cứ rung lắc nhè nhẹ phát ra một chuỗi âm thanh lách cách, linh kinh không ngớt, từ sâu bên trong quả cầu vẩy giáp lại phát ra tiếng rên rỉ, tiếng rên la đó cứ y như là tiếng gió thổi qua những rặng thông rồi vọng đến tai người những tiếng u..u... rợn cả óc.

Hứa Đạt định thần nhìn kỹ cái khối cầu đang run run kia, mặt bỗng trở nên cương nghị khác thường, cứ thoạt trông sẽ khiến người ta nghĩ ngay đến cảnh tượng một con báo đang chuẩn bị tấn công với một đối thủ ngang tầm ngang sức với nó, lúc này cánh tay phải Hứa Đạt đã đưa lên chụp vào chiếc túi cao hơn đầu đeo trên lưng mình, tư thế chuẩn bị sẵn sàng tác chiến bất cứ lúc nào. Bé Nhạn thì ngược lại, mặt mày cô trở nên tái nhợt, thần sắc như tiêu tán nơi nào, mắt vẫn ngó đăm đăm vào cái khối to tròn lù lù trước mặt, dường như cô rất sợ, không, phải nói là cô đã sém chết khiếp khi trông thấy cái thứ mà tôi chẳng biết đó là cái quái gì, chỉ biết nó ngộ ngộ, nhưng tôi biết nó là thứ rất nguy hiểm, không dễ dàng gì đối phó.

Tôi rón rén bước qua chỗ bé Nhạn, nắm dây ba lô của cô giật nhẹ rồi hỏi nhỏ:

- Cái gì dậy?

Vừa nói, vừa hất cằm về cái vật to tròn đang chắn trước mặt. Hứa Đạt đưa ngón trỏ trái lên môi khẽ suỵt một tiếng, rồi nói khá nhỏ:

- Nó là con Độn Thi Trùng Giáp, coi chừng nó có nọc độc đó!

Bây giờ tôi đã hiểu được, vì sao khi bé Nhạn nhìn thấy vật to tròn lại tỏ ra hoảng sợ như vậy. Lúc này, vật to tròn trước mặt lài càng rung lắc dữ dội hơn, xem ra sắp rụng rời đến nơi. Đôi mắt Hứa Đạt long lên, chỉ nghe một tiếng "ke...e...e...n...g..." kéo dài lảnh lót, trong tay anh ta đã cầm một thanh kiếm dài, thanh kiếm ấy sắc lạnh, nhưng lại tỏ ra một cảm giác nóng rang trong tâm trí người khác khi nhìn thấy nó. Hóa ra, cái túi đen đen đeo sau lưng Hứa Đạt lại chính là vỏ của một thanh kiếm sắc bén, không biết lai lịch thanh kiếm này thế nào, tôi lờ mờ đoán rằng, đó là một thanh cổ kiếm mà Hứa Đạt vô tình tìm được trong những lần đi đổ đấu, nếu vậy xem ra, nó cũng là bảo vật quý giá.

Những vẩy giáp của con Độn Thi Trùng Giáp đã bung ra, để lộ một hình dạng giống như con nhím, chỉ khác là lớp gai nhọn trên thân con nhím được thay thế bằng lớp vẩy giáp bao bọc. Hình hài kia khá to, với cái miệng như một vòi nước cứu hỏa, nhưng tím sẫm, những cặp chân thì chẳng khác mấy so với những cặp chân rết. Tôi thấy con quái vật này quái lạ làm sao! Tuy thấy nó kỳ lạ, nhưng tôi cũng đã biết, nó là một thứ rất khó đối phó.

Hứa Đạt định thần quan sát, tìm điểm yếu mà tấn công, nhưng chưa kịp tấn công, đã nghe một loạt tiếng pằng... pằng... vang lên. Cả bọn suýt ngất khi âm thanh đó phát ra. Là Kim Đầu, lại lần nữa lão ta nổ súng "khai chiến", tôi chửi thầm trong bụng: "Mẹ kiếp, cái lão mũi trâu này, muốn chết cả đám hay sao? Sao lại nổ súng lúc này kia chứ?".

Độn Thi Trùng Giáp đã bị đạn của khẩu stG bốn bốn trong tay Kim đầu bắn thủng vài chỗ, từ những lỗ thủng chảy ra một chất dịch đen xì, cứ rơi giọt nào xuống đất, thì chỗ ấy lại bốc khói xèo xèo, anh Bình đã biết được thứ dịch chảy ra là gì nên hoảng hốt, la lên oai oái:

- Mẹ nó! Mồ tổ cha nhà nó! Máu nó toàn là át xít (acide) không hà... Dính dô là tan xác... Dọt thôi...!

Hứa Đạt lại không nghĩ như vậy, anh ta ngồi xuống thủ thế theo lối muốn vồ tới, nhìn hành động của anh ta rất khó hiểu, nhưng tôi cũng tạm hiểu là: "Anh ấy đang có đối sách đáng để xem đây"!

Kim Đầu nhả loạt đạn đầu, tuy trúng đích, nhưng lại khiến lão ta nhụt chí chiến đấu ngay, khi biết kết quả không như lão mong đợi, lão đang đứng yên bất động. Cả đám còn lại thì mặt xanh, gan xám khi biết rằng thế nào rồi cũng sẽ làm mồi cho con vật quái đản trước mặt, chỉ có tôi và Hứa Đạt đứng chắn phía trước họ, đối diện với một con vật đáng sợ - Độn Thi Trùng Giáp.

Hứa Đạt tỏ ra không sợ vì anh ta đã có cách để xoay sở, đã có cách để triệt hạ nó. Còn tôi thì cơ bản giống như một kẻ chưa đi mưa nên chưa từng biết lạnh, nên thực tình thì tôi chả thấy con quái này có gì đáng sợ cả. Nên tôi cứ đứng mà ngó nó trân trân, tay phải thì nắm chặt lấy chuôi kiếm Khai Sơn, phòng ngừa con quái lao vào tấn công bất thần.

Đúng lúc ấy, một tiếng hú vọng lên thê lương, rùng rợn. Nó phát ra từ trong mình của con Độn Thi Trùng Giáp, tiếng hú lúc đầu cả bọn nghe được hình như cũng là phát ra từ cái bụng này. Trong bụng con quái vật dường như có gì đó đang chuyển động lên xuống không ngừng. Con quái vật đã lao lên tấn công, Hứa Đạt xoay thanh kiếm quét một đường từ trên xuống vào một phần bên trái của con quái vật, nhưng nó nhanh chóng xoay toàn thân né đòn, phần thân chưa né được, bị kiếm của Hứa Đạt chém trúng, khiến những cái chân giống như chân rết khổng lồ của con quái vật rơi xuống, phía cuối những vết cắt lại ứa ra một chất dịch khiến mặt nền bị bốc khói, tôi vội lao lên, rồi cúi người vòng ra sau lưng con quái vật, trong khi con quái vật lại phun ra một tràng nước dịch từ miệng nó sượt qua người tôi, tôi không ngại ngần, xoay người, vung tay, phạt ngang thanh đoản kiếm vào bộ giáp của nó, tiếng loảng xoảng vang lên, vài miếng vẩy giáp rơi xuống. Con quái vật quay sang tôi, miệng vẫn phun ra thứ chất dịch nhầy nhụa, những cẳng chân còn lại của nó cứ huơ tới huơ lui nhắm bổ vào người tôi. Cả bọn có súng, nhưng không ai dám manh động, bởi nếu bắn trúng con quái vật này, vết thương của nó sẽ lại xuất hiện một thứ chất dịch phun ra, có lẽ một phần họ sợ tổn thương đến tôi và Hứa Đạt, một phần họ lại sợ chất dịch của cái loại quái vật kỳ dị này.

Con quái vật lúc này, cứ phun vèo vèo chất dịch kinh khủng nhằm vào tôi, còn bản thân tôi, vừa tránh né, vừa tìm cơ hội phản công. Căn bản mà nói, nếu đầu nó là yếu điểm, thì chỉ cần cho cái đầu nó một nhát là xong, nhưng không may bị chất dịch phân hủy như acide bắn trúng, thì chỉ có một kết quả là "đi bán muối" như ông bà ta thường nói.

Hứa Đạt đã quan sát tình hình từ lúc đầu, anh ngỡ bụng nó sẽ là yếu điểm nhưng lại phán đoán sai lầm, khi tiếp cận lại bị những cái chân to sụ của nó cản lại yếu ớt, xem ra đó không phải là điểm mấu chốt có thể đánh bại con quái vật ấy, lần này anh lại nghĩ như tôi, cứ nhắm vào đầu nó mà "bổ dưa" một phát xem tình hình ra sao rồi tính tiếp, nhưng thật sự thì còn tâm trí đâu mà tính. Hứa Đạt mượn lực từ bức vách trong cái phòng này, đạp vào rồi phi thân lên cao, lộn người trong không trung, hai tay nắm chặt chuôi kiếm, tung ra một chiêu "Hồi đầu quy cố hương", chém một nhát đúng vào giữa đầu con quái vật.

Thanh cổ kiếm trong tay Hứa Đạt cũng là một thần binh lợi khí, tiếc là tôi không biết lai lịch như thế nào? Khi con quái vật bị trúng nhát kiếm đó của Hứa Đạt, đầu nó tách ra làm đôi, nhìn cứ y như đôi tai lừa, đồng thời từ vết chém đó ồ ạt phun ra thứ chất dịch mà cả bọn cho là có sức tàn phá khốc liệt nhất. Thứ chất dịch ấy cứ phun về phía Hứa Đạt, trong khi anh ta đang lộn người trên không, rất may, theo lực chém của Hứa Đạt, cùng lực lao đến của con Độn Thi Trùng Giáp, nên cái đầu con quái vật bị đẩy ngả chúi ra trước, còn Hứa Đạt lại lộn người ra sau lưng con quái vật, nhưng khi Hứa Đạt tiếp đất mới hay, chiếc nón lưỡi trai đội trên đầu anh ta đã bị chất dịch bắn trúng vào vành, thủng vài lỗ.

Nhưng chung quy, Hứa Đạt đã triệt hạ được cái thứ quái vật kinh khiếp kia, con quái vật từ từ đổ xuống nền gặch, tưởng con quái vật đã bị hạ "đo ván", tôi mon men lại gần, chợt Hứa Đạt nạt lớn:

- Coi chừng...! Nó chưa chết đâu...!

Nghe vậy tôi giật thót người, nhảy bật lại, lui về. Cả bọn chăm chú nhìn, bất ngờ, từ vết chém ban đầu của Hứa Đạt, đầu con quái vật lại rách toạt ra càng lúc càng rộng, một hình hài giống con người cứ tách vết thương rồi từ từ bò ra.

Nói là hình hài giống người, nhưng thật ra thì chỉ có cái dáng là giống thôi, còn những cái khác thì hoàn toàn cũng khác. Đầu của hình hài đó to như một quả dưa dài, không hề có mắt, mũi, tai, tóc gì cả, chỉ có cái miệng lởm chởm răng nhọn, đang phát ra tiếng gào rú the thé, nghe cứ như tiếng gầm gừ của con hổ đã bị người ta thọc huyết, sắp chết đến nơi, mười ngón tay lại nhọn hoắc, dài gấp đôi bàn tay người, bàn chân cũng vậy, nó khoác trên mình một bộ da màu xanh xám trông rất quái dị, kinh khiếp, thật sự mà nói, từ lúc "cha sinh mẹ đẻ" đến giờ, đó là con vật lạ đời nhất thế gian mà tôi từng thấy, chỉ có thể dùng hai từ "ghớm ghiếc" để diễn tả, mới nói hết được cái thứ đang bò ra từ cái xác của con Độn Thi Trùng Giáp.

Hứa Đạt nói:

- Nó mới là "Độn Thi", còn cái xác kia, chỉ là "Trùng Giáp" thôi. Thứ này mới là thứ khó nuốt nhất đây!

Bé Nhạn hét lên một tiếng kéo dài, khi nhìn thấy cái thứ "người không ra người, ma không ra ma" bò ra từ cái xác có vẩy giáp kia:

- Á... á... á... a... a... á...!

Nếu tôi không bịt miệng cô nàng, e rằng sau khi hét xong, cô nàng cũng sẽ ngất tại chỗ, cả bọn cũng hốt hoảng cả lên, chỉ sợ cái con quái vật "Độn Thi" này nghe thấy thì nó sẽ xông vào cả bọn mà vồ xé đến nát thây mất. Nhưng nghĩ lại, con quái vật này làm gì có "tai" mà "nghe", làm gì có "mắt" mà "thấy"? Xét thấy cũng nực cười, nhưng còn lòng dạ nào mà cười nổi cơ chứ!

Tôi cứ dán chặt mắt vào cái thứ kỳ dị trước mặt, chỉ mới đây thôi nó còn lóp ngóp bò ra, tỏ ra rất yếu ớt, nhưng chỉ trong một thoáng, nó đã đứng sững trước mặt cả bọn, cao hơn người thường, to hơn người thường rồi. Hứa Đạt đưa tay ra hiệu cho cả bọn lùi lại. Hứa Đạt quay qua tôi nói khẽ:

- Ám khí của cậu xài được rồi đó!

Nghe thế tôi vội cho tay vào túi quần, moi ra một nắm tiền xu cổ bằng thép luyện của vị thầy mù. Lòng thầm nghĩ: "Tới phiên lão Tôn ta trổ tài đây"!

Con quái vật Độn Thi đã đứng sững lên, phát ra những tiếng gầm rừ nghe rợn tóc gáy, Hứa Đạt chỉ nói một chữ, nhưng chữ ấy đã khiến cho bọn tôi biết rằng, con quái vật trước mặt là "bất khả chiến bại":

- Chạy...!

Tôi chạy sau cùng, con quái vật bắt đầu "đánh hơi" được mùi thịt sống, nên lập tức đuổi theo, tôi thấy cả bọn chạy trước đã khá an toàn, nên quay phắt lại, đứng đối mặt với cái thứ mà ngay cả Hứa Đạt, một tay đạo mộ lão luyện cũng phải nể sợ. Con quái vật đã cách tôi mỗi lúc một gần hơn. Hai chục thước, mười lăm thước, chục thước, tám thước, năm thước... Tôi không còn gì phải nghĩ nữa, tôi tung số tiền xu cổ lên, rồi dùng khả năng chụp ám khí, chụp được xu nào, tôi phóng xu ấy vào cả lên thân con quái vật.

Tuy lực phóng ám khí của tôi khá mạnh và chuẩn, kèm theo sự rắn chắc kỳ diệu của loại thép luyện cổ xưa, nên tất cả điều găm trúng đích không lệch phát nào. Nhưng tôi đã thấy có sự bất ổn, tất cả, thật sự là tất cả đã trúng mục tiêu hoàn toàn, nhưng cớ làm sao, con quái vật vẫn lao tới? Chẳng lẽ huyệt đạo trên người nó đều khác hẳn loài người nên nó không hề hấn gì với những chiêu thức tôi tung ra. Ấn Đường, Nhân Trung, Đầu Duy, Toản Trúc, Đản Trung, Thiên Đột, Trung Phủ, Trung Quản, Khí Hải, Khúc Cốt, còn có cả Độc Tỵ và Túc Tam Lý, mẹ nó chứ, các tử huyệt điều bị bắn trúng, nếu là người thường, trừ phi luyện được "Kim Thân Bất Hoại", bằng không chắc chắn là sẽ bị Thần Chết gọi tên, nhưng...

- Cái con quái quỷ này, mẹ kiếp! Chẳng lẽ nó là thần thánh hay sao? Dính nhiều tử nguyệt (huyệt) dậy mà hông chết! Tiêu rồi, hông xong rồi...!

Tôi cứ suy nghĩ, thần trí đã không còn hòa nhịp với trận đấu nảy lửa này nữa. Hứa Đạt nhanh chóng lao vào, giật cổ áo tôi lùi lại.

- Mẹ kiếp! Muốn chết hả?

Tôi như bị lôi ra từ trong cơn mộng du, bừng tỉnh hẳn sau câu hỏi trách móc của Hứa Đạt, nếu không có Hứa Đạt, tôi đã bị con quái vật Độn Thi kia vồ phải, mạng đã lìa khỏi dương gian từ nãy giờ. Tôi ngạc nhiên, không biết con quái vật này ăn gì, mà các "ám khí" của tôi chả hề hấn gì với nó? Hứa Đạt xoay kiếm, quét mấy đường kiếm vào con quái vật như cuồn phong bão táp, vậy mà chỉ đẩy lùi nó vài bước. Cả bọn đành dắt díu nhau bỏ chạy về phía trước.

Được một đoạn thì thấy trước mặt có một cánh cửa đá, Hứa Đạt tiến đến xem xét, rồi từ kẽ của cánh cửa, đưa lưỡi kiếm lách vào bật cánh cửa đá dày và nặng mở ra. Tôi lại càng ngạc nhiên, xem ra thanh cổ kiếm này quả là bảo vật, nếu là đao kiếm bình thường thì chắc chắn một điều là sẽ gãy ngay, hoặc chí ít thì không thể mở nổi cánh cửa vừa dày, vừa nặng này, vậy mà thanh kiếm cổ ấy lại nạy được cánh cửa một cách khá dễ dàng, xem ra kiếm tốt còn cộng thêm khả năng sử dụng thanh kiếm tốt ấy của Hứa Đạt lại càng phi phàm hơn. Cả bọn đành chen chân vào trong, sau lưng thì vẫn bị con Độn Thi chết toi kia đuổi sát. Khi cả bọn đã vào trong, định chạy sâu thêm, bởi con Độn Thi cũng đã đến quá gần, nhưng Hứa Đạt giang tay ngăn lại:

- Toàn là cơ quan, sai lầm chỉ một ly cũng bỏ mạng...

Nghe câu nói ấy của Hứa Đạt, cả bọn liền ngây người như tượng, phía dưới là những ô gạch, chạm khắc vô số hình thù, cứ cách vài ba ô lại có một ô khắc ký hiệu con số mười ba theo kiểu La Mã, tức là một dấu chéo và ba dấu gạch thẳng tiếp theo, các ô có khắc con số mười ba này phân bố không điều, nhưng điều ngạc nhiên là, trong ngôi cổ mộ này, số minh khí ban đầu chúng tôi tìm được đều là đồ cổ thời nhà Đinh, cách đây hơn một thiên niên kỷ, những vuông gạch ở đây niên đại có khi còn lâu hơn, vậy những ký hiệu kia là do ai nghĩ ra, người La Mã cổ ư? Tuyệt đối không thể, người La Mã hơn một ngàn năm trước, hình như chưa từng biết tới cái chốn khỉ ho cò gáy này là gì? Vậy những ký hiệu kia ở đâu ra, người hiện đại ư, mẹ kiếp! Chẳng lẽ người hiện đại có cỗ máy thời gian, dùng nó để quay về được với quá khứ cách đây hơn ngàn năm để mà khắc ký hiệu này sao? Hoàn toàn vô căn cứ, tôi thấy cứ hoang đường quá! Đầu óc tôi suy nghĩ mà ruột gan cứ rối mù, xem ra, nếu còn nghĩ nữa, e rằng tôi sẽ bị nhũng não mất.

Lúc này, con Độn Thi đã xông qua cánh cửa đá, tưởng bọn tôi đã phóng về trước, nên nó cứ thế phóng theo, sức mạnh còn hơn cả voi, gấu gấp mười lần. Nhưng trước sự cảnh báo của Hứa Đạt cả bọn đều chẳng hề bước đi dù nửa bước, mà lùi lại, nép sát vào thành bức tường đá nơi gần cánh cửa, chờ xem động tĩnh thế nào. Con Độn Thi gầm gừ lao lên, nước dãi từ mồm cứ chảy ra, nhiễu nhão trên nền gạch. Cả bọn nín thở chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra?

Chạy khoảng sáu bảy bước, con Độn Thi bỗng rống lên, tay chân huơ loạn xạ, trong các vách tường, những mũi tên nhọn như gai, dài khoảng ba bốn tấc, thi nhau cắm vào thân con Độn Thi, khiến nó đau đớn, càng gào rú ghê rợn hơn, nhìn y như một con nhím khổng lồ, nó cứ xoay qua, xoay lại tìm kẻ tấn công nó mà vung vuốt nhọn như sắt chụp cào loạn xào bần, nhưng nào có trúng mục tiêu, mà chỉ cào cấu phải gai sắt nhọn đang bắn tới.

Bọn tôi thấy cảnh đó, cũng không khỏi kinh tâm tán phách, nếu không có Hứa Đạt ngăn lại, cả bọn cũng sẽ không khác con Độn Thi ấy là bao, sức con Độn Thi thì mạnh không cần bàn, nếu là bọn tôi thì sớm đã ngủm củ tỏi lâu rồi. Nhưng chưa kịp mừng vì may mắn, cả bọn lại một phen thót tim khi con Độn Thi quay phắt lại, lao về phía cả bọn, những mũi gai ấy hình như có mắt, con Độn Thi chạy đi đến đâu, những mũi gai bắn theo đến đó, vậy là những mũi gai từ những vách đá cứ thi nhau túa ồ ạt về phía bọn tôi.

Trong tình huống dở cười dở khóc này, bọn tôi chẳng còn biết làm sao. Chỉ còn một cách là liều mạng chống chọi tới cùng.

Tôi giao cây dù thép và viên Dạ Hải Thần Châu cho bé Nhạn, rồi nhẹ nhàng rút Khai Sơn Kiếm, tiếng lưỡi kiếm rút ra vang lên lảnh lót trong bóng tối mù mịt, nghe rợn người, đồng thời tôi chuyển tư thế chuẩn bị tấn công, tinh thần giương cao, xém chút sợi dây căng thẳng trong não cũng sắp đứt. Bên cạnh tôi cũng có tiếng kiếm lanh lảnh vang lên, Hứa Đạt đã vòng kiếm, rồi đột nhiên gằng giọng hét lên một tiếng, lao lên... Tôi cũng chẳng nghĩ ngợi gì cũng vội lao lên. Con Độn Thi hung hãn nhào tới, chỉ nghe "uỳnh" một tiếng, Lão Hòa đã vung cây dá thép đánh con Độn Thi ngã chúi xuống nền gạch, do nó đã bị vô số mũi tên sắt găm vào người, nếu không muốn nó ngã như vậy e là "lên trời còn dễ hơn". Mà cái lão Hòa này, tuy ăn nói vụng về, nhưng già mà vẫn nhanh như cắt, chả biết lão xông lên trước hay tôi và Hứa Đạt xông lên trước nữa? Xung quanh những tiếng mũi tên sắt vang lên không ngớt, tôi và cả bọn kẻ lăn, người ngã, vừa né, vừa gạt tên, tiếng vun vút xoẹt qua xoẹt lại nhức cả óc, một tiếng "a" cất lên, một người đã bị mũi tên sắt găm vào bả vai, tôi xoay đoản kiếm gạt được vài mũi đang lao đến. Bên cạnh vang lên những tiếng tinh tang không ngớt, Hứa Đạt cũng đang vung kiếm gạt những mũi tên, bé Nhạn dùng cây dù thép đỡ tên. Lúc này vô cùng hỗn loạn. Tiếng la ó oai oái, tiếng mũi tên găm vào da thịt sừng sựt, tiếng bước chân lịch bịch, tiếng té ngã uỳnh ịch, tiếng những mũi tên sắt như gai nhọn lao vun vút, tiếng linh kinh, tinh tang khi gạt tên... tạo nên một không khí vô cùng hỗn tạp, căng thẳng và đầy rẫy sự nguy hiểm đang rình rập.

Lúc này, con Độn Thi tuy bị trọng thương nhưng vẫn cố nhổm dậy, gầm lên, rồi lao bổ về phía bọn tôi, quyết một phen sống còn. Hứa Đạt thấy vậy không suy nghĩ gì, cũng lao lên, phía sau anh ta là vô số mũi tên sắt đang tua tủa bủa vây, tôi thì lúc này chân tay múa loạn cả lên, chỉ lo chống đỡ. Hứa Đạt lao đến gần con Độn Thi thì hạ thấp người, chui lọt qua hai chân to bè của nó, trượt qua bên kia, đồng thời nhanh như chớp xoay người vung kiếm gạt một loạt mũi tên đang xé gió lao đến. Con Độn Thi bị Hứa Đạt cho ăn quả lừa, có tức cũng không kịp, bị vô số mũi tên găm lên người, ngã ngửa ra sau, chết quên trăn trối. Xung quanh bọn tôi cũng đang "loạn đả" với những mũi tên sắt.

Lúc này, tên bắn mỗi lúc một nhiều, nhiều đến nỗi không còn trông thấy từng mũi nữa, mà là từng đợt, từng đống đang xung phong lao về bọn tôi, cứ y như bọn tôi đang "tắm mưa tên" vậy. Số người không nhiều, nhưng lượng thương tích đếm không sao xuể, tôi trông thấy bên hông gian phòng này hình như có một ô vuông vừa dài vừa cao, tôi vung vài đường kiếm, thì ra đây là một vuông gỗ sắp mục nát đến nơi, tôi liều mạng thét lên, rồi tung mình húc vào ô vuông ấy, một tiếng rầm vang lên, tôi đã lọt qua một gian phòng khác, cả bọn thấy tôi xông vào đó, thì cũng mau mau chóng chóng lao theo. Khi người cuối cùng qua được ô vuông gỗ thì bên kia một vài mũi tên gai sắt vẫn vun vút lao tới, tôi liền vung kiếm gạt ra, rồi dìu đỡ cả bọn lùi vào sâu hơn trong "gian phòng mới". Còn đang loay hoay chưa biết đây là nơi nào? Thì trong bóng tối, lờ mờ tôi nhận ra có cái gì đó khá to, vừa mới vụt qua.




 

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương XIV: U MINH GIỚI

Trong lúc tình huống ngàn cân treo sợi tóc, cả bọn đành chui bừa vào ô cửa gỗ sắp mục nát. Chưa kịp quan sát tình hình ra sao? Thương thế mọi người thế nào? Tôi bỗng phát hiện hình như có một cái bóng thật lớn vừa mới vờn qua, không, không chỉ một cái bóng mà là hai, ba, bốn... rất nhiều cái bóng đang chập chờn, vờn qua vờn lại trong không gian tối mịt mù, bụi đất, bụi gỗ tứ tung hỗn tạp.

Tim tôi như bị tảng đá nặng ngàn cân đè lên. Mẹ nó chứ! Chưa thoát vỏ dưa, lại gặp ngay vỏ dừa. Chả biết là cái giống phải gió nào đang nhảy múa nữa? Đuốc chẳng còn cây nào, do lúc đánh nhau loạn xạ với con Độn Thi Trùng Giáp đã để rơi mất, bé Nhạn lúc xông vào ô cửa gỗ đã vội cất viên Dạ Hải Thần Châu vào túi, đang định móc ra. Nghe tiếng động, Hứa Đạt khẽ "suỵt", rồi nói rất nhỏ:

- Đừng làm gì hết! Im lặng! Hông được đốt đèn lúc nầy!

Tôi ngẩn người, cả bọn cũng ngơ ngác. Đang trong lúc tối lửa tắt đèn, có cái gì đó rất to lớn lởn vởn quanh đây, xem chừng sẽ tấn công bọn tôi bất cứ lúc nào, sao không cho thắp đèn, ít ra trước khi bị xơi tái cũng nhìn cho rõ cái thứ đã hại mình là cái gì? Thì chết mới thống khoái! Nhưng tại sao Hứa Đạt lại không cho thắp đèn? Tôi có nghĩ nổ đom đóm mắt cũng không sao nghĩ ra nỗi, rốt cuộc là đang xảy ra chuyện quái gì?

Hiển Thủy Tề bị tên sắt bắn vào đầu vai, bị thương khá nặng, nhưng vẫn cắn răng chịu đựng, lâu lâu mới gặng ra được một tiếng rên khẽ, Lão Hòa, Kim Đầu, anh Bình đều bị trúng tên, nhưng do hoàn cảnh tối mù tôi cũng chả biết họ bị nặng hay nhẹ? Tôi thấy phần đùi hơi rát, lần tay xem xét, thì ra bị một mũi tên sượt qua, may là không sao, tôi lấy can nước, dốc vào miệng tu một hơi, thầm nghĩ: "Mặc kệ có trời sập, ông uống xong đã khát, chết cũng nhắm mắt". Nhưng mọi thứ vẫn trôi qua trong sự im lìm và tĩnh lặng, một cảm giác rất bức bối, khó chịu đang bắt đầu len lõi trong từng nơ ron thần kinh của tôi.

Chưa kịp định thần, chỉ cảm thấy tay tôi đang run lên, bé Nhạn bò qua, nắm chân tôi, tôi suýt chút là sút luôn cho cô nàng một cước. Cố trấn tĩnh tôi hỏi, giọng vô cùng nhỏ:

- Cái cô này! Muốn hù chết tôi hả? Mà... Sao hông được đốt đèn dị?

Bé Nhạn lí nhí trả lời:

- Tôi nhớ ra rồi! Mấy cái bóng này, đều là hồn của con Độn Thi, là loại di trùng (vi trùng) cực độc, thấy ánh sáng là nó bu dô như đám bù hóng (1). Chết liền...!

- Dậy tụi mình phải mần sao? Ngồi đây quài hả?

- Đợi chút cho nó tan dần!

- Chừng nào?

- Hông biết...

Hứa Đạt cũng chen vào:

- Hai người tiết kiệm nước miếng hông được hả...?

Tôi ôm một bụng tức, nhưng cũng đành thôi, không hỏi nữa, tất cả giờ đây lại chìm vào cõi tĩnh mịt, im lặng, chỉ có tiếng trống ngực là đập thình thịch, dường như nghe rõ mồng một.

Khoảng chừng ba phút, một cánh tay chộp lấy tôi lôi đi, tôi đoán là Hứa Đạt, vội nắm lấy tay bé Nhạn gần đó chạy theo, trước mắt tôi tối mịt như hũ nút, nhưng trong lúc chạy, chẳng hề vấp phải thứ gì, cũng không hề có va chạm, chả hiểu sao lại không thấy gì mà vẫn chạy như thấy rõ mọi cảnh vật. Chạy qua một khúc cua, chúng tôi dừng lại, Hứa Đạt lên tiếng:

- Đốt đèn được rồi, chúng ta an toàn!

Bé Nhạn moi viên Dạ Hải Thần Châu ra, ánh sáng soi rõ một vòm hang rộng nơi bọn tôi đang đứng. Hứa Đạt thắp một ngọn nến màu trắng, xem ra không khí nơi đây không độc hại, ngọn lửa vẫn cháy bình thường. Bấy giờ mọi người mới xem xét thương tích cho nhau. Hiển Thủy Tề bị thương nặng nhất, nhưng không nguy hiểm tính mạng, mọi người chỉ bị thương nhẹ, xem chừng không ai bị làm sao, băng bó qua loa xong, tôi thấy hơi yên tâm. Chợt, Hứa Đạt đi tới phía trước ngó nghiên, tôi cũng gắng gượng đứng lên nhìn, phía xa xa thấp thoáng ánh sáng, nhưng khá mông lung mờ ảo. Bé Nhạn cắn môi:

- Dô tới U Minh Giới rồi, hông quay dìa được nữa đâu!

Tôi bất giác ngẩn người, gì là U Minh Giới chứ? Cũng đâu thấy gì đâu? Thần hồn nát thần tính, tự mình dọa mình. Bất giác, tôi ngửi được một mùi hôi thối kinh khủng xông lên tận óc, chẳng biết phía trước lại có nguy hiểm gì không?

Hứa Đạt hỏi:

- Các người còn đi được nữa hông?

Tôi gật đầu:

- Được chứ!

Quay qua, thấy cả bọn đều đứng dậy, anh Bình thều thào:

- Kiếm đường ra thôi, nơi này ác nghiệt quá, toàn là cơ quan cạm bẫy, nghĩ mà thấy ớn da gà...!

Tôi gật đầu, cả bọn sốc lại tinh thần, chuẩn bị lên đường, tôi đốt điếu thuốc rít một hơi, Hứa Đạt đi đến chỗ cây nến, thổi tắt rồi cất vào người, đi lên trước dẫn đường, tôi và bé Nhạn đỡ Hiển Thủy Tề, phía sau là anh Bình, Kim Đầu, cuối cùng là lão Hòa đoạn hậu, cả bọn lần lượt tiến về trước.

Đi khoảng mười phút, bọn tôi gặp ngay một con đường rộng bằng đá xanh, hai bên vách con đường toàn là rêu mốc bám đầy, trên con đường ấy cứ cách chừng mười mấy thước gì đó lại có một cây đèn Trường Sinh, ánh sáng từ đó phát ra ảm đạm, u ám. Lại tiếp tục bước lên phía trước, đoạn đường đá này kéo dài khoảng hơn trăm thước, cuối con đường là một bức tường chặn lối, xem ra đã là đường cùng.


Dưới bức tường phía bên tay phải của bọn tôi, có một bộ hài cốt đang ngồi gục đầu, có lẽ đã chết khá lâu, quần áo đã mục nát cả, nhưng vẫn nhận ra là một bộ đồ màu đen viền đỏ, chân mang giầy màu xanh lam, thắt lưng còn treo một vật màu vàng hình dẹp lục giác, trên vật đó còn khắc bốn chữ Tều, tôi chỉ quen hai chữ đầu, chính là ký hiệu khắc trên những viên gạch có đầy cơ quan, mà chúng tôi cùng con Độn Thi gặp phải: Ký hiệu "con số mười ba" giống ký tự La Mã. Tôi vội nhặt lên xem, bé Nhạn cũng nhìn rồi nói:

- Đây là lịnh (lệnh) bài Thập Tam Thái Bảo, là của tổ chức trộm mộ thần bí ở thời nhà Tống bên Tàu. Hông ngờ lại thấy ở đây!

Tôi giờ mới hiểu, thì ra người mà bé Nhạn từng nói "một mình đào đường hầm" chắc là người này, để lại ký hiệu trên các viên đá có cơ quan cũng chính là y, nhưng không hiểu sao, người này lại ngồi chết rũ ở đây? Chuyện này xem ra càng lúc càng phức tạp, ngôi mộ Ông Táo này càng lúc càng có nhiều bí ẩn!

Chợt lão Hòa nói với cả bọn:

- Dơ! Cọ chữ (có chữ)!

Tôi bước đến xem thấy trên bức tường sau lưng cái bộ xương khô có khắc toàn chữ là chữ, đều là chữ Tều, tôi nhìn mà chả hiểu mô tê. Bé Nhạn bước qua xem rồi đọc rõ cho mọi người nghe. Đại khái thì là, Thập Tam Thái Bảo cũng du nhập qua Nước Nam vào thời cuối đời nhà Lý, nhưng một phần vì không có truyền nhân, một phần lại không muốn truyền cho người ngoài, nên đến đời của người chết còn bộ xương khô này, thì chỉ còn xót lại một mình y, hắn cũng định chừng sẽ "rửa tay gác kiếm", nhưng có một lần đi ngang qua đây, nghe người xung quanh truyền miệng nhau, nơi này có một chỗ bí ẩn, chôn cất một vị vua chúa nào đấy, vì hắn quen nghề trộm mộ đâm ra thành nghiện, nên hắn định bụng làm trót lần này rồi quy ẩn luôn. Hắn một mình tự đào đường hầm, thâm nhập vào đây, đi qua nơi nào thì dùng ký hiệu "Thập Tam" đánh dấu nơi ấy, những ký tự "con số mười ba" kiểu La Mã kia thực chất không phải là kiểu chữ La Mã gì hết, mà là chữ Thập Tam trong chữ viết Trung Hoa, vì tôi nhìn thấy nó nghiên vẹo giống ký tự La Mã nên tưởng lầm, thật ra nội dung ký hiệu ấy lại mang nghĩa tương đồng, đều là mười ba. Còn về phần của tên trộm mộ Thập Tam Thái Bảo, hắn không ngờ nơi này hung hiểm khó lường, tuy hắn có bản lĩnh, nhưng nơi này không phải là những nơi mà một kẻ trộm mộ như hắn ta dự liệu được. Vào được đến đây, hắn vẫn không biết cách vận hành cánh cửa này, nên không cam tâm quay về, hắn buồn bực, dẫn đến nội hỏa công tâm, cuối cùng thổ huyết rồi liệt nửa thân dưới, hắn tiếc nuối vẫn chưa đổ được ngôi mộ này, đành khắc vào bức tường, cũng là cánh cửa cuối cùng này tâm thư của đời hắn, rồi ngồi đó nhịn đói nhịn khát chờ thần chết đến rước đi.

Bé Nhạn đọc đến đây thì hết, câu chuyện về một tên trộm mộ Thập Tam Thái Bảo coi như đặt dấu chấm, số phận bọn tôi e là cũng không khác gì mấy. Nghĩ vậy mặt ai cũng ủ rũ, không còn lòng dạ đi tiếp, tôi thoáng buồn, lại lục tìm gói thuốc định hút. Vừa sờ soạn kiếm tìm (thật ra cũng không bận tâm gói thuốc để nơi nào trên người tôi), tình cờ tôi phát hiện, có một vật cứng giắt trong người, thì ra là cây quạt đúc bằng thép, có khắc thước Lỗ Ban, tôi không biết tên, nên đành gọi nó là Quạt Lỗ Ban. Tôi bèn rút ra, Hứa Đạt vừa nhìn thấy, dường như nghĩ ra được điều gì, vội đến mượn xem, rồi mừng rỡ nói:

- Có chìa khóa đây rồi...!

Truyền thuyết về Mộ Ông Táo, rất ít người biết đến, chỉ những kẻ đi trộm mộ lão luyện mới biết một ít, sử sách càng không hề nhắc đến nửa chữ, bé Nhạn và Hứa Đạt là một trong những hậu duệ của phái Thiên Tông, nhưng tổ tiên cũng ít khi gặp phải loại mộ này, nên cơ bản, những ghi chép về nó trong bút ký là không có, thầy tôi Thần Nhãn Quỷ cũng chưa hề gặp qua, nên cách mở khóa mật thất nơi chôn giấu bí mật trong mộ ấy càng không hề có đề cập, nên tôi không được thầy truyền thụ cách vận hành cơ quan trong này...


Hứa Đạt có cuốn bí thuật trộm mộ của tổ tiên, nói cho cùng cũng có chút hiểu biết. Lỗ Ban là tổ sư nghề mộc, nhưng có một truyền thuyết cho rằng, ông cũng chính là sư tổ của cơ quan, ám khí, việc cây quạt đúc bằng thép, có khắc thước Lỗ Ban, xem chừng có mục đích của người nào đó thông thuộc lĩnh vực cơ quan, cạm bẫy. Hứa Đạt nhìn cây quạt, thốt lên câu nói "Có chìa khóa đây rồi...", xem ra anh ta đã hiểu ẩn tình bên trong.

Thước Lỗ Ban dùng để đo đạc âm dương trạch, rất có khả năng liên quan tới bức tường trước mặt bọn tôi. Quả nhiên, không nằm ngoài suy nghĩ ấy. Tìm khắp một lượt, thấy trên cao của bức tượng có khắc một hình rãnh vuông dài, rãnh vuông này nằm bên trong một nửa hình tròn. Tôi và lão Hòa liền chụm lại làm thang, cho Hứa Đạt leo lên, đặt cái quạt thép vào rãnh vuông, quả nhiên vô cùng vừa vặn, Hứa Đạt đặt vào, rồi lại từ đó vặn xuôi theo chiều mở quạt, nửa vòng tròn cũng xoay theo. Quạt vừa mở ra, liền bị rãnh vuông dài hút chặt, rồi dần dần thụt sâu vào bên trong bức tường, Hứa Đạt nhảy xuống, bọn tôi lùi lại, chờ xem sự việc gì sẽ xảy ra?


Khi cây quạt thép thụt sâu vào bên trong, bức tường to lớn trước mặt bỗng nhiên như bị ai đó nhấc bổng, từ từ nâng lên, tạo thành một ô cửa rộng lớn, bên trong ô cửa vọng đến một tiếng rống chói tai, hình như là của một người phụ nữ đang bị cực hình tra tấn, tiếng rống ấy khiến bọn tôi không rét mà run, da gà nổi rộ, mồ hôi lạnh vội túa ra, gân trên đầu giật bần bật, trái tim dường như đập như điên, có thể nói sắp nhảy bổ ra khỏi lòng ngực, vội nằm rạp cả ra đất. Tôi chửi thầm trong lòng: "Mẹ kiếp! Trong này sao lại có tiếng phụ nữ gào rống ghê rợn như quỷ kêu vậy chứ?"


Chỉ Hứa Đạt biết rõ, tiếng gào thét đó không phải là của ma quỷ gì cả, mà là âm thanh của nơi bị phong bế không khí lâu ngày, một khi không khí đột ngột thoát ra ngoài, sẽ phát ra âm thanh kỳ dị như vậy, xem ra nó đã bị phong bế suốt cả hàng ngàn năm không chừng. Tôi lóp ngóp đứng dậy, Hứa Đạt kéo tay áo tôi nằm xuống, bất thần, bên trong, một đám bụi mù ập đến, nhìn ra, giống như một một con quỷ khổng lồ phóng ra khỏi cánh cửa to lớn, vồ lấy bất cứ thứ gì cản đường nó. Tôi nhìn mà muốn rớt hai tròng mắt ra ngoài.

Đám bụi mù vừa bay ra đã luồn theo con đường mà bọn tôi đi vào lúc trước mà thoát ra ngoài. Bấy giờ Hứa Đạt mới đứng dậy, bọn tôi cũng đứng dậy theo! Bên trong bức tường vừa nâng lên là một màu đen đặc của bóng tối, không nhìn thấy gì. Hứa Đạt cảm khái:


- U Minh Giới! Quả là hông tồi!

Cả bọn liền đi theo Hứa Đạt bước vào bên trong. Nơi đây chính là "U Minh Giới" mà bé Nhạn hay nhắc, là nơi Hứa Đạt muốn đi vào, cũng là nơi mà bọn tôi muốn tìm hiểu. Đi qua cánh cửa ban đầu, lúc bước vào, chỉ thấy một phần đất đá bằng phẳng, nhưng không rộng lắm, phía trước là một vực thẳm đen ngòm sâu không thấy đáy. Cả bọn đành lấy dây leo núi chuẩn bị đi xuống, không ngờ phía sau lưng, cánh cửa to nặng như một bức tường khổng lồ liền sập xuống, bịt chặt lối mà bọn tôi đi vào, trong một hốc đá của bức tường rớt xuống một vật, nhìn kỹ là cây quạt Lỗ Ban, tôi bèn đến nhặt lên, giắt vào ba lô, phòng khi hữu dụng.

Cả bọn thòng dây leo núi, đu người trèo xuống miệng vực sâu, khoảng chừng ăn xong mấy bữa cơm, uống xong thêm mấy tuần trà gì đó, thì đột nhiên anh Bình bị kẹt dây, tuột tay trượt xuống một đoạn ngắn, miệng la oai oái, sợi dây leo núi gắn móc thép không còn tác dụng trượt, khiến anh Bình treo lơ lửng người trên dây như một đòn bánh tét. Hứa Đạt thấy nguy, rút ngay dao găm trong người, chuẩn bị cắt dây. Cả bọn thấy vậy thì hồn vía lên mây, nếu cắt dây, anh Bình sẽ ngã từ trên này xuống dưới vực sâu, kết quả, không nói cũng biết, anh Bình sẽ chỉ còn lại một đống thịt bầy nhầy. Còn nếu không cắt dây, anh Bình sẽ hại cả bọn cùng nhau rơi xuống vực, bởi dây leo núi đã kết nối với nhau, móc vào một đinh thép đặc chế cắm trên bãi đất đá xa tít trên đầu, nếu dây dưa mãi ở khoảng cách này, cây đinh thép sẽ không giữ vững được làm đứt toàn bộ dây thì kết quả là cả bọn rủ nhau rơi xuống bên dưới.

Nhưng không thể để anh Bình rơi xuống dưới thịt nát xương tan được, dù sao anh ấy cũng là anh em bà con với tôi, hoạn nạn có nhau, trải qua bao nhiêu sóng gió, cả bọn lúc đầu đã hứa hẹn, cùng đi cùng về, không bỏ ai lại, nay thấy tình trạng nguy khốn, tôi kiên quyết phản đối. Bé Nhạn nhắm nghiền hai mắt không muốn thấy cảnh tan thương, cả bọn cũng không cho Hứa Đạt cắt dây, kiên quyết lên tiếng vừa khuyên can, vừa phản đối... đại loại như:

- Chúng ta cứ nghĩ cách, hông nhất thiết phải giải quyết theo cách này...

- Bình tĩnh đã! Anh em quạn (hoạn) nạn có nhau, hông được làm dậy đâu, tôi hông cho anh làm như dậy...

- Nếu chết thì cùng chết, tôi hông cho anh cắt dây, tuyệt đối hông được cắt nghen!

...

Hứa Đạt ngẩn người nhìn cả bọn, rồi nở nụ cười đầy bí hiểm, nói ba chữ:

- Hông sao đâu...!

Nghe vậy, cả bọn ngẩn tò te, chả hiểu mô tê ất giáp gì, Hứa Đạt vung tay, "xoẹt" một tiếng, cắt sợi dây leo núi đang treo anh Bình lơ lửng trên không, anh Bình mở to mắt, há hốc mồm, kêu lên một tiếng, rơi ngay xuống vực, bọn tôi thấy hãi, mặt xám đi, gọi tên anh Bình mãi không thôi, anh Bình đã rơi xuống bên dưới kèm theo tiếng la thất thanh.

Nhưng tiếng la phát ra không bao lâu, bọn tôi nghe một tiếng "bịch" rõ to, anh Bình vẫn la ó không ngớt, nhưng rồi cũng cảm nhận được điều gì, liền rên rỉ than đau, rồi kêu réo chửi ầm cả lên:

- Mồ tổ cha nó! ... Muốn lấy mạng người ta sao? ... Đồ khốn nạn! ... Quỷ tha ma bắt bọn mầy... ui da...! Gãy xương tao rồi...!

Nghe tiếng chửi ầm ỉ, tôi đoán anh Bình không sao, vả lại cũng đã tới đáy, nhưng xem ra anh Bình bị ngã đau, nên mới nổi cáu, chửi loạn cả lên. Tôi nhanh chóng tụt xuống, xem anh Bình thế nào? Đồng thời quan sát hình thế dưới này ra sao? Rồi cả bọn cũng lần lượt leo xuống. Khi biết anh Bình không sao, cả bọn thở phào nhẹ nhỏm, tôi thấy, Hứa Đạt quả là tay lão luyện, đâu phải hắn là người không biết cân nhấc nặng nhẹ, có điều hành động của con người này không để ai biết, thâm cơ khôn lường, khó lòng dò xét.

Cả bọn nhìn về phía xa, bất chợt hít vào một luồng khí lạnh. Phía xa ấy, đúng như cái tên mà bé Nhạn hay nhắc tới: "U Minh Giới". Dưới này cách mặt đất có khi cả ngàn thước, vậy mà lại có núi, non, có cả rừng cây um tùm, ngoài sức tưởng tưởng của con người, nhưng chỉ có một khác biệt duy nhất, đó là, nơi này bị bóng tối bao trùm, nhiều năm không thấy được ánh mặt trời như thế nào, cảnh vật tối tăm, u tịch, xem ra U Minh Giới đúng như cái tên của nó không sai chút nào!

Cả bọn nhìn mà ngơ ngẩn, chỉ có Hứa Đạt là bình thản hơn cả, con người hắn từ đầu chí cuối chỉ là như vậy, luôn lạnh lùng, luôn ít nói, nhưng khi đã biết được chuyện gì, thì cắn chặt môi, không hé một lời, hành động thì tuy có cân nhấc nhưng dễ khiến người khác hiểu lầm, tóm lại, hắn ta không phải một con người dễ đoán.

Nhìn hồi lâu, cả bọn kiểm tra lại toàn bộ tư trang, xem thương tích trên người, cuối cùng quyết định, nghỉ ngơi tại chỗ một ngày, tuy nói là một ngày, nhưng ở cái nơi như thế này, không thể làm cách nào tính thời gian cho được, thời ấy đồng hồ là một thứ khá xa xỉ, có tiền chưa chắc mua được, chỉ có thể nói: "Ăn uống xong, ngủ một giấc, xem như một ngày".

Tôi và bé Nhạn kiểm tra thương tích mọi người, Hiển Thủy Tề tuy bị thương khá nặng, nhưng cũng may là có áo chống đạn, mũi tên chỉ bắn trúng đầu vai, nếu bị tên sắt bắn phía dưới một tí, e là phải tàn phế cánh tay. Những người còn lại đều bị thương nhẹ ngoài da, không nguy hiểm lắm. Cuối cùng cả bọn lấy chút ít lương khô của Hứa Đạt mang theo, ăn qua loa, rồi tranh thủ nghỉ ngơi, tôi ăn xong, lấy một điếu thuốc ra hút, suy nghĩ vẩn vơ. Rốt cuộc, cái ngôi mộ này chôn cất những ai? Nếu so với trên mặt đất nó còn quy mô hơn cả hoàng cung, vậy nơi đây chứa đựng bí mật gì? Do một phần mệt mỏi, lại suy nghĩ vẩn vơ, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào cũng không hay biết.

Thời gian vô tình như hoa trôi nước chảy, chẳng biết bọn tôi ngủ được bao lâu, rồi ai nấy đều lần lượt thức giấc. Nơi chúng tôi nghỉ ngơi giống như một hõm đất, nhìn ra xa bốn bề tối đen như đáy nồi, không thể quan sát hết mọi cảnh vật, dựa vào viên Dạ Hải Thần Châu cũng chỉ soi rõ được một phần rất nhỏ trong cái thế giới của "Cõi U Minh" này.

Ai nấy đều hồi hộp chờ xem điều gì sẽ lại xảy ra khi bọn tôi đi vào chốn không xuất hiện ở trần gian này. Mọi người lần lượt tiến về phía trước dựa vào ánh sáng của viên Dạ Hải Thần Châu, đi được một khoảng ngắn thì bắt đầu có hai lối rẽ, Hứa Đạt quan sát hai lối đi, rồi đi về phía tay trái. Đi được khoảng hơn trăm thước, bất chợt Hứa Đạt sững người đứng lại, lẩm bẩm nói:

- Nguy rồi!... Đi sai đường mẹ nó rồi...!

Cùng lúc ấy phía sau lưng chúng tôi nổi gió, cảm giác như một vật to lớn nào đó đang từ trên đầu chúng tôi ập xuống.

Tôi vội ngước mắt nhìn, không nhìn thì thôi, vừa nhìn một cái tôi như á khẩu, mồ hôi lạnh buốt túa ra ướt cả áo, trên đầu chúng tôi, có hàng khối đá to đùng đang đổ ập xuống như mưa, chúng dường như nửa muốn nghiền nát, nửa muốn chôn sống cả bọn chúng tôi.
-----------
Chú thích:

(1) Bù hóng: Thiêu Thân.
 

Đang xem (Thành viên: 0, Khách: 1)


Top