[Lịch Sử - Quân Sự] Ly kỳ dị sự ký (1 người đang xem)

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228

ĐÔI LỜI TÁC GIẢ

Truyện kỳ dị xưa nay đâu đâu cũng có, đây là những câu truyện tôi được bạn bè, người thân kể lại rồi viết lên bộ truyện này.
Xưa nay có rất nhiều tiền bối từng sản sinh ra bao bộ kỳ thư về những chuyện ly kỳ, quái dị, tiên sinh Bồ Tùng Linh từng viết Liêu Trai Chí Dị, Nguyễn Dữ viết Truyền Kỳ Mạn Lục, gần đây thể loại kinh dị có rất nhiều "cao thủ lão luyện" xuất hiện, Thiên Hạ Bá Xướng - Trương Mục Giả tiên sinh với Ma Thổi Đèn, Tặc Miêu, Hà Thần..., Hà Mã tiên sinh với Mật Mã Tây Tạng, tiên sinh Nam Phái Tam Thúc - Từ Lỗi với Đạo Mộ Bút Ký vv...

Nên có thể nói chuyện phiêu lưu, mạo hiểm cùng thể loại kinh dị rất nhiều màu sắc, rất nhiều không gian, rất nhiều tình tiết ly kỳ hấp dẫn.

Nay tôi - Một hậu bối cũng xin học theo các bậc tiền bối đem những câu chuyện được nghe, cộng thêm một chút hư cấu, để tạo nên một tác phẩm nhằm đưa đến hầu hết đọc giả thưởng thức.

Mong rằng mọi đọc giả nhiệt tình góp ý


Link thảo luận truyện: http://bachngocsach.com/forum/threads/8822/unread
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Nguồn: Bachngocsach.com

Chương I: GIA TỘC SUY VONG

Tôi sinh ra và lớn lên trên một vùng quê nghèo tại đất Bạc Liêu, gia đình tôi thuộc dạng khá giả, có của ăn, của để. Lúc nhỏ, vốn tính hiếu động, phá phách, gây sự... Tôi thường xuyên tụ tập đánh nhau với lũ trẻ trâu trong xóm. Sự đời có suy thì cũng có hưng, lúc đầu tôi luôn bị đánh tơi tả, dần dần tôi bắt đầu biết đến chiến thắng. Lúc đầu, một chọi một, rồi một chọi ba, đến khi tôi từng bước rút ra từng kinh nghiệm, biết được quy luật của lợi và hại, thì một mình có thể chọi mười, tôi vẫn thắng, thường thì kẻ trí cao luôn áp đảo vua sức mạnh, những suy nghĩ nhanh chóng, quyết đoán, sáng suốt thường giúp tôi chiến thắng nhiều hơn là thượng cẳng tay, hạ cẳng chân.

Lúc tôi mới sinh, trong nhà đào được một cái ấn trên có đắp một con Rồng năm móng bằng vàng, nên ba má tôi đặt tên tôi là Nguyễn Chí Tôn. Ba tôi người Việt tên Nguyễn Quốc Thịnh, chuyên ngành nuôi thủy sản, nổi tiếng gần xa, má tôi họ Lý tên Ngọc Xuyên, chuyên bán các loại hoa ngoài chợ, ông ngoại tôi là người Hoa, bà ngoại là người Khmer, tuy ông bà nội ngoại đều cưỡi hạc quy tiên cả, chỉ còn ông cậu là em trai của bà ngoại tôi vẫn còn, nhưng gia đình tôi luôn đầm ấm, no đủ không màn thế sự bên ngoài, sống cuộc sống yên bình.

Nhưng sự ở đời, hưng vong bĩ thái có thì, chớ đem thành bại mà suy anh hùng, gia đình tôi khá giả, nhưng chỉ được hai mươi năm, lúc tôi mười bảy tuổi, sau khi học xong phổ thông, phải "lên đường tòng quân" theo tiếng gọi tổ quốc, hai năm sau trở về mới hay, nhà tôi bị một bọn lừa đảo cho ăn quả đắng, khiến gia sản tiêu tan, đồ đạc trong nhà đều lần lượt đội nón ra đi. Số là, có một lần ba tôi đầu tư nuôi ba ba giống, không ngờ khi thu hoạch lại bị bọn lừa đảo cho vào bẫy, chúng thu xong, hẹn tuần sau thanh toán đầy đủ, vì vài lần làm ăn với chúng thành công ba tôi cũng chủ quan tin tưởng, ai dè hai tuần, rồi ba tuần chẳng thấy tăm hơi, đến nơi thì chủ mới của căn nhà và những người gần đó bảo rằng chúng đã dọn đi đâu biệt tích kèm theo số nợ với ba tôi, căn nhà chúng dùng thu mua thủy sản đã sang tên đổi chủ cho người chủ mới, hỏi ra thì mới biết sau khi thu mua số ba ba xong thì vài hôm sau bọn chúng cũng lặn mất tăm mất tích... Ba tôi rầu rĩ tìm đến cơ quan điều tra, nhưng hai năm nay chưa có kết quả gì, phần vì số nợ họ thiếu không lấy gì làm bằng chứng nên vô phương tìm ra manh mối.

Số tiền ba vay của mọi người để mua giống, thức ăn, thuốc tăng trưởng... Cho ba ba điều không được thanh toán, thế là mọi thứ trong nhà lần lượt rũ áo ra đi để xoay sở số nợ tồn đọng, khi tôi về cũng chẳng còn được bao nhiêu món, cuối cùng nhà tôi lâm vào cảnh túng bấn, chỉ dựa vào mấy khóm hoa của má tôi, vài chục con cá chim trong ao của ba và số ếch ông cậu bắt được để cầm cự sống lây lất qua ngày. Nhưng không vì thế mà nhà tôi mất đi phong thái của một gia đình sang trọng, khi có tiền lại hay giúp đỡ người khác khó khăn hơn, nên trong xóm từ trên xuống dưới vẫn hay gọi ba má tôi là ông bà "Nguyễn Thường Quân".

Cuộc sống gia đình tôi lặng lẽ cứ tưởng thế là yên, ai ngờ được rằng, năm đó quê tôi hứng một cơn bão dữ, trong xóm nhà cửa sụp đổ không ít, nhà tôi cũng không ngoại lệ. Gió cuốn mái nhà bay xuống con kinh, phía trước gãy đổ, phía sau chỉ còn lại tấm vách bằng gạch xi măng, thế là "trong nhà trống huếch, nước mưa dột, thuyền gặp cuồn phong, ván tả tơi", rất may nhà tôi không ai bị sao cả, má tôi đau xót khóc lóc không thôi, ông cậu ngồi thở dài châm điếu thuốc hút, không buồn nhìn vào căn nhà mà chỉ nhìn bâng quơ đâu đó, ba tôi buồn lắm, thỉnh thoảng lôi ra mấy cây đòn tay rồi chép miệng:

- Của đi thay người, không chết đã là may!

Vài ngày sau, bão tan, mọi người trong nhà cất lại ngôi nhà bằng lá để có chỗ trú mưa, tránh nắng. Cái ao cá khi bão đến nước dâng cao, cá thoát ra kinh hết sạch, má tôi lại ra chợ bán mấy khóm hoa cho mọi người mua về trưng, kiếm đồng ra đồng vào, ông cậu vẫn tiếp tục hành nghề soi ếch mưu sinh, tôi thì ra ngoài phụ vá xe với ông anh bà con trong xóm, lương ba cộc ba đồng. Rất may, sau cơn bão, thùng gạo nhà tôi không bị sứt mẻ gì, nên cũng có cái ăn qua ngày. Mỗi khi có thời gian rãnh tôi lại tụ tập đám trẻ ngày nào đánh nhau, vật lộn, nhưng chẳng còn bao nhiêu đứa, thằng thì có vợ, sinh con đẻ cái, thằng thì tha hương làm ăn xa xứ, thằng thì vớ được cô vợ giàu bỏ bạn bỏ bè... Ôi! Ngẫm thế sự mà lòng sao chua chát!

Có một hôm, đang đấu nhau kịch liệt với bốn thằng choai choai trong xóm, mấy thằng này thuộc "thế hệ sau" nhỏ hơn tôi vài tuổi, thấy bọn tôi tụ tập choảng nhau, cũng hăng máu lao vào tham gia, cuối cùng vẫn bị tôi cho "hạ màn" nhanh chóng, vừa trồi ra xả hơi, thở hồng hộc, thấy một ông cụ tóc bạc trắng búi lên giống củ hành, đôi mắt ông dường như không còn nhìn thấy gì nữa, mặc bộ quần áo giống như của mấy ông thầy pháp sư, lưng đeo túi vải đoán chừng là quần áo, da mặt tuy nhăn nheo, nhưng vẫn còn hồng hào, tay cầm gậy trúc dò dẫm mò đường. Dường như nghe được hơi thở của tôi, ông cụ dừng lại lên tiếng:

- Hơi thở đều đặn, nhịp tim vẫn ổn định dù mới quần thảo xong, quả nhiên tố chất hơn người!

Tôi nghe mà mắt tròn mắt dẹt:

- Ông không nhìn thấy, sao biết tôi mới quần thảo xong, đang mệt đứt hơi nè ông ơi! Nhịp tim sao ổn, hơi thở sao đều được?

Ông cụ lắng nghe rồi nói:

- Ta tuy mù nhưng trong tâm có mắt.

Tôi tỏ vẻ coi thường:

- Hì hì, tôi không tin tâm ông có thể nhìn thấy đòn này của tôi.

Vừa nói chưa dứt câu tôi lao lên, hai tay vồ lấy cây gậy trúc của ông cụ như một con sói vồ mồi, tai ông cụ vểnh vểnh, ngưng thần rồi khẽ đưa cây gậy lên, tôi vồ hụt lập tức trên đà không lao tới xoay người dùng tay phải chộp vào ngực ông, thấy ông không tránh tôi chắc như bắp rằng cổ áo ông sẽ bị tôi chộp dính, ai ngờ khi tay còn cách ngực ông hai tấc (20cm), thì cây gậy trúc quật xuống, giáng thẳng vô đầu tôi đánh cộp một tiếng, tôi ngã xuống ôm trán xoa xoa, lùi lại hai bước, rồi lại ra tay tiếp, tôi lại lao lên xông thẳng vào ông cụ, đến khi gần chạm ông, tôi lại vòng phía sau lưng ông định ôm ông cụ lại thật chặt, không ngờ hai tay chưa kịp vươn tới bả vai ông đã thấy bụng đau nhói, cây gậy trúc đã quật ngược lại tự lúc nào, thốc vào bụng tôi. Tôi lùi lại ôm bụng, ông cụ khẽ mỉm cười:

- Thế nào? Đòn của con ta đều thấy cả! Không sao chứ?

Lúc này tôi thật sự hoảng hồn, bình thường mười tên nhóc không đấu lại tôi, thế mà ông cụ này tuy già yếu, mắt lại mù, thế mà ngay vạt áo ông tôi còn không chạm vào được. Ông cụ lại cười:

- Nếu không chê ta tật nguyền, nhận ta làm thầy, ta truyền dạy cho võ học của ta.

Tôi mừng rơn:

- Sư phụ! Sư phụ hãy nhận con một lạy!

Ông cụ ngăn tôi lại và nói:

- Ậy! Đừng gọi ta là sư phụ, gọi là thầy được rồi, ta chưa chết không cần quỳ lạy. Nếu muốn ta truyền dạy, con phải siêng năng, chịu khó mới được!

Tôi vâng dạ rối rít, đoạn dẫn thầy về nhà giới thiệu với cả nhà tôi. Từ đó trở đi, thầy ở lại nhà tôi và truyền dạy mọi thứ: Phóng ám khí, luyện kiếm, luyện binh pháp, luyện cách giải cơ quan, mật thất cổ xưa, cách bày trận ngũ hành, bát quái... Vốn thông minh nên tôi học rất mau chóng, thắm thoát hơn nửa năm đã qua đi. Một bữa nọ ăn cơm xong thầy vào từ biệt ba má tôi với ông cậu, rồi quay sang nói với tôi:

- Duyên kỳ ngộ đã đến lúc phân ly, mọi thứ ta biết đều truyền cho con cả, con cũng thông minh, mau lẹ, nhanh chóng học xong tài nghệ, ta mong con đừng dùng tài nghệ ấy mà làm hại nhân gian, hãy dùng nó phò nguy trợ khó, làm điều chính nghĩa. Nếu hành sự nông nổi, gây nguy thiên hạ, ta nhất định tiêu trừ. Hãy nhớ lấy! Ta có vài món bảo vật tặng cho con trước khi ta từ biệt.

Nói rồi lấy ra một cây dù hình như làm bằng thép luyện, một cây đoản kiếm dài khoản năm tấc, một viên ngọc màu vàng nhạt, một chiếc la bàn và một túi tiền xu đã xưa cũ:

- Cây dù này có tên là Huyền Thiết Tản, được làm từ sắt ngàn năm dưới đáy biển, cứng chắc vô cùng, có thể tránh nước, ngăn lửa, lợi khí bình thường cũng không thể làm trầy nổi nó. Thanh đoản kiếm này gọi là Khai Sơn Kiếm, được rèn vạn lần từ một tảng thiên thạch rơi trong lòng một ngọn núi lửa ở Đông Doanh (Nhật Bản), sắc bén dị thường, có khả năng khai sơn phá thạch, chỉ có Huyền Thiết Tản mới khắc chế nó được. Viên ngọc kia là Dạ Hải Thần Châu, trong đêm sẽ phát sáng soi rõ mọi nơi trong bóng tối. Còn chiếc la bàn kia là vật khi ta còn sáng mắt hay sử dụng, có thể sau này giúp ít được cho con, túi tiền cổ kia thay cho ám khí khi ta còn tung hoành ngang dọc vẫn hay dùng. Tất cả trao lại cho con.

Đưa hai tay đón nhận, tôi định quỳ xuống tạ ơn thầy, thầy dường như hiểu ý, ngăn tôi lại:

- Ta đã nói rồi, ta chưa chết không cần quỳ lạy!

Tôi nghẹn ngào cảm ơn thầy, thầy tôi từ biệt mọi người rồi bước ra khỏi ngôi nhà lá. Tôi chạy theo tiễn thầy, được một đoạn thầy ngăn lại nói:

- Tiễn quân ngàn dặm, đến lúc cũng phải biệt ly. Con quay về đi, nhớ lấy lời ta dặn, hành thiện tích đức đấy!

- Khi nào con mới được gặp lại thầy?

- Sinh, ly, tử, biệt tùy vào chữ "duyên" thôi!

Tôi ngẩn ngơ nhìn thầy chống cây gậy trúc dò dẫm trên con đường, bước đi khuất dần sau những bờ lau trắng xóa.

Từ ngày được thầy truyền nghệ, tôi chăm chỉ luyện tập, nghĩ rằng sau này ắt có hữu dụng. Hằng ngày vẫn đi phụ vá xe, tối về luyện tập đều đặn. Cũng từ đó cuộc đời tôi gặp nhiều sự việc ly kỳ, những sự việc không thể nào quên được xảy ra ở một số tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng... Cho đến cuối đời tôi vẫn hay kể lại cho con cháu nghe những dị sự mà tôi bắt tận tay, day tận mắt.

Vào thời đó, tivi còn chưa phổ biến lắm, lúc đầu nhà tôi có một cái trắng đen, chạy bằng bình ắc quy, sau này nhà tôi suy sụp đã bán lại cho một người kha khá trong xóm, bọn trai tráng choai choai tụi tôi hay đi coi ké, cũng là cái cớ để đi trêu mấy cô em xinh xinh trong xóm. Có một dạo tivi đăng tin tìm người mất tích, những người này đều bỏ địa phương đi đâu không rõ, cách đây hai đến ba năm, số lượng ngày càng nhiều, lúc này đã có hơn vài chục người, họ từ các tỉnh Đồng Nai, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, An Giang thậm chí còn có cả dân Bạc Liêu, Cà Mau... những người mất tích đều là thanh niên, trai tráng, có vài cụ trung niên nữa, không biết vì lý do gì, đều bỏ xứ ra đi nhiều năm không về, mất hẳn tin tức. Lúc đầu, nghe mọi người nói họ bị dân buôn lậu bắt đi, cắt nội tạng, bán qua bên Tàu (Trung Quốc), phần xác thì nhét thuốc phiện vào bụng khâu lại rồi bán qua các nước khác, có người nói họ đi theo ghe cá qua địa phận Cao Miên (Campuchia), bị cướp biển giết chết rồi chặt đầu thả trôi xuống biển... Những tin đồn này thời ấy nhan nhản khắp xóm, nhưng sự thật ra sao? Thì chẳng ai biết rõ. Trong xóm thì cấm tiệt trẻ con ra khỏi nhà, sợ lại làm vật buôn cho bọn Tàu...

Bọn thanh niên tụi tôi, chả đứa nào tin mấy lời đồn không căn không cứ, thỉnh thoảng còn lấy đó làm cớ trêu nhau, đại loại như: "Không chừng đi theo ghe cá qua được đất Cao Miên, hay Ai Lao (Lào) gì đó, vớ được một em xinh xắn, rồi ở bên đó không chịu về cũng nên". Thế rồi một hôm, một việc kỳ quái đã khiến bọn tôi khám phá ra cái bí mật về các vụ mất tích kỳ lạ ấy.

Ông cậu tôi vốn rất giỏi nghề soi ếch, lại gan dạ hơn người, chưa bao giờ nghe má tôi nói ông biết sợ hãi là sao, chỉ biết những lần đi bắt ếch, ông hay đi đến những nơi mà không ai dám vào: Nào là bãi nghĩa địa vô chủ, khu rừng hoang sau xóm, bãi đầm lầy mọc toàn dừa nước rộng âm u... Thế mà chưa bao giờ ông cau mày, hay run sợ. Nơi nào có tiếng ếch kêu là nơi đó có dấu chân của ông, dụng cụ để ông đi soi ếch chỉ vẻn vẹn có cây đèn dầu làm bằng ống nứa dài, cái giỏ tre, một cây gậy gỗ dài vài tấc, một cái bật lửa và một gói thuốc Vĩnh Hội. Cả xóm ai cũng biết, người to gan lớn mật nhất trong xóm này, chỉ có ông cậu tôi. Tôi không biết ông cậu tên gì? Vì bình thường cũng không dám hỏi má tôi, chỉ biết trong xóm ai cũng gọi ông là “ông Ba Ếch”, lúc trời chạng vạng là bắt đầu đi soi ếch, sáng lại về. Mỗi đêm ông bắt được ếch là sáng sớm bán ngay cho bà con nơi đây, kiếm tiền phụ nhà tôi mua gạo, còn dư ông mua thuốc hút và cho thằng cháu cưng là tôi mua đồ ăn vặt, chưa lần nào ông đi về tay không cả. Nhưng có một hôm, ông đi bắt ếch mà sáng về lại chẳng có con nào, cái đèn ống nứa, cái giỏ tre và cây côn gỗ cũng không thấy đâu, quần áo thì rách tươm, tay, chân, mặt, mày bị trầy trụa khắp người, trong lòng đôi bàn tay còn dính nhơm nháp chất nhờn của da ếch đã khô cứng, mặt cắt không còn hột máu, xanh như tàu lá, hớt hơ hớt hãi chạy như bay về khu chợ sớm, miệng không ngừng nói lẩm bẩm:

- Bị ma nhát rồi! Bị ma nhát rồi!…

Mấy người thường mua ếch thấy ông hốt hoảng, không biết đã xảy ra chuyện gì? Chắc gặp chuyện gì ghê gớm lắm, nên ông mới hoảng hồn như vậy, bèn đưa ông về nhà ba má tôi, xoa dầu, bóp tay, rồi hỏi nguyên nhân, nhưng ông không nói, khiến họ bàn tán xôn xao.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương II: ẾCH BIẾT NÓI

Mới sáng sớm thức dậy, vừa rửa mặt xong, tôi chợt nghe nhà trước huyên náo, tôi vội bước ra trước, thấy có vài người tập trung trong nhà, tay chỉ trỏ bàn tán gì đó, có người đang kể lại cho ba tôi nghe lúc tìm thấy ông cậu ra sao, tôi bước đến hỏi má tôi có chuyện gì, có người thấy tôi vội nói:

- Cậu ấm của ông Nguyễn Thường Quân đây mà, khôi ngô tuấn tú quá! Cậu biết không? Ông Ba Ếch chắc bị ma nhát rồi, mới sáng sớm đã hớt hơ hớt hãi chạy như điên, mặt mày không còn chút máu, miệng luôn mồm nói "bị ma nhát rồi", chắc ổng sợ vỡ mật rồi cũng nên.

Tôi vội hỏi:

- Nhưng đã xảy ra chuyện gì? Sao ông cậu lại như vậy?

- Cái này cậu nên hỏi ông ấy thì hơn!

Tôi xoay qua chỗ ông cậu, nắm cánh tay ông:

- Ông cậu! Có chuyện gì làm ông sợ hãi đến vậy?

Ông cậu thất thần, nói trong cơn hốt hoảng:

- Bị ma nhát rồi! Ếch biết nói! Ếch biết nói!...

Ông cậu tôi là người Khmer nhưng nói tiếng Việt rất sỏi, năm nay tuy đã bảy mươi bốn tuổi nhưng dáng vẻ vẫn còn lực lưỡng, như một tay võ sĩ Muya Thái, nghe má tôi nói khi xưa ông cậu từng theo một thầy võ người Khmer đi đâu hai ba năm gì đó mới về, còn tưởng ông cậu đi theo làm cướp nữa, ông thầy đó râu ria tùm lum, mặt mày hung tợn, nhưng có vẻ ông cậu đi học võ thì đúng hơn. Cặp mắt ông cậu sáng tỏ, hai tai vẫn minh mẫn, giữa huyệt thái dương nhô cao, đôi tay vẫn cơ bắp cuồn cuộn, gân nổi như rễ tre, thân hình nở nang săn chắc, đôi chân nhanh nhẹn ... nhưng tất cả giờ đây dường như đang say ngủ cả, chỉ còn lại sự thấp thỏm, hoảng hốt là còn đang ngự trị trong người.

Ông cậu nhìn tôi rồi kể lại chuyện đêm hôm, những người có mặt trong nhà nghe xong tóc gáy đều dựng đứng, có người mặt mày xanh ngắt, còn ra vẻ sợ hơn ông cậu tôi nữa.

...

Chiều hôm đó, ông cậu chuẩn bị đèn, giỏ đi soi, ông không quên giắt theo cây côn gỗ, đi đến nửa đêm mà vẫn chỉ có vài con ếch bé tẹo, ông bèn men theo con kinh, đi dọc vào khu rừng hoang sau xóm, nơi này lúc trước rất nhiều ếch nhái. Ánh trăng cuối tháng trên cao sáng vằng vặc nhưng cũng không soi hết được ánh sáng vào khu rừng, chỉ chiếu được chút ánh sáng mông lung mờ ảo, bên ngoài gió thổi vù vù, vậy mà bên trong khu rừng này lại sương giăng mơ hồ, chứng tỏ gió chẳng lọt vào trong rừng bao nhiêu, trong khu rừng những bóng cây tranh tối tranh sáng với ánh trăng, chỗ nào không được ánh trăng chiếu tới thì tối đen như mực, những con cú chốc chốc rúc lên ảo não, vài con chuột hoang leo phải cành khô khiến cành gãy rắc rắc, bọn chuột rơi xuống đánh phịch, rồi lại bò trên lá khô, nghe xào xạc như có ai đó đang bước theo sau lưng mình mà trông ra thì chẳng thấy bóng dáng nào cả, tiếng gà gáy canh đầu nghe râm ran, vài con chó trong xóm nháo nhác sủa văng vẳng, thỉnh thoảng còn có con tru lên liên hồi như sói gọi trăng. Khu rừng hoang càng thêm u tịch, rùn rợn với khung cảnh lặng lẽ, tĩnh mịt, kèm theo bao âm thanh lao xao giữa bầu trời khuya lạnh lẽo... Ông cậu soi đèn, vạch từng cành cây, dò dẫm đi trong đêm vắng, len lỏi vào sâu trong khu rừng hoang.

Khu rừng này, xưa nay không ai dám bước chân tới, nghe mấy cụ già trong xóm nói trong khu này thường có chuyện kỳ quái hay xảy ra, ví dụ như khi xưa có người vào đây, đột ngột gặp một cô gái rất đẹp xuất hiện, đùa bỡn trêu ghẹo, khi về đến nhà thì mồm đầy bùn đất, rễ cây, sau đó trở bệnh thập tử nhất sinh, không đầy một tháng thì tắt thở, cơ quan y tế dù cử bác sĩ giỏi mấy cũng không tìm ra được bệnh gì? Ông cậu xưa nay gan to mật lớn, lại không tin mấy chuyện nhảm nhí ấy, đã mấy lần ông cậu vào đây soi ếch, nào có thấy cái khỉ gió gì đâu, nên ông mạnh dạng tiến bước, nhưng người ta hay nói "đi đêm ắt có ngày gặp ma". Vô tình, ông cậu giẫm lên một cành cây khô nghe rốp một tiếng, bỗng loạt xoạt, lùm cây phía trước động đậy rồi một vật từ bóng tối phóng ra, ông cậu định thần, trố mắt nhìn kỹ, thì ra là một con ếch. Nhưng con ếch này to hơn bình thường rất nhiều, cặp đùi nó to như bắp tay người lớn, thân nó cũng gần bằng phân nửa người ông cậu, cái bụng phình to như trái banh da, còn to hơn ếch bà một bậc. Ông cậu nhìn thấy nó nhảy ra, trong bụng liền mừng thầm: "Dơ, thì ra là con ếch bà, vô tay tao thì đừng mong chạy khỏi". Con ếch không thèm để ý, nhảy lên một tí, bụng phát ra tiếng ì oạp như thách thức, ông cậu hông giắt cây côn gỗ, tay trái cầm đèn ống nứa, tay phải giơ lên chộp eo con ếch, nhưng tay vừa tới, con ếch cũng vừa nhảy lên tránh khỏi, ông cậu thủ thế, chộp lại lần nữa, con ếch như có mắt phía sau, lúc tay ông cậu vừa tới, nó cũng nhoài chân phóng về phía trước một chút, vừa đủ để tránh cú chộp của ông cậu, thế là một người một ếch, cứ chộp rồi nhảy, dần dần tiến sâu vào khu rừng. Nhảy một lúc con ếch dừng lại trước một mô đất lớn bên cạnh cây liễu già to cỡ hai người ôm, nó nhảy tới một cái hang to cỡ miệng thùng múc nước ăn sâu vào mô đất, rồi nằm ngửa ra phơi cái bụng được ánh lửa từ cây đèn ống nứa soi tới trắng phới, từ ánh đèn ông cậu cũng kịp nhìn rõ và nhận ra đây là một cái mồ to của người Tiều (người Hoa), được đắp bằng đất, cái mồ to hơn bất kỳ ngôi mộ Tiều nào trong xóm mà ông biết, phía trước có tấm bia đá cao hơn đầu người, rộng cả sải tay, khắc chi chít chữ Tàu. Con ếch nằm bên cạnh cái hang phơi bụng ra, đôi mắt lồi từ từ khép lại như đang mệt mỏi chuẩn bị nghỉ ngơi, ông cậu bỏ đèn ống nứa xuống, vén tay áo lên, rồi chà chà hai tay, nói khẽ:

- Xem mi chạy được đâu?

Ông cậu lao đến đưa hai bàn tay chộp ngay bụng con ếch, con ếch dường như đang lim dim bị chộp bất ngờ, hoảng hốt mở mắt thì đôi tay như tấm lưới sắt đã ôm trọn cái bụng trắng ởn của nó, nó giật mình la lên: "Ui da..." một tiếng... Ông cậu như bị điện giật ngạc nhiên vô cùng, run run buông đôi tay ra khỏi bụng con ếch, bỏ đèn, quăng giỏ, vứt luôn cây côn gỗ quay người cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng, bị cành cây cào trầy tay, xước chân, rách toạc quần áo cũng chẳng dám ngoái đầu nhìn lại, bao nhiêu sức lực dồn cả vào đôi chân chạy trối chết, con ếch cũng kinh hoảng nhảy tọt vô hang sâu ăn liền với cái mồ Tiều.

Mọi người nghe đến đây đều nín thở, tim đập chân run, mồ hôi túa ra trên trán, không ngờ rằng trong khu rừng hoang âm u, quái lạ kia lại có một ngôi mộ Tiều như thế, con ếch ấy chắc đã thành tinh mất rồi. Tôi nghe mà chưa tin hẳn, ếch sao nói tiếng người được chứ? Dù nói được cũng không thể khiến ông cậu sợ hãi đến vậy! Chắc bên trong còn có ẩn tình chi đây? Sau khi phụ ba má đưa ông cậu vào nhà trong nghỉ ngơi, tôi ra tiệm vá xe của ông anh bà con, rồi kể cho mọi người cùng nghe chuyện tôi được ông cậu kể lại ban sáng. Có vài tên nhất trí sẽ cùng tôi đi vào khu rừng hoang ấy xem sự thể thế nào, ông anh bà con cũng nói sẽ tham gia, thống nhất tối nay hành động, để xem trong khu rừng ấy thật sự có ngôi mộ Tiều ra sao? Con ếch quái quỷ kia là cái khỉ gió gì?

Nhóm chúng tôi có tổng cộng bảy tên, ông anh bà con tên là Nguyễn Quân Bình, dáng người nhỏ con, thấp bé nên mọi người hay gọi là Bình Lùn, là anh chú bác xa của tôi, hai tên khác tôi không biết họ tên thật sự chỉ quen gọi bọn nó là thằng Quang với thằng Toản, một thằng nữa tên Dương Hải Đoàn, làm nghề vác xi măng cho nhà máy đang xây trong xóm, hắn cũng có sức khỏe lắm vác hai bao xi măng cả trăm ký (kg) như không có chuyện gì, nhưng có cái hơi chậm chạp nên lúc nào đánh nhau với tôi cũng bị thua cả, một tên khác là Hùng Ngọng, gọi là ngọng vì lúc nhỏ hắn trèo cây rồi té đập mặt vào gốc cây, răng cắn phải lưỡi, đầu lưỡi mất một mảng thịt nên lúc nói chuyện bị lớ lớ. Một người nữa là lão Hòa, là một người Khmer, nói tiếng Việt chưa rành lắm, hành nghề móc cua, mặt mày râu rậm như Trương Phi, lúc nào trên vai cũng vác theo cây móc, một cái dá (giống như xẻng, nhưng lưỡi bản vuông) được đúc từ một khối thép đặc và một cái giỏ bằng bao ni lon đeo bên mình, cộng thêm tôi nữa là đủ bảy, tất cả hẹn chiều nay khi mặt trời sắp lặn thì lên đường.

Ăn cơm chiều xong, tôi tay ôm Huyền Thiết Tản, lưng eo giắt Khai Sơn Kiếm, trong túi quần trái để Dạ Hải Thần Châu, túi bên phải dồn một ít đinh sắt và đồng xu cổ, khoác thêm cái áo rằn ri dày lúc trước tôi mua khi còn đi lính, ôm theo túi đựng đèn pin, đồ ăn và cal nước uống, đi ra bờ kinh đợi, chừng mươi phút cả bọn lần lượt xuất hiện: Tên Quang, tên Toản, tên Đoàn, tên Hùnh Ngọng, anh Bình, cuối cùng là lão Hòa, mỗi người như hẹn ước từ trước chuẩn bị hai phong bánh Pía, một cal đựng nước uống hai lít, một đèn pin, riêng lão Hòa còn chuẩn bị cây dá, một lít rượu trắng và cái nanh heo rừng có khắc Phật Quan Âm đem theo phòng trường hợp gặp phải những thứ tà mị, quái quỷ. Cả bọn xuất phát. Men theo con kinh đi khoảng mấy trăm thước (1 thước bằng 1 mét, không giống thước bên Trung Quốc), thì gặp một lối mòn, hai bên toàn là cây ô rô và dây cóc kèn, trước mắt là khu rừng hoang âm u, mù mịt. Mặt trời ngả về tây, hắt những ánh nắng cuối cùng trong ngày vào rừng, chúng tôi bước vào lối mòn đi sâu vào khu rừng, băng qua những cây mắm to là vào đến địa phận bên trong khu rừng, lúc này, nắng đã tắt, bóng tối bắt đầu len lỏi vào rừng, thay cho những ánh hoàng hôn nhàn nhạt lúc chiều. Trước mắt tối đen xòe tay không thấy ngón, tôi móc cây đèn pin, bật lên soi đường, Hùng Ngọng cũng làm theo, tôi lập tức tắt đèn đi, Hùng Ngọng ngạc nhiên, lính quýnh hỏi nhỏ:

- Ao nhại ắt èn (sao lại tắt đèn)?

Tôi nhìn hắn rồi nói:

- Bất (mở) chi cho nhiều, tốn pin!

Hắn gật gù, soi đèn pin đi trước, cả bọn nối gót theo sau, đi một đoạn thì gặp một con rạch cạn, qua khỏi con rạch, phía trước nhìn thấy vô số lùm cây mọc um tùm, trên bầu trời đen kịt một màu, bên dưới ngoài ánh đèn pin từ tay Hùng Ngọng soi đến, thì cũng không khác nhau là mấy, đi đường thỉnh thoảng bắt gặp cây côn gỗ, cái đèn dầu ống nứa và cái giỏ ếch nằm chỏng chơ của ông cậu nằm bên những lùm cỏ thấp, cái giỏ tre trống không, ếch trong giỏ chắc đã thoát khỏi ra ngoài khi ông cậu hớt hãi bỏ lại, tôi giao cây gậy gỗ cho anh Bình Lùn để làm vũ khí phòng thân, qua khỏi những lùm cây thì có một lối mòn khác rộng hơn, hai bên là lau sậy mọc cao hơn đầu người, trên trời chi chít sao, phía dưới đom đóm lập lòe, khu rừng tĩnh mịt một cách đáng sợ, bầy cú đêm thỉnh thoảng rúc lên grú...grú...grú, những cành lá trên cây bị gió thổi rào rạc, có vài nhánh khô gãy răn rắc, tiếng dế rỉ rả nghe buồn não nuột, vài con dơi lượn lờ khi bắt gặp ánh đèn, cứ đảo qua đảo lại quanh bọn tôi, vài con bìm bịp trốn trong bụi lau, bị đèn rọi qua bất chợt lao vụt ra, chạy tìm chỗ trú ẩn khác, làm cả bọn như đứng tim, giật thót mình lùi lại, tên Toản hai chân run rẩy như sắp rời ra, sợ đến mặt xanh lè, chắc tiểu cả ra quần, anh Bình Lùn thấy vậy gắt lên:

- Chú mày làm gì mà run như cầy sấy vậy? Chỉ có con bìm bịp mà đã tiêu tan bảy vía đi rồi à?

Tên Toản run lẩy bẩy, nhưng vẫn làm bộ làm tịch:

- Đâu phải, tôi chỉ nghe nói nơi nào có bìm bịp, thì nơi ấy có rắn hổ, bị nó mổ một phát là toi mạng à.

- Chú mày sợ chết thì cứ nói thẳng! Chừng nào bìm bịp có đẻ trứng mới tha rắn về giữ, khơi khơi sao có rắn hổ? Đúng là thỏ đế!...

Anh Bình lại không bỏ qua. Tôi thấy cả hai cứ người lui kẻ tới đối đáp không thôi, thì trong lòng thầm lắc đầu, không biết họ còn luyến thắng đến bao giờ, nhát như nhau cả thôi, nhưng như thế cũng đỡ buồn khi đi trong khu rừng hoang vắng u tối thế này, đi đã được một lúc lâu, lúc này đoán chừng đã giữa đêm, ánh trăng già đã soi chút ánh sáng lạnh lẽo vào khu rừng, chỗ được chỗ mất, chợt phía trước có cái bóng cao sừng sững xuất hiện, cái bóng như một kẻ khổng lồ với cái đầu to lù lù một khối đen đặc đứng ngáng trước bọn tôi, tôi tinh mắt nhận ra đây là cây liễu già mà ông cậu nhắc tới, thân cao to, cành lá sum suê, nhìn chẳng khác tên khổng lồ tóc tai rũ rượi, Hùng Ngọng đi trước nhưng không nhìn rõ, tưởng có một người cao lớn đứng trước chặn đường thì hoảng hốt ngồi phịch xuống đất, định bò quay lại, tôi chụp vai hắn nói khẽ:

- Có cái cây bự thôi, làm gì mà ngồi bẹp xuống đất vậy? Tính kiếm tim lọt ra à?

Hùng Ngọng đã nhìn ra đó là cây liễu già cao to, nên phủi mông đứng dậy, tay vuốt vuốt lên ngực:

- Ú ồn, ưởng iu ái o ác ới ăn ịt, ém út ót im a iệt ứ ẳng ơi (hú hồn, tưởng yêu quái to xác tới ăn thịt, xém chút rớt tim ra thiệt chứ chẳng chơi)!

Nhờ ánh đèn, bọn tôi đã trông thấy cái mồ Tiều to lớn bên cạnh cây liễu già, cái mồ như là một cái gò lớn, cao gần năm thước, bên trên cỏ dại mọc tua tủa, um tùm, nhìn y như một cái gáo dừa đầy rong rêu khổng lồ úp lên, phía trước là một cái bia đá, phần trên là một mái ngói hình vòm nhô ra dính liền phần dưới, phía dưới giống như một bức tường dày, bề mặt ngoài khắc hai hàng chữ Tiều nhỏ, ở giữa khắc một dòng chữ lớn, đều chạy dọc từ trên xuống dưới, chả biết đọc như thế nào? Phía ngoài ngôi mộ là hai con sư tử bằng đá, điêu khắc sinh động, chắc đã có từ rất lâu nên rong rêu phủ đầy nhìn giống hai con sư tử có màu xanh lá, nhưng cũng không làm mất đi sự oai phong lẫm liệt: Đầu to, thân mình đầy sinh lực, lông bờm xoan tít tạo thành những khối u xoắn ốc, đôi mắt mở to, đuôi thẳng nhưng dáng uyển chuyển, hai con, bên phải thì giơ chân trái, bên trái thì chân phải gác lên một quả cầu bằng đá được đẽo gọt hết sức tỉ mỉ, hai con sư tử đá này nhìn như thật vậy, khiến ai nhìn vào cũng thấy hơi có vẻ e dè, khiếp đảm, quả thật là một đôi thú đá canh mộ hoàn hảo. Xung quanh ngôi mộ mọc đầy cỏ dại, xanh mướt trong sương đêm, để ý kỹ mới thấy, phần bên hông mộ có một cái hang, miệng to như miệng thùng nước, ăn sâu vào bên trong, soi đèn pin vào không thể biết nó sâu bao nhiêu, chỉ thấy hun hút một màu đen đặc của bóng tối.

Tôi quay ra nói với cả bọn:

- Cái hang đây rồi! Phải vào trong lôi con ếch chết tiệt kia ra coi xem nó là thần thánh hay yêu ma phương nào mà dám tác quái xứ này? Nhưng bây giờ đói bụng quá! Dọng (ăn) mấy cái bánh đã rồi dô moi nó ra!

Cả bọn tìm ra ngay một khu bằng phẳng để làm chỗ ngồi, chính là khoảng gạch lát trước tấm bia đá, giở bánh ăn, tên Toản rất mê tín, lấy hai cái bánh pía, để lên một cái lá, đặt trước bia đá rồi lầm rầm:

- Ông bà gì gì ở đó ơi! Ông bà sống khôn thác thiên xin chứng giám, bọn con chỉ muốn xem con ếch biết nói nó ra làm sao? Nếu có gì quấy quá xin ông bà khuất mặt khuất mày rộng lòng thương mà bỏ qua cho chúng con nhờ, có mấy cái bánh, ông bà ăn lấy thảo!

Khấn vái xong còn xin lão Hòa ít rượu, rưới trước tấm bia đá. Tên Quang thấy vậy thúc vào hông tên Toản:

- Đã bảo người ta khuất mặt khuất mày, sao ăn được mà ở đó khấn vái nhiệt tình vậy? Dọng nhanh đi ông cụ để lấy sức mà lôi con ếch ra!

Cả bọn đang ăn uống say mê, chợt một cơn gió lạnh kèm theo một mùi tanh nồng thốc tới làm cả bọn lạnh toát, tôi nghe tiếng sột soạt phát ra từ phía tối om trong một lùm cây gần đó, một vật to lớn từ từ bò ra.

Trong đêm tối âm u mùi tanh tưởi trong cơn gió lạnh ào đến làm cả bọn buồn nôn, tên Toản ọe một tiếng, vài miếng bánh cùng nước dãi cũng từ mồm hắn xổ ra, Hùng Ngọng lập tức lia cây đèn pin vào trong cơn gió ấy. Cả bọn trố mắt nhìn, lông tóc dựng đứng cả lên, đôi con mắt như rớt cả ra ngoài hốc mắt, miệng há ra kinh ngạc, trái tim như trống đình đập thùm thụp, nếu lồng ngực mà mỏng thì nó cũng phóng vọt ra ngoài ngay. Sau cơn gió lạnh, là lùm cây rậm rạp tối om đang lù lù một cái đầu rắn trắng bóng to như cái khạp (chum) bò ra. Trên cái đầu trắng bóng lấp loáng vẩy của con rắn có một đôi sừng nhìn giống gạc nai thu nhỏ, cái mồng (mào) như mồng gà nhưng màu vàng sậm dựng đứng, cặp mắt nó như hai bóng đèn pin nhìn chằm chằm vào bọn tôi, cái đầu nó chằm chậm ngóc lên, cái lưỡi đỏ lòm thò ra thụt vào, mũi phì một hơi, một làn khói trắng nhỏ phun ra, con rắn nhìn cả bọn rồi bất ngờ há cái mồm rộng, giơ cặp nanh xanh lè dài cả tấc ra, phùn cái mang to bè như cái xịa (nia) lớn, khè lên một tiếng. Lão Hòa chụp cây dá thép thủ thế, anh Bình cũng đưa cây côn trước mặt, tên Đoàn đã nạy lên một cục đá xanh cầm chắc trong tay, tên Quang vớ một cành cây gãy làm khí giới, tôi giơ Huyền Thiết Tản trước người, ngẩn đầu nhìn con rắn có sừng kia, tên Toản mặt chẳng còn giọt máu, ngồi bẹp trên đất đang trong tư thế ấy bò thụt lui về cái bia đá. Con rắn to đùng, chẳng biết dài bao nhiêu, bởi phía sau nó tối thui, chẳng nhìn rõ được, đột nhiên nó rụt đầu lại rồi phóng vút vào đám người bọn tôi, cả bọn dạt ra hai bên, tôi đứng gần tên Toản nhanh tay tóm gáy áo hắn giật lại về phía tôi, nhanh như tép giương Huyền Thiết Tản lên, vừa lúc con rắn quái quỷ kia đã đảo đầu qua húc thẳng vào Huyền Thiết Tản, sức mạnh của con rắn thật kinh hồn, húc Huyền Thiết Tản, tôi và tên Toản văng đi một khoảng, tên Đoàn trông thấy liền ném viên đá cầm trên tay, viên đá bay thẳng vào đầu con rắn đánh bộp một tiếng, con rắn giật mình quay đầu về phía viên đá bay tới, nhìn chòng chọc vào Dương Hải Đoàn, định lao qua tấn công, lão Hòa càng tinh ranh đã vòng được ra sau con rắn, cắm cây dá từ trên xuống vào đoạn gần đuôi con rắn, một tiếng phập vang lên, trên thân con rắn đã có vệt máu phun ra, con rắn đau đớn oằn mình quay sang lão Hòa, tên Quang cũng đứng gần bên vội dùng hết sức phóng mạnh cành cây gãy vào đầu con rắn, tuy là cành cây gãy nhưng dáng vẻ suôn đuột, thẳng thóm, phần bị gãy nhọn hoắc nhìn chẳng khác một cây lao gỗ, bay vụt đến đầu con rắn với hết sức lực của tên Quang, cành cây xé gió bay như tên bắn, ngẫu nhiên thế nào lại cắm phặp vào con mắt phải của con rắn có sừng kia, anh Bình cầm cây côn gỗ của ông cậu tôi cũng lao lên vụt liên tiếp vào đầu con quái vật to xác kia, cây côn gỗ của ông cậu tôi được làm từ ruột một cây mắm già, cứng chắc và rất dai, con rắn bị vụt ba bốn cái đã bị vỡ một mảng trên đầu, bèn hắt cái đầu về phía anh Bình, giáng nguyên cái đầu to như tảng đá vào người anh Bình khiến anh văng ra một khoảng xa, trước khi văng đi, cây côn gỗ của anh Bình cũng vừa vặn tán thẳng một cú vào cái sừng như gạc nai non của con rắn, khiến cái sững cũng gãy đi mất, trên chỗ gãy chảy ra một chất dịch nhầy nhụa màu nâu xanh, con rắn quay mình về phía anh Bình - kẻ đã tấn công làm nó mất đi cái sừng nhỏ, quẫy cái đuôi đã bị thương hắt trúng lão Hòa đang định đâm cây dá vào phần đuôi lần nữa, làm lão Hòa cũng văng vào một lùm cây nhỏ, nhưng lão nhất quyết không buông cây dá làm bằng một thanh thép đặc đúc liền một khối - vũ khí duy nhất đồng thời cũng là dụng cụ kiếm cơm của lão. Tên Toản lúc này mặt mày xám ngắt không dám mở mắt nhìn, hai tay ôm đầu, run lẩy bẩy. Tôi thấy thể liền rút ngay Khai Sơn kiếm lao vụt tới nhắm thẳng vào cái mồng màu vàng sẫm chém một nhát chí mạng, bổ xuống đầu con rắn. Nhát kiếm chí mạng ấy vụt xuống như cắt đậu hủ, tôi lập tức nhảy lộn ra phía ngoài, đầu con rắn lúc lắc rồi tách ra làm hai phần, thân con rắn giẫy giụa rồi phần đầu từ từ đổ xuống đám lá khô vương vãi trên nền đất, tạo ra một lớp bụi đất, tản ra tứ phía. Cả bọn kẻ đứng, kẻ nằm, người đang thủ thế, người đang nửa quỳ nửa ngồi trố mắt, bất động nhìn con rắn đang quằn quại trong vũng máu từ đầu nó chảy ra. Anh Bình vội đến đỡ lão Hòa dậy, tôi lững thững bước tới lôi tên Toản dậy rồi dựa vào bia đá thở hổn hển, cả bọn cũng ngồi dựa vào bia đá ấy, ai nấy vừa một phen dạo bước qua mặt tử thần nên vừa run, vừa mệt cứ thở hì hục như vừa chạy nước rút mới xong. Tôi đã hiểu, thì ra đêm hôm trước ông cậu vô tình chộp phải con ếch biết nói, đang ngẩn ngơ thì lại gặp ngay con rắn quái vật có sừng này nên mới bấn loạn tinh thần đến sợ xanh mặt như vậy. Tên Toản lúc này đã sợ đến tái mặt, giọng nói run rẩy không ngừng đòi quay về, tên Quang liền nạt ngay:

- Đã đến nơi rồi, còn chưa thấy được cái con ếch chết tiệt ra sao? Xém chút là bỏ mạng trước con quái thú đầu sừng kia, giờ lại đòi dìa (về) thì đêm nay uổng công phí sức à? Mày muốn dìa thì dìa một mình đi, bọn tao hông (không) cản.

Nghĩ lại đoạn đường đã đi qua vắng lặng, tịch mịt, tên Toản rùn mình thôi không lải nhãi nữa. Nghỉ ngơi một chút, thấy ánh trăng trên trời tuy khuyết hơn nửa nhưng ánh sáng vẫn vằng vặt, gió trên cao không còn thổi nữa, sương bắt đầu giăng mờ, vẻ u ám của khu rừng càng khiến người ta lạnh sống lưng, cả bọn quyết định thâm nhập vào cái hang ăn sâu vào ngôi mổ cổ của người Tiều. Vì miệng hang quá nhỏ không thể chui lọt nên lão Hòa dùng cây dá thép đào rộng ra, vốn quen với việc đào hang móc cua, nên việc mở rộng thêm miệng hang không gặp khó khăn với lão, chẳng mấy chốc miệng hang đã rộng hơn có thể khum người chui vào được. Lão Hòa vừa đào vừa dẫn cả bọn tiến vào, Hùng Ngọng soi đèn phía sau lão Hòa, tên Quang bắt tên Toản cùng khuân mớ đất đào được ra ngoài bớt, đào khoảng mười thước thì miệng hang đã rộng ra rất nhiều, có thể do tự nhiên hình thành, cùng lúc có thể ba người chui lọt. Lão Hòa, Hùng Ngọng và tôi đi vào trước, phía sau là anh Bình Lùn, tên Toản, tên Đoàn và tên Quang nối gót lần lượt đi vào. Cả bọn đi càng lúc càng sâu vào cái hang ăn sâu vào ngôi mộ Tiều.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương III: NHỮNG VỤ MẤT TÍCH

Cả bọn rồng rắn nối đuôi nhau, dựa vào ánh đèn pin trong tay Hùng Ngọng, thấy phần vòm hang nhẵn bóng, đoán chừng là lối ra vào của con rắn trắng đầu sừng to đùng kia, nhưng nghĩ lại miệng hang quá nhỏ trong bụng cũng thắc mắc, không hiểu ra sao? Đi được một đoạn thì thấy cái hang chia ra làm hai ngã rẽ, một ngã thoai thoải xuyên xuống dưới, một ngã lại xéo lên trên, ngã rẽ xéo lên này chắc rằng mới chính xác là lối ra vào của con quái thú, còn phần xuyên xuống thì có lẽ dẫn đến nơi chủ mộ an nghỉ hay dẫn đi đâu thì không chắc chắn được. Cả bọn quyết định đi xuống, lúc này càng đi sâu càng thấy trong hang mù mịt một màu u tối ảm đạm, lão Hòa đã bật thêm cây đèn pin trong tay, nhưng bóng tối không mấy giảm, khiến cả bọn như nghẹt thở, tôi chợt nhớ lúc còn trong quân ngũ, khi đào hầm công sự, nếu bên trong không khí không lưu thông, sẽ khiến ánh sáng khó mà phát huy tác dụng, lưu lượng không khí ít ỏi cũng sẽ khiến các quân nhân đào công sự chết ngạt, vì thế phải kiểm tra hàm lượng ô xy trong hầm, cách dễ nhất, tiện lợi nhất là đốt lửa, ô xy trong không khí nhiều, thì lửa cháy bình thường, có thể thi công tiếp, còn nếu lửa tắt, phải nhanh chóng lui quân ngay. Tôi bèn lôi cây đèn dầu ống nứa của ông cậu ra, bên trong ống vẫn còn ít dầu, bật quẹt lửa đốt lên, đồng thời châm luôn một điếu thuốc, thấy ngọn đèn trên ống nứa cháy bừng lên tuy ánh sáng yếu ớt nhưng khiến tôi thêm yên tâm, rít một hơi thuốc rồi cất bước đi tiếp. Vừa bước lên một bước cả bọn liền khựng lại, tên Toản đã kịp nhìn thấy gì đó phía trước, liền la lên:

- Quỷ thần thiên địa ơi! Sao âm binh ở đâu mà kéo ra quá trời dậy? Lần này bỏ mạng là cái chắc rồi!

Nói xong liền run chân quỳ xuống không muốn đi tiếp. Cái thứ gọi là "âm binh" mà tên Toản nói thực chất chính là một bãi xương người nằm la liệt trên lối đi, đầu lâu xương sọ trắng ởn tứ tung hỗn tạp, nhìn vào khiến tóc gáy rờn rợn. Thấy tên Toản quỳ dưới đất nhất quyết không chịu dậy, tên Quang liền bước tới đưa tay cốc ngay đầu tên Toản nghe cốp một cái, chưởi:

- Có mấy bộ xương khô chớ có phải âm binh âm tướng gì đâu mà sợ dữ vậy? Mồ tổ cha mày! Biết lúc đầu chết nhát dậy, bọn tao cóc cần cho theo, làm vướng tay vướng chân. Giờ có chịu đi nữa hông?

Tên Toản sợ run cằm cặp như mới đi Bắc Cực du lịch về, răng va lạch cạch, miệng lắp bắp nói:

- Tự dưng ở đâu chui ra một đống xương người, mày không thấy sợ sao? Biết đâu phía trước lại có thêm một con rắn đầu bò nữa thì coi như tụi mình chán sống hết rồi... Tao... Tao muốn quay dìa!

Tên Quang nhớ tới con rắn trắng đầu có cặp sừng nhỏ, nuốt nước bọt khan rồi im re, anh Bình nghe tên Toản kêu ca, thấy cũng có lý, nên an ủi nó:

- Thì mày ráng đi với tụi tao cái coi! Cả bọn giờ như cùng chung con thuyền trôi ra giữa biển rồi. Nếu lỡ gặp thêm con quái thú nào thì đã có cây kiếm của thằng Tôn chẻ một cái như chẻ củi, lo gì? Tụi tao lạy mày, mày bớt bàn ra cho tụi tao nhờ! Tao nghe tía tao nói, trong rừng hoang này có mả, trong mả có chôn vàng nhiều lắm, nhưng ổng sợ ma hổng dám dô, nay tụi mình dô tới đây rồi, biết đâu rinh dìa một bao vàng thì nhà cao cửa rộng, đồ ngon gái đẹp tha hồ mày hưởng, bộ mày hông muốn phát tài hả?

Hùng Ngọng cũng chen vô:

- Ải ồi, ừng ỏ ó à ên ài, ệt ấy à uôn (Phải rồi, đừng ở đó mà rên hoài, mệt thấy bà luôn)!

Tôi đưa mắt quan sát một lượt, lại thấy tức cười Hùng Ngọng, người ta thường nói: "Điếc hay ngóng, ngọng hay nói", đã vậy nó còn nói dài dòng, thằng Toản chả hiểu gì cứ nhìn nó, tròn xoe con mắt, sừng sộ hỏi lại:

- Mày nói cái giống gì? Chưởi tao hả?

Anh Bình giải thích cho thằng Toản, rồi nói:

- Nói tiếng Việt mà còn phải dịch nghĩa nữa, cái ông Ngọng này, ham nói bà cố à!

Tôi cười khúc khắc, rồi bước đi trước dẫn đường, đồng thời giương Huyền Thiết Tản ra che phía trước, lão Hòa soi đèn đi sau tôi, cả bọn tiến chậm rãi về trước. Tôi giương Huyền Thiết Tản đề phòng phía trước, vì tôi phát hiện, phần ngực của những bộ xương nằm dưới đất đều cắm những mũi tên cỡ nhỏ, giống như mũi tên được phóng ra từ nỏ liên châu găm vào xương ức, người trúng tên trừ khi là mình đồng da sắt, còn không thì lập tức bỏ mạng ngay. Quả nhiên, không ngoài dự đoán, vừa bước lên vài bước đã nghe tiếng rinh rít trên vòm hang, rồi một loạt tiếng vun vút vang lên, Huyền Thiết Tản bị vô số vật thể nhanh như đạn bắn va đập vào kêu lên linh kinh không ngớt. Cả đám bọn tôi đều ngồi xổm xuống, dựa vào Huyền Thiết Tản mà không bị trầy xước gì, nếu không có cây dù này, e rằng cả bọn đã sớm trình diện với Diêm Vương nơi âm tào địa phủ rồi. Một loạt tiếng vang va đập vào chiếc dù thép như mưa dội vào mái thiếc, tôi thấy phía dưới Huyền Thiết Tản rơi xuống vô số mũi tên nhỏ, có mũi tên còn bị toe cả đầu do ko chịu nổi va đập vào cây dù thép đặc biệt, có số găm cả vào phần vòm hang. Trên vòm hang tiếng rinh rít lại trỗi dậy, tôi ngước mắt nhìn lên, thấy trên vòm hang được xây bằng vô số viên gạch ôm kín xuống nền đất, một số viên đã vỡ, có chỗ đã mất đi một mảng lớn, bên trong những viên gạch vỡ là vô số các bánh răng có lẽ làm bằng sắt hay thép gì đó đang chuyển động không ngừng, tôi không kịp nghĩ ngợi, cho tay vào túi quần phải móc ra một ít đinh sắt và một vài đồng xu cũ phi vào những bánh răng đang quay tít không ngừng kia. Những bánh răng này chính là bộ phận vận hành những cơ quan trong cái hang này, một khi kích động vào chốt lẫy sẽ khiến các bánh răng vận hành theo một chu kỳ nhất định, kéo căng dây cót làm bàn đạp để đẩy những mũi lên bắn liên tục, chốt lẫy có lẽ cũng gắn vào thành hang, đã bị ai đó trong số bọn tôi vô tình chạm phải, mũi tên được giấu đâu đó nhiều vô số. Đây chính là loại cơ quan Liên Hoàn Đoạt Mệnh Tiễn, mà vị thầy mù của tôi từng nói qua. Loại cơ quan này vô cùng tinh tế, chỉ cần các bánh răng kia quay hết vòng lại kéo các dây cót, rồi tuần hoàn liên tục, trừ phi số tên bắn ra hết sạch hoặc dùng vật cứng phá vỡ những bánh răng, nếu không thì sẽ mãi mãi không bao giờ dừng lại được. Những chiếc đinh sắt cắm vào những bánh răng liền bị cán đứt văng ra, tuy nhiên những đồng tiền xưa cổ của vị thầy mù tặng tôi lại cứng rắn vô cùng, những bánh răng trên có, dưới có cùng lúc cán vào đồng xu đều bị kẹt lại không xoay chuyển được nữa, các bánh răng khác cũng lần lượt ngưng động, những mũi tên lập tức dừng lại, không túa ồ ạt về bọn tôi nữa. Tôi cụp Huyền Thiết Tản lại, giơ đèn ống nứa lên dẫn mọi người chạy nhanh về phía trước, lúc này cả bọn đã biết vì sao nơi đây có vô số xương người nằm ngổn ngang, họ đã vào đây vì lý do gì đó, rồi đụng phải cơ quan Liên Hoàn Đoạt Mệnh Tiễn này, có lẽ, lúc thì chỉ một vài người, có lúc lại là cả đội đều bị trúng bẫy, bỏ mạng cả ở đây, cứ thế xếp thành tầng tầng lớp lớp xương sọ ngổn ngang, cũng không biết bọn họ chết đã bao lâu mà tất cả chỉ còn lại khung xương nằm trơ chọi ở cái chốn tăm tối này? Nhìn lại đoạn đường vừa vượt qua, thấy trên vòm hang xây bằng gạch kia là vô số lỗ nhỏ, nhìn như lỗ châu mai, là nơi đã phóng ra hàng vạn mũi tên tử thần vào bọn tôi và những bộ xương nằm đầy đất kia, ai cũng toát mồ hôi, rùng mình khiếp đảm, lại một phen dạo qua mặt thần chết. Bọn tôi lại tiếp tục cuộc hành trình mà suýt chút là mất mạng để truy tìm con ếch ma quái kia. Lại đi về phía trước được chừng mười mấy bước, Hùng Ngọng chợt la hoảng:

- Ái ái... ó ái ì ắn ò au nhá ( có cái gì cắn giò đau quá)!

Tôi giơ đèn ống nứa rọi qua, lão Hòa cũng hắt ánh đèn pin xuống chân Hùng Ngọng, cả bọn lại một lần nữa giật thót mình kinh ngạc, lão Hòa nói như bị lửa đốt mông:

- Dơ! Chuột cống...!

Dưới chân tên Ngọng là một lũ chuột cống lông đen kịt, to như con mèo đực, ước chừng cả trăm con, loài chuột cống này là loại ăn tạp bậc nhất nhì trên cõi đời này, khi chúng đã đói thì chẳng kể bản thân, cha mẹ, tổ tiên gì đều gặm ráo trọi, lũ chuột với đôi con mắt hau háo đang bấu tay, đu chân, gặm lấy gặm để ống quần Hùng Ngọng khiến hắn nhảy tưng tưng, giũ chân lia lịa, tên Toản hò la inh ỏi, cả bọn nháo nhác hẳn lên, lão Hòa một tay cầm cây dá thép vừa xua, vừa đập, anh Bình vụt cây gậy gỗ vù vù, tên Quang, tên Toản, Hùng Ngọng huơ tay múa chân, giẫy nẩy cố gắng không cho lũ chuột to đùng như con mèo kia bám vào người, tôi dẫn đầu nên khi quay lại thành đi sau cùng, vội hét lên một tiếng:

- Chạy!

Rồi lập tức quay người lôi cổ áo lão Hòa, phóng về phía trước, cả bọn nhận được hiệu lệnh, cũng cắm đầu bỏ chạy bạt mạng về phía sâu của đoạn hang hun hút tối, tôi để cả bọn chạy qua trước, quay đầu lại, trong tay đã nắm chặt một đống đinh sắt, lập tức phi thẳng vào lũ chuột cống gớm ghiếc kia. Một lũ nhung nhúc chạy trước trúng phải đinh sắt lập tức khựng lại giẫy chết, đám phía sau đã lao lên lấn qua đám trước, khí thế như nước lũ tràn đê, tôi nhanh chóng quay lưng chạy chúi đầu về trước, cố bám đuôi bọn lão Hòa. Cả bọn chạy thục mạng, dường như sắp đứt hơi thì có một lối ngoặc, cả bọn không đắn đo gì rẽ ngay vào lối ngoặc ấy, được khoảng mười mấy thước thấy phía trước mặt xuất hiện một lối đi lát đá trắng, thấp thoáng sau đoạn đường đá ấy là một ô vuông màu xam xám, cả bọn bức tốc lực chạy như điên như dại, phía sau vẫn nghe tiếng sầm sập, xào xào của lũ chuột to xác. Chạy tới ô vuông xám kia thì phát hiện đó chính là một cánh cửa to bằng đá, cao rộng bằng nhau khoảng tầm bốn thước, có hai cái vòng sắt đã hoen rỉ từ lâu, chắc dùng để đóng mở cửa, bên trên đắp nổi vô số hình hài, quái lạ chưa từng thấy, ngoài ra còn có nào hình cây, nào hình rắn, nào hổ, nào người, còn có cả sông, cả mây và còn có hình cá đầu rồng nữa... Cả bọn đang trong tình trạng hỗn loạn tâm trí, chả kịp suy nghĩ ra sao đã hè nhau đặt tay lên hai vòng sắt, hợp lực kéo hai cánh cửa mở ra, cánh cửa rục rịt hé mở, để lộ ra một căn phòng tối om, cả bọn chen nhau chui vào, tôi đoạn hậu chui vào sau cùng, rồi cả bọn lại hè nhau hò hét kéo cánh cửa đá lại như cũ, bên ngoài lũ chuột cũng vừa đến, hai ba con đã chui vào bên trong cánh cửa, bị anh Bình nhác thấy, liền cầm cây gậy gỗ đập chết, số còn lại đều bị nhốt bên ngoài có vài con còn bị cánh cửa đá khép lại kẹp chết, máu thịt bầy nhầy, lũ chuột cống lao đến quá đà húc vào cánh cửa đá nghe ầm ầm, nhưng vô hiệu, cánh cửa đá trơ trơ không nhúc nhích nổi. Cả bọn giờ mới hoàn hồn, kẻ ngồi xuống, người khom lưng thở dốc như sắp chết, lại một phen kinh tâm tán đởm, nghĩ lại mà suýt ngất. Chợt tên Toản la oai oái lên:

- Tụi bây ơi! ... Chết thiệt rồi! ... Là âm binh lại tới kìa!

Cả bọn giờ đã mệt đứt hơi, chẳng còn sức chống cự, tôi lại xòe Huyền Thiết Tản ra, rồi ngồi bất động giương mắt nhìn, cả đám người bọn lão Hòa chỉ còn biết lê lếch bò đến bên, núp đằng sau tôi và Huyền Thiết Tản. Tôi liếc mắt ngó qua thấy cái mà tên Toản nói lúc này là một vài bộ xương và một cái xác khô, mặt mũi khó lòng nhận diện, quần áo rách tả tơi, không biết đã trải qua bao lâu thời gian cùng sương gió, bị chạm nhẹ chắc sẽ nát ra thành bùn đất mất, phần chân trái thì không thấy bàn chân đâu cả, xung quanh còn thấy vài cây dao, vài đôi dép, mấy cây đèn pin bằng sắt đã rỉ sét vương vãi tứ tung, Tôi rón rén bước tới lấy vành của Huyền Thiết Tản khiều thử cái xác khô, thì phát hiện trong lớp áo có một tấm da, cuộn lại thành cục rớt ra, quan sát mọi phía thấy không có gì khác bất ổn tôi nói nhỏ:

- Chắc hông gì đâu? Tản ra đi! Nhưng để ý coi chừng đó!

Nói đoạn, tôi sếp cây dù thép lại, cẩn thận đến lấy tấm da mở ra xem, thấy bên trong viết đầy chữ nhỏ màu đỏ sậm, chắc là viết bằng máu, màu chữ đã sẫm đi khiến vài chữ hơi mờ, nhưng căn bản vẫn đọc được, có lẽ đã được cái xác cụt bàn chân này viết rất lâu rồi. Tôi đưa cho cả bọn xem, tên nào cũng lắc đầu, anh Bình giơ lại cho tôi rồi nói:

- Mày đọc cho tụi tao nghe coi ở trong đó viết cái gì? Tụi tao có thằng nào biết nhiều chữ nghĩa như mày đâu, dốt đặc như me hết trơn, đưa tụi tao làm gì?

Tôi đón tấm da, nhìn lại một lượt, rồi đưa mắt nhìn mọi người. Cả bọn ngoài tôi có tấm bằng mười hai ra thì còn lại không người nào được học hết lớp ba, vì nhà tên nào cũng nghèo nên phải bươn chải kiếm sống phụ gia đình, nhà tôi lúc đó khá giả nên tôi được học hành đến nơi đến chốn, nếu không vì đi nghĩa vụ và nhà tôi sản nghiệp không tiêu tan, chắc giờ này đã học đến đại học rồi, lão Hòa thì không biết viết đến nửa chữ tiếng Việt, nhưng tiếng khmer thì lão đọc viết rành rành. Tôi bảo Hùng Ngọng cầm đèn pin soi cho tôi đọc, rồi hắn giọng đọc nội dung trên tấm da cũ kỹ kia.



Mộng đời không thuận lợi, để lại lời trân trối cho đời sau...

Tôi tên đầy đủ là Võ Văn Bang, nay đã bước sang tuổi bốn mươi hai, quê quán ở Cà Mau, ngày trước làm nghề đi ghe đánh cá, không vợ, cũng chẳng con, cha mẹ đều mất cả. Mới mấy tháng trước, một người quen rủ tôi đi đào vàng, có nói vùng Bạc Liêu có một nơi rừng hoang sâu hút, bên trong có một ngôi mộ cổ chôn giấu vàng, chuyện này được ông bà kể lại cho nghe, cũng không biết hư thực ra sao? Vì cuộc sống nghèo khó, nên bèn cùng một số người đi lên vùng ấy tìm thử, quả nhiên tìm thấy rừng hoang và mộ cổ thật. Nhóm chúng tôi gồm hai mươi người, lội tắt đường điền tìm tới đây, tìm được hang vào ngôi mộ, nhưng bên trong này hung hiểm, quái dị lạ thường, chúng tôi gặp một con mãng xà kỳ lạ, bị nó phun nọc và nuốt mất hai người, cả đám nhanh chân trốn thoát, thất lạc một người, lại đi tiếp vào hang thấy bên trong toàn xương người trắng toát nằm la liệt và còn gặp bẫy tên bắn chết mất bốn người, những người còn lại lấy mấy cái xác ấy làm bia đỡ vượt qua những bẫy tên, tưởng đã qua nguy hiểm ai ngờ lại gặp một đám chuột cống lông lá, đã có tám người phải làm mồi cho lũ chuột đói, họ bị chúng ăn thịt sạch sẽ, chỉ còn trơ lại xương, tôi cũng bị chúng cắn nát bàn chân trái, phải nghiến răng chặt đứt, rồi trong cơn hoảng loạn, chạy vào đây, bên ngoài là lũ ôn dịch, bên trong lại không có lối ra, đành đào hang nhưng đào mãi không thấy đường đâu cả, năm người còn lại vừa mệt mỏi, lại thiếu đồ ăn nước uống, họ bắt đầu nổi điên lên cãi cọ ầm ĩ, rồi đánh nhau loạn xạ, trong cơn điên loạn ấy họ chém giết lẫn nhau, tôi đã may mắn thoát chết nhưng đã phải xuống tay hạ sát những người bạn đồng hành này. Vì quá đói, quá khát tôi đã lốc thịt bọn họ để ăn dần và tiếp tục đào hang tìm đường thoát thân, nhưng đào mãi vẫn không thấy lối ra ở chỗ nào. Tôi kiệt lực dần, phần thì những cái xác người đã bắt đầu sình lên, phần thì trong hang ngột ngạt, ẩm thấp, nên sức tôi ngày một yếu, nghĩ rằng mình không qua khỏi, tôi đã rọc da một người lấy máu họ mà viết lại những chuyện chúng tôi đã trải qua ở cái nơi địa ngục này, mong đời sau khi có ai không may lạc vào đây, đem xác tôi chôn cất, tôi rất đội ơn! Nghĩ lại cuộc đời tôi, vì nghèo khổ, muốn đổi đời, nhưng không ngờ lại dẫn đến bước đường cùng này, tôi chết vẫn thấy không cam lòng... Nhưng âu cũng là do ý trời định sẵn, khó mà tránh khỏi kiếp nạn...

Đọc đến đây, cả bọn đã cảm thấy tuyệt vọng hoàn toàn, nghĩ đến chuyện lốc thịt nhau để sống thì ai nấy đều rùng mình, da gà nổi lên rờn rợn, chẳng lẽ bọn tôi phải bỏ mạng tại cái nơi tuyệt lộ chết tiệt này. Tôi quăng bức thư da người đi, ngồi bệt xuống đất, thở dài, lấy một điếu thuốc châm lên, rồi ngơ ngẩn hút, trong đầu không ngừng suy nghĩ: "Đường cùng... Phải bỏ mạng sao?" Đầu tôi thoáng loé lên một ý nghĩ: "Sao cái tên Võ Văn Bang thấy quen quá, hình như đã nghe ở đâu rồi", tôi chợt nhớ ra những bản tin tìm người mất tích trên tivi, có đề cập đến cái tên này, bỏ địa phương đi đâu không rõ, đã bốn năm biệt vô âm tín. Giờ thì tôi đã hiểu, những người mất tích trên tivi lần đó, không phải bị cướp biển giết hay bị bọn Tàu gì bắt cả, họ đều đến đây tìm số vàng trong cái mộ Tiều này, khi họ đến được đây đã gặp bao biến cố và kết cục, họ đã một đi không trở lại.

Trong lúc này, bọn tôi ai cũng vừa đói vừa mệt, lôi mấy phong bánh pía ra lót dạ, uống chung cal rượu của lão Hòa, khi hơi men chếch choáng, tên Toản lại một mực đòi quay về, cả bọn ngăn lại, rồi trong lúc ồn ào, cả bọn không hiểu sao lại cãi nhau? Suýt chút nữa còn động thủ với nhau. Họ la hét vang dậy, chỉ có tôi và lão Hòa ngồi im, tôi thấy nếu họ còn cãi nhau, e rằng sẽ có ẩu đả mất, nên nói lớn:

- Mọi người bình tĩnh lại đi! Định đánh nhau với chính anh em của mình hả?

Tên Toản mặt đỏ gay lên vì uống hơi nhiều rượu cũng dõng dạc nói:

- Đánh nhau thì sao? Bây giờ cùng đường rồi, sớm muộn gì cũng chết!

Cả bọn giờ này, ai cũng có suy nghĩ riêng của mình, tôi thấy nếu để "lòng quân dao động", chắc chắn sẽ có xích mích bèn giải thích:

- Mọi người hãy bình tĩnh lại đã, tuy trong bức huyết thư bằng da người kia nói đây là đường cùng, nhưng tôi chắc chắn sẽ có lối ra đâu đây, bây giờ việc trước mắt là ai cũng đã mệt mỏi cả rồi, chúng ta phải nghỉ ngơi mới mong đào được đường chui ra ngoài, vết xe đổ của cái xác cụt chân Võ Văn Bang còn đó, chúng ta không thể đi theo mà làm xào xáo nội bộ được, phải hết sức bình tĩnh, bây giờ mọi người nên chợp mắt một tí lấy sức. Chúng ta sẽ thoát được ra ngoài.

Hùng Ngọng cũng hùa theo:

- Òn iếm ược àng ữa ( còn kiếm được vàng nữa)!

Tên Toản đã dần lấy lại bình tĩnh, thở dài một hơi, rồi ngồi bẹp xuống, bọn tôi tên nào tên nấy đã mệt lả toàn thân, nghe tôi nói xong thì ỉu xìu tìm chỗ đặt lưng, tôi đặt cây đèn ống nứa cắm xuống đất cùng lão Hòa đào cái hố nhỏ, kéo cái xác cụt chân và đống xương người vào hố châm lửa đốt xem như hỏa táng, xong lấp đất lại, rồi cũng dựa lưng vào cánh cửa đá nhắm mắt thở dài, bên ngoài thỉnh thoảng còn nghe tiếng vài con chuột cào sột soạt, cả bọn trong cơn mệt mỏi và sự kinh hãi từ từ chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết.

Vừa chợp mắt, tôi đã nghe tiếng ì oạp phát ra từ góc tối trong căn phòng này, bèn nhỏm dậy bật chiếc đèn pin lên rọi vào nơi phát ra tiếng kêu, tôi thấy một con ếch to đùng, da lưng màu đen bóng, có một vết loang dài màu vỏ cây chạy từ đầu thẳng đến đuôi, trên đầu có một vòng xoắn ốc, trên môi và dưới cằm nó có vài sợi râu thịt đang rung động, tôi rọi đèn định đánh thức mọi người, nhưng chẳng thấy bóng dáng ai cả, soi đèn nhìn kỹ một lượt, phía đối diện với con ếch có bóng người nằm, trông dáng cũng nhận biết được đó là anh Bình Lùn, tôi tay vẫn rọi đèn vào con ếch, chân đã bước đến bên định lay anh Bình Lùn dậy, ai ngờ vừa đến gần anh Bình, con ếch bên kia cũng há miệng kêu: "Ui à...!" Một tiếng. Anh Bình Lùn lập tức chồm dậy, hai tay đã bóp vào cổ tôi, xiết chặt. Tôi hoảng hồn định kêu to, và định hỏi sao anh Bình lại có hành động kỳ lạ như vậy? Nhưng cổ họng như bị vật gì đó chặn ngang tắt nghẹn, không sao ú ớ được. Bỗng thấy da mặt anh Bình đột nhiên đen lại, lông tóc lập tức cũng dài ra, miệng anh như bị vật gì kéo giãn càng lúc càng nhọn, chớp mắt là đã biến thành mõm chuột, thân thể cũng từ từ biến thành một con chuột lớn, to bằng cơ thể con người, cứ ôm chằm sau lưng tôi mà ra sức cắn xé, phía trước bỗng ầm một tiếng, đã không thấy con ếch to biến đi đâu? Sau tiếng ầm ấy là bức tường của căn phòng tối sụp xuống, một cái đầu to lù lù xuất hiện, tôi chưởi thầm trong bụng: "Mẹ kiếp! Lại là cái con rắn khốn nạn đầu sừng chết giẫm này, sao nó cứ như âm hồn bất tán, bám mãi không thôi thế? Phía sau nó còn bao nhiêu con nữa đây? Phen này thì đúng là xui con bà nó xẻo! Phải bỏ mạng tại cái nơi gớm ghiếc này thật rồi!" Tôi ú ú ớ ớ mà vẫn không nói được nữa lời, bèn ra sức giẫy giụa nhưng vẫn không sao thoát khỏi con chuột to đùng do anh Bình biến thành, trong khi đó, con quái thú đầu sừng đã bò đến há to cái mồm chuẩn bị sơi tái cả tôi và con chuột không chút khoan nhượng, tôi không cam tâm khi bị con mãng xà nuốt sống, đành há to miệng kêu "a" một tiếng thật lớn, chợt nghe như ai đó đang nắm lấy vai và không ngừng gọi tên mình, tôi vội vàng mở mắt vùng dậy. Cả bọn nhìn tôi như người từ sao Hỏa mới đáp xuống địa cầu, anh Bình vỗ vỗ vai tôi:

- Chú bị gì mà trong khi ngủ lại vùng vẫy, ú ớ mãi dị?

Thì ra chỉ là một cơn ác mộng, tôi vội nói:

- Con ếch bự, tụi mình phải đào mười tám đời con ếch bự ra mới được!

Cả bọn giờ đã tâm ý tương thông liền gật đầu tán thành, vội nhặt mấy cây dao của những người đến đây tìm vàng bỏ lại, tìm trong hang xem nơi mà cái xác cụt chân đã đào ở vị trí nào, rồi lại tìm nơi đất mềm mà đào tiếp chui ra ngoài, lão Hòa vừa đào được vài nhát, cả bọn đã nghe riếng ì oạp của loài ếch nhái phát ra từ hướng trước mặt chúng tôi, lão Hòa đào nhanh tay hơn, cả bọn cũng xúm vào, khiêng đất, vét hang, ai cũng mong tóm được con ếch ma mị kia. Đào khoảng nửa tiếng đã không còn nghe được tiếng ếch nhái nữa, bỗng uỳnh một tiếng, mảng tường phía trước sụp xuống để lộ ra một vòm hang rộng lớn, bên trong tối om, mịt mù, chẳng biết rộng đến nhường nào, đã mở hết tất cả đèn pin cùng với ánh lửa của cây đèn ống nứa, mà chỉ soi được một góc của cái vòm hang này, cả bọn đành cùng nhau bước vào xem xét coi bên trong chứa đựng cái khỉ mốc gì? Vừa bước vào đã thấy không ổn, tôi nói lớn:

- Khoang đã...!

Nhưng đã không còn kịp nữa...!
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương IV: VẬT GIỮ MỘ

Vòm hang rộng vô cùng, chỉ với chút ánh sáng của mấy cây đèn pin và cây đèn ống nứa thì không thể nhìn ra nó rộng bao nhiêu? Chỉ biết khi bước vào đây đã thấy chơi vơi, dường như vòm hang này rộng vô tận.

Trước mặt, chỉ nhìn thấy một màu đặc quánh của bóng đen, không gian im lặng như tờ, ngoài tiếng bước chân dò dẫm của cả bọn tiến vào, xung quanh chẳng còn chút âm thanh nào hiện diện. Cả bọn vừa mới bước vào, tôi đã ngửi thấy một mùi hôi thối nồng nặc, vừa dợm bước đã nghe phía trước có tiếng ầm ầm vọng lại, tôi căng mắt ra nhìn, thấy một vật to tròn đang lăn đến với tốc độ kinh thiên. Thấy bất ổn, tôi hét lên ngăn cản cả bọn lại, nhưng vật to tròn đã vù vù lao đến trước mặt, tôi nhanh như chớp dang tay trái gạt tên Toản và tên Quang, tay phải cầm chặt Huyền Thiết Tản, gạt lão Hòa, Hùng Ngọng, Hải Đoàn và anh Bình áp sát vào tường. Tiếng ầm ầm vang trong bóng tối dội vào cả bọn, khiến ai cũng inh tai nhức óc, cả bọn nín thở, mắt nhắm nghiền, áp sát vào tường. Tất cả ánh đèn pin đều chiếu cả lên tường, chỉ còn lại ánh sáng chập chờn suýt tắt của cây đèn ống nứa, nhờ chút ánh sáng ít ỏi đó tôi cũng kịp nhận ra, vật to tròn kia là một tảng đá khổng lồ, đang lăn với tốc độ kinh khiếp về phía bọn tôi, tảng đá khổng lồ này ước chừng cả ngàn, cả triệu tấn, chỉ cần bị nó chạm phải, nhẹ thì cũng gãy tay, vỡ đầu, nặng thì chắc là nát thành cát mịn mất. Tảng đá lăn đến góc vòm hang thì bị cản lại, bức tường vòm đã lõm vào một mảng to khủng khiếp, bịt kín cánh cửa đá, cả bọn như hồn bay phách tán, đứng như trời chồng, tảng đá khổng lồ đã dừng lại nhưng chưa tên nào dám nhúc nhích, chỉ sợ thở mạnh một cái làm tảng đá lăn ngược lại thì quả là đen đủi. Tôi buông thõng hai tay xuống, cả bọn mới dám thở nhẹ một hơi, trong đầu tôi thoáng lóe lên một ý nghĩ: "Sao trong ngôi mộ này lại có lắm cơ quan và nhiều điều kỳ quái vậy? Nơi này chôn ai đây?"

Vừa thoáng suy nghĩ, tôi lại đánh hơi được cái mùi thối kinh khủng kia, bèn ra hiệu cả bọn rọi đèn lại xem thế nào? Chỉ thấy trước mặt là tảng đá màu nâu đen với đường kín khổng lồ đã chặn trước mặt chỉ chừa lối đi rộng khoảng bốn tấc, hai người không thể cùng sóng đôi đi được bèn để anh Bình đứng trước dẫn đầu, cả bọn đi theo phía sau, tôi đưa cây dù thép cho anh Bình cầm để phòng biến cố. Vừa lách qua khỏi tảng đá khổng lồ, đã thấy trước mặt là một khoảng không đen kịt bóng tối của vòm hang "siêu khổng lồ", cả bọn soi đèn pin lầm lũi tiến về phía trước, đi một đoạn khá lâu, thấy vòm hang càng thu nhỏ lại, rồi trước mặt hiện ra một cánh cửa đá khác nhẵn bóng, dựng đứng sừng sững, không có lấy một cái khoen hay vật gì để hỗ trợ việc mở cửa cả. Tôi bảo cả bọn:

- Cánh cửa này không thể mở theo cách thông thường, phải có chốt khóa, cơ quan gì đó mới vận hành cánh cửa được!

Nghe tôi nói, cả bọn liền rọi đèn khắp nơi tìm cơ quan để mở cánh cửa đá, anh Bình nhìn thấy một hốc nhỏ nằm thấp trong thành hang, bèn quỳ xuống rọi đèn pin vào cái hốc đó, thấy bên trong có tạc một con vật nhỏ, nửa thân giống ngựa, nửa đầu giống gà, chẳng biết là con gì? Anh Bình cho tay vào định lôi ra, nhưng không thể kéo nổi bèn vặn thử, không ngờ nghe tiếng rè rè như xoay cối đá, cánh cửa nhẵn bóng liền từ từ tách đôi rồi hé mở. Cả bọn trố mắt nhìn vào cánh cửa thấy bên trong sáng rực như thắp đèn. Anh Bình giao cây dù thép lại và để tôi dẫn đầu tiến vào bên trong cánh cửa.

Bên trong sáng rực, trên bốn vách tường xung quanh đều gắn vô số ngọc: Xanh có, đỏ có, vàng có...ánh sáng trong này đều do các viên ngọc ấy phát ra, sau cánh cửa là hai cây cột trụ to cỡ hai người ôm, sau hai cây cột trụ có tám bức tượng đá hình người râu dài, tay cầm các loại binh khí như gậy, búa, đao, chùy..., đứng trên bục cao hình khối vuông vức, qua khỏi đám tượng người có một cây cầu rộng khoảng hơn thước xây dựng khéo léo với tạo hình sóng nước cuồn cuộn, phía dưới là cái hồ nhỏ nước trong vắt, nhìn thấy tận đáy, qua bên kia cầu là một lối đi rộng chừng mười mấy thước với những bậc thang xếp từ dưới thấp dẫn lên cao. Qua khỏi bậc thang là hai tượng kỳ lân cao to, với tạo hình nhe nanh giương vuốt, uy mãnh vô cùng, dường như hai con kỳ lân này được điêu khắc từ những khối ngọc màu trắng ngà, nhìn cứ như hai con kỳ lân được sương mây tạo thành, đang chuẩn bị đằng vân giá vũ, sau hai con kỳ lân là một chiếc quan tài bằng vàng bóng loáng, chạm khắc cầu kỳ hình rồng phượng sinh động, được đặt trên một bệ đá dày hình bát giác cao khoảng năm sáu tấc. Tôi thầm hỏi: "Bên trong quan tài là ai mà lại được an táng tại một nơi cầu kỳ, xa hoa như vậy?". Cả bọn lúc mới vào đến đã mồm chữ a, mắt chữ o, cứ nhìn không chớp lấy một lần vì ngạc nhiên kèm theo phần vui mừng. Trong bức thư tuyệt mệnh của cái xác khô cụt chân có nói: "Trong mộ này có chôn giấu vàng", nay thấy cái quan tài bằng vàng lấp lánh kia, tên nào cũng mở cờ trong bụng, chân tay muốn nhảy múa loạn xị cả lên. Cả bọn tắt đèn pin, tôi quan sát mọi phía, rồi ra hiệu tiến lên phía trước, đồng thời không quên nhắc:

- Mọi người nên cẩn thận, coi chừng có bẫy!

Sự cẩn trọng của tôi quả nhiên không thừa, vì lúc này mùi hôi thối nồng nặc lại ùa đến, cả bọn dùng khí giới trong tay thủ sẵn, nếu có gì bất ổn sẽ một phen sống mái. Vừa bước qua hai cột trụ to lớn thấy một bức tượng người phía bên trái, tay cầm cây gậy dài đang từ từ rơi ra những vụn đá, phần tay tượng có biểu hiện đang cử động, cả bọn khựng lại mắt ngó chằm chằm vào pho tượng đá, bục một tiếng, từ bức tượng bắn ra vô số đá vụn, tôi lập tức xòe Huyền Thiết Tản ra, các vụn đá bay tứ tung, mù mịt tạo thành một đám khói bụi bắn cả vào Huyền Thiết Tản nghe lộp bộp, sau lớp bụi là một người đàn ông cao to, râu tóc bạc trắng, nhưng vẻ mặt và ánh mắt thất thần y như một cái xác biết cử động, đang vung cây gậy màu đen bóng hình như bằng sắt, chậm rãi tiến về phía chúng tôi, mùi hôi thối chính là bắt nguồn từ người đàn ông này, như vậy đây chính xác là một xác người đã bắt đầu phân hủy, tôi lập tức phóng một đồng xu cũ về phía người đàn ông như cái xác không hồn kia, cái xác vung cây gậy trong tay, trong chớp nhoáng đã đỡ được chiêu tấn công của tôi, nhưng do lực phóng của tôi mạnh, nên đồng xu cũ đã cắm dính vào cây gậy phát ra một tiếng keng kéo dài. Cái xác bắt đầu lao vào cả bọn. Lão Hòa và anh Bình đã không chần chừ tách ra hai bên tấn công cái xác, cây dá thép và cây côn gỗ liên tiếp vụt vào cái xác, nhưng nó chẳng hề hấn gì, chỉ phát ra mấy tiếng bịch bịch mỗi khi dá, gậy chạm vào. Cái xác liền vung tay, quét cây gậy sắt một vòng, anh Bình và lão Hòa đã kịp đưa vũ khí của mình để chặn cú quét ngang đó, nhưng cũng bị sức mạnh phi thường của cái xác hất văng vào đám tượng đá hình người làm chúng vỡ đổ, cả anh Bình và lão Hòa mỗi người văng ra một hướng, bị dư lực của cây côn sắt trong tay cái xác đánh trúng, phung ra một ngụm máu tươi, từ từ bò dậy, tên Toản tuy run sợ nhưng nhờ có vũ khí trong tay là cây dao của những người lúc trước đến đây đào vàng bỏ lại, nên cũng lao lên chém bừa vào cái xác, nhưng chẳng thấm tháp gì, càng làm cho cái xác điên lên, huơ cây côn sắt lên nhanh hơn giáng thẳng vào đầu tên Toản theo hướng từ trên xuống, tôi liền kéo tên Toản đang nhìn ngẩn ngơ vào cái xác lùi lại, đưa Huyền Thiết Tản lên đỡ một cú đập của cây côn sắt trong tay cái xác, cây côn sắt đánh keng một tiếng liền bật trở ra, bộ dạng cái xác ra vẻ ngạc nhiên, dường như nó đã có sự e dè trước cây dù thép đặc biệt trong tay tôi.

Ông bà xưa vẫn có câu "được nước làm tới", nên tôi cũng chẳng "khách sáo" làm gì, lấy Huyền Thiết Tản làm gậy tấn công liên tiếp vào cái thây đang bốc mùi kia, bỗng nhiên cái xác ấy biến chiêu, xoay gậy sắt vù vù, Hải Đoàn bê nguyên một cái tượng người đá gần đó vận toàn lực ném vào cái xác, nhưng chỉ một đường côn, nó đã phá tan tành bức tượng, Hải Đoàn trong bụng thầm kinh hãi: "Nếu lao vào mà bị cây gậy sắt trong tay cái xác đánh trúng sẽ toi mạng là cái chắc". Hùng Ngọng tuy nguy nhưng không loạn lập tức bật đèn pin, cứ rọi ánh đèn pin vào mặt cái xác đang không ngừng vung gậy vùn vụt để nó lóa mắt, đồng thời trên mặt cái xác khi bị ánh sáng chiếu vào cũng đã bốc lên những làn khói trắng như sương. Tên Quang vừa chém tới một dao, đã bị cái xác né được, vung gậy phản công, trúng vào bụng, khiến hắn bay thốc vào tường của vòm hang nghe binh một tiếng, ngã xuống, miệng đã phun ra một ngụm máu đỏ lòm, tôi cầm Huyền Thiết Tản, tấn công vào vùng đầu cái xác, khiến cây gậy sắt huơ tít chống đỡ liên tiếp, bất ngờ cái xác xoay đầu đưa lưng về phía tôi dường như định bỏ chạy, tôi thấy cơ hội chợt đến, bèn thuận tay cầm cây dù thép đâm vào phần sau gáy của cái xác, không ngờ cái xác đã xoay côn thúc về sau, do từng được ông thầy mù "chỉ giáo" nhiều lần chiêu này, nên tôi đành không thể đâm tới mà xoay tay chống ngược ngọn dù, cản chiêu tấn công của cái xác, nhưng chiêu thục gậy ra sau của cái xác chỉ là hư chiêu, gậy vừa chạm dù đã biến chiêu, tạt một đường vòng vào vai tôi. Tôi trở dù không kịp, nên vai trái hứng trọn một gậy, nhờ khoảng cách gần nên chiêu thức tương đối nhẹ, tuy nhiên tôi cũng cảm nhận được vai phải tôi đau buốt, chưa kịp phản ứng gì đầu của cây gậy sắt đã thúc vào ngực tôi, một cảm giác khó thở, đau nhói phần ngực phải khiến tôi bay về phía sau, nhưng tôi vẫn chống ngược ngọn của cây dù thép vào tường, nên không bị va đập giống như Hải Đoàn, nhưng trước mắt vẫn thấy hiện lên bầy đom đóm bay tứ tung, cuống họng thấy ngòn ngọt, một dòng máu đã trào ra khóe miệng, tôi vẫn gượng đứng lên nhưng không thể trụ được, nên khụy một chân, rồi ngồi xuống. Đầu tôi xoay chuyển rất nhanh, cái xác này chỉ cốt bảo vệ phần thượng đỉnh, nên tôi nghĩ yếu điểm duy nhất của cái xác thối thây này chính là cái đầu khô khốc bạc trắng kia. Tôi liền hét lên:

- Đầu nó là yếu điểm đó!

Cả bọn như bừng tỉnh cơn mộng, anh Bình liền phóng cây côn gỗ bay vù vào đầu cái xác, cái xác như có mắt sau lưng, liền né về bên trái, lão Hòa lại cực kỳ ranh mãnh, đã đoán được ý đồ của cái xác, bèn quyét một đường từ trái qua đập nguyên tấm bảng thép của lưỡi dá vào mang tai của cái xác. Cái xác bị giáng một cú như trời đánh, liền chao đảo, cây gậy sắt đã xoay chuyển chậm lại, Hải Đoàn lập tức vung dao, chém từ trên xuống vào đầu cái xác, do bị một cú bất ngờ của lão Hòa còn chưa nhìn rõ được gì, cái xác đã không còn tỉnh táo phòng bị được, nên lãnh trọn một một dao của Hải Đoàn, đầu cái xác này không rắn chắc như phần thân, bị chém một nhát đã mất đi một nửa gồm phần đầu tóc và cả cái tai bên phải, cái xác rú lên ghê rợn nghiêng bước về bên phải. Tôi không bỏ qua cơ hội sống sót cuối cùng, bèn tay trái giương Huyền Thiết Tản, tay phải rút thanh đoản kiếm Khai Sơn lao vào cái xác, Khai Sơn kiếm quả đúng là có sức khai sơn phá thạch, vạch một đường ngang quét vào cổ cái xác, chỉ một chiêu thôi đã cắt đứt lìa đầu của cái xác đã bị dao của Hải Đoàn gọt đi một mảng, ngọt như bổ dưa, cái xác còn đang xiêu vẹo, cái đầu nó đã lăn xuống đất lông lóc. Tôi tiếp đất rồi đứng chắn trước cả bọn, ngưng thần phòng bị. Cái xác chưa kịp kêu một tiếng đã bị chém bay đầu, nó rùng mình đổ sầm xuống, đồng thời những mảng quần áo cũng bong ra, những thớ xương thịt cũng văng ra tứ tung về mọi phía, dường như những khối xương thịt thối rữa kia được cài bom hẹn giờ, thời gian phát nổ cũng chính là lúc cái xác ngừng hoạt động. Những đám xương thịt vương vãi bắn ra đều bị Huyền Thiết Tản chặn lại, phần nào không bị chặn đều văng cả lên tường, bức tường bị xương thịt văng vào lập tức bốc khói rồi mục rữa đổ xuống đất từng mảng lác đác, khói bụi mịt mù.

Cả bọn lúc này như vừa lượn một vòng qua Quỷ Môn Quan mới trở về, đầu váng, mắt hoa, tay chân bủng rủng, nằm rạp xuống đất nín thở, ôm đầu, không dám nhúc nhíc. Rất may lúc tôi lao qua chém đầu cái thây chết sình kia, cả bọn lại nằm rạp phía sau lưng tôi, nên không ai bị bốc khói như mảng tường phía sau... Sau khi lấy lại tinh thần, cả bọn mới kinh hồn bạt vía, nhớ lại lúc nguy hiểm vừa rồi, nếu như bị đống xương thịt bay loạn xạ dính vào người và không có cây Huyền Thiết Tản, e là cả bọn đã thịt rã xương tan mất rồi, nghĩ đến đã thấy mồ hôi lạnh toát ra, chân tay nổi đầy gai ốc, lưng đã ớn lên như có hàng ngàn con kiến đang bò, mặt tên nào tên nấy trắng nhợt, răng đánh lập cặp. Cả bọn ho lên mấy tiếng bởi sặc bụi khói, rồi cùng bò cả dậy, dựa vào vách tường mà thở như bò rống, tên Toản bò dậy lại nằm rạp xuống, lấy sức hít thở. Ai cũng đã rã rời sau cuộc chiến với cái thây thối tha vừa rồi, bèn kẻ nằm người ngồi nghỉ ngơi chốc lát.

Được một lúc, tôi bèn nói với cả bọn:

- Nơi đây quỷ dị khôn cùng, mọi người tuyệt đối cẩn thận! Mục tiêu là cái đó!

Vừa nói tôi vừa trỏ tay về cái quan tài bằng vàng. Cả bọn đưa mắt nhìn, liền lấy lại ý chí, tôi lại xòe cây dù thép dẫn cả bọn cẩn thận từng chút một tiến về cái quan tài. Bước gần đến, tôi liền dừng lại, cả bọn cũng căng tinh thần phòng bị lên nên cũng dừng bước. Cả bọn đều nhìn thấy cạnh bên quan tài vàng có một con ếch to đùng đang ngồi ngó trân trân vào cả bọn. Con ếch to hơn cả con gà mái, da nó đen bóng, từ đầu tới đuôi là một vệt loang màu nâu đậm, hai mắt lồi lên như hai quả trứng gà, cái cổ đang phìn ra xẹp lại thở phì phò. Nó là một loài ếch lớn có tên gọi chung là ếch Goliath, một loài lưỡng cư khổng lồ hiếm thấy trên thế giới, chẳng hiểu vì sao nó lại có mặt ở cái nơi quái đản này. Tôi đánh bạo bước lên, rồi nói khẽ:

- Ông cậu tôi bị cái con ôn binh này làm cho dở sống dở chết. Hôm nay tôi nhất quyết bắt được nó đem dìa, lột da, moi ruột mới vừa lòng!

Cả bọn cũng hùa theo:

- Được đó!

Tôi bước lên, Hùng Ngọng lại soi đèn vào con ếch, cả bọn tản ra bao vây con ếch, con ếch bị rọi đèn vào mắt chói lòa, lại cảm thấy nguy hiểm đang áp đảo, liền phìn cổ: "Ui...à..." một tiếng định tìm đường tẩu thoát, nhưng bốn bên, sáu mặt đều bị vây chặt, nên lay hoay chuẩn bị thoát thân, tiếng kêu của nó cũng bình thường, nhưng do thấy nó to lớn quá, nên khi nghe tiếng kêu ấy của nó, ông cậu tôi lại ngỡ đó là tiếng nói của con người. Lão Hòa không còn kiên nhẫn nữa nhào tới chộp con ếch, con ếch hoảng hốt phóng lên, nhưng chưa kịp đáp đất đã bị anh Bình tạt cây côn gỗ đánh trúng vào lưng, kêu lên một tiếng: "Ui...a...òi...", rồi văng xuống đánh bịch, chết giấc đi, bị lão Hòa tóm được nhét luôn vào cái giỏ ni lon đeo bên mình, thắt miệng túi lại. Xong đâu đấy, cả bọn lại tiến sát về phía quan tài vàng khắc hình rồng bay phượng múa đang nằm cô độc trên bục đá cao. Chiếc quan tài này trên rộng dưới hẹp khác xa mấy cỗ quan tài bình thường, ánh vàng từ đó phát ra soi sáng một vùng, bề mặt không một vết bụi bám, những hình khắc rồng phượng sinh động như những cụm mây đang lượng lờ, khiến ai nhìn vào cũng như bị quan tài hấp dẫn, cứ nhìn mãi không thôi. Nhìn vào một lúc lại thấy những con rồng, con phượng đang chực bay ra, làm cả bọn hoa mắt. Tên nào, tên nấy đang vô thức bước từng bước đến gần chiếc quan tài. Tôi nhìn ngẩn ngơ thấy những hình khắc trên quan tài như đang nhảy múa chờn vờn y như thật, đưa tay có thể chạm vào được, chỉ muốn lao lên bắt lấy những con vật thần thoại này, hận là không mọc thêm chân chạy nhanh đến, tôi liền vận sức cắn mạnh vào môi thể hiện sự quyết tâm phải bắt bằng được những con vật hi hữu xuất hiện ngàn năm một thuở này. Vừa cắn vào môi, đã thấy đau nhói, chợt giật mình tỉnh lại, môi đã bật máu tươi, tôi kinh hãi nhận ra, thì ra cỗ quan tài bằng vàng này có thể thôi miên vật sống qua những hình khắc sinh động kia, tôi lại càng hốt hoảng khi thấy cả bọn đang giương mắt thất thần như kẻ mất hồn tiến dần về phía quan tài quái dị. Tôi không còn tâm trí để nghĩ ngợi nhiều, bèn bước đến cản cả bọn lại, nhưng dường như mọi người đều không nhìn thấy tôi, chỉ biết cắm đầu bước lên phía trước. Tôi giang tay tát vào mặt Hải Đoàn, lão Hòa, anh Bình và Hùng Ngọng, người nào cũng như vừa từ trong mộng bước ra, ngẩn ngơ nhìn tôi không hiểu Tý, Sửu, Dần, Mão gì cả. Tên Quang và tên Toản đã bước đến sát quan tài, đưa tay chạm vào nắp áo quan, tôi thấy nguy to đang cận kề hai tên ấy, không biết sẽ xảy ra chuyện quái gì khi tay hai tên chạm vào quan tài. Không thể chần chừ, tôi vội lao lên gạt hai tên ra ngoài, nhưng đã chậm một bước, tay của tên Quang đã chộp vào nắp áo quan như đang bắt vật gì đó, tôi chấn động thần kinh thầm nghĩ không xong rồi, ngay trong thời gian một phần ngàn giây, tôi lập tức giương Huyền Thiết Tản ra chắn trước hai tên, liền nghe sau đó những tiếng va đập tinh tang vào Huyền Thiết Tản, sự va đập càng lúc càng dồn dập không ngớt, tôi vừa chắn vừa lui lại, chấn động ở tay cầm Huyền Thiết Tản càng dữ dội khi lùi xa dần chiếc quan tài vàng. Phía sau tôi, anh Bình, lão Hòa, Hùng Ngọng, Hải Đoàn đều thấy rõ uy lực kinh khủng của chiếc quan tài kỳ dị, nên đều nằm rạp xuống đất, tay ôm đầu, phó mặc cho may rủi. Tôi lùi dần về phía sau, rồi cũng ngồi rạp người xuống, chống cán Huyền Thiết Tản vào nền đất mượn lực chống chọi với những thứ bắn liên tục vào, tay tôi ê ẩm, những vật bắn về cây dù thép không theo lề lối gì, cứ tỏa ra như vãi trấu, những cái không bắn vào Huyền Thiết Tản thì găm cả vào vách tường và hai con kỳ lân bằng ngọc. Tôi thoáng nhìn thấy đó là vô số những viên sắt có những cạnh nhọn chi chít, sắc bén khôn cùng, đã vạt mất hai ba cái sừng của hai con kỳ lân ngọc đứng gần đó, tôi lại càng thấy cả kinh khi nghĩ: "Nếu bị những viên sắt gai này bắn vào người thì chắc sẽ xuống gặp Diêm Vương đại lão gia mất". Những viên sắt này bắn ra bốn phương tám hướng từ quan tài vàng, khi không xuyên qua Huyền Thiết Tản thì bị bắn ngược ra các hướng, nếu không cẩn thận sẽ phơi xác tại đây là cái chắc. Những va đập vẫn không hề ngưng bặt, tiếng tinh tang vẫn còn ngân lên không ngớt. Những viên sắt có gai sắt nhọn bắn ra từ quan tài chính là một loại cơ quan ám khí có tên là Thiết Hoàn Thiên Nha Tụ, là một loại bẫy cũng tương tự như bẫy tiễn chỉ khác là mũi tên được thay thế bằng tụ sắt có gai nhọn sắc bén, lại có khả năng va đập cực mạnh, sức công phá còn mãnh liệt gấp mười lần bẫy tiễn, nếu là những loại khiên giáp bình thường thời xưa khó lòng chống đỡ nổi, cũng khó mà dự liệu loại cơ quan này sẽ bắn ra bao nhiêu viên sắt và bao lâu mới dừng lại? Tôi lại thoáng trông thấy phía dưới chân phải của con kỳ lân ngọc bên tay trái có một trụ đá cao khoảng hai tấc, màu vàng trơn bóng, phía dưới trụ đá có một đường rãnh, dài khoảng một tấc, rộng khoảng bốn năm phân, chiều sâu không rõ được bởi căn bản bọn tôi không thể tiến vào xem được vì vô số tụ sắt đang bắn vèo vèo ngăn sự tiếp cận của chúng tôi, cái trụ đá nhỏ đang hướng về phía bọn tôi. Dường như nó chính là cột chốt lẫy của cái cơ quan Thiết Hoàn Thiên Nha Tụ, chỉ thấy nó không ngừng run lắc nhè nhẹ, còn phần thân chiếc quan tài vàng đã có vô số cánh cửa vuông nhỏ lộ ra, tất cả tụ sắt đều từ đó bắn ra càng lúc càng dữ dội. Cũng may là tôi được vị cao nhân mù mắt chỉ điểm, cũng từng biết sơ lược về những cạm bẫy giết người ghê gớm thế nào, nên cũng hiểu được quy luật vận hành của loại cơ quan cổ xưa này.

Tôi lại moi ra một đồng tiền cổ của vị thầy mù, nhắm chuẩn xác rồi bắn thẳng về phía phía cây trụ đá nhỏ dưới chân con kỳ lân bằng ngọc. Cây trụ đá bị một lực bắn chuẩn xác tác động lập tức dịch chuyển về phía sau, các tụ sắt đầy cạnh gai sắt nhọn đang bắn ra vùn vụt cũng chậm lại rồi dừng hẳn, chẳng thấy bắn ra như lúc ban đầu nữa. Nhưng khi các viên sắt đầy gai nhọn sắc bén kia ngưng bắn ra, cũng là lúc trong các cánh cửa nhỏ trên áo quan bằng vàng phun ra những đám khói màu nâu đỏ dày đặc, từ từ bao trùm cả bọn chúng tôi, tôi thấy tình hình bất ổn, liền hô to:

- Lui mau!

Rồi không đợi mọi người đứng dậy, cứ thế dùng lưng xô cả bọn thối lui, tránh đụng phải đám khói nâu đỏ quái dị kia. Tôi đoán đây chính là đám khí đầy chất cực độc, được thiết kế hòng tiêu diệt kẻ nào cả gan vào đây đào mồ quật mả, có tâm địa bất chính với chủ mộ đang nằm trong chiếc quang tài bằng vàng kia, đám khí độc này có thể làm cây cỏ lập tức khô héo, to lớn như voi cũng không thể tránh khỏi nứt da, mục xương. Cả bọn lúc này mới thật sự hoảng loạn, kẻ bò, người đứng nháo nhác lui dần về phía cây cầu đá khắc hình sóng vỗ. Trong tâm trí người nào cũng cầm chắc mười phần là sẽ khó bảo toàn mạng sống, Huyền Thiết Tản có lợi hại đến đâu cũng không thể đỡ được làn khói độc đang len lỏi quấn vào cả bọn như gọng kìm bao vây trước mặt, dồn mọi người vào tử địa, lúc này cả bọn trước mắt đều bị khói độc dồn ép, không thể liều mạng là có thể xông lên được, chỉ còn cách lui về cầu đá, nhưng sau khi lui về cầu đá rồi sẽ làm sao chống lại đám khói dày đặc kia thì chẳng ai đâu còn tâm trí mà nghĩ tiếp? Bởi lối thoát duy nhất đã bị tảng đá khổng lồ chặn lại kín mít, chỉ biết nếu lui chân chậm trong khoảnh khắc sinh tử ấy, thì ngày này năm sau chắc chắn sẽ có bảy cái đám giỗ của bảy người chúng tôi. Khi đã đặt chân lên cây cầu đá thì kỳ tích lại xuất hiện, mặt nước phía dưới bỗng run lên nhè nhẹ, gợn sóng lăn tăn, một cơn gió lạnh buốt từ mặt nước thổi đến làm cả bọn đều nổi da gà, nhưng cũng chính những làn gió nhẹ này lại đẩy lui được đám khí độc dày đặc kia. Tuy ai cũng lạnh sống lưng nhưng cả bọn không khỏi ngạc nhiên, trong lòng thầm hỏi: "Ngọn gió kia từ đâu đến? Là lành hay dữ ?" Chẳng ai biết câu trả lời ra sao, trong lòng ngôi mộ cổ sâu hun hút này không ngột ngạt kín bưng thì thôi, lấy đây ra ngọn gió lạnh buốt kia chứ? Chỉ biết trước mắt tính mạng cả bọn được bảo toàn. Tôi đã kịp trông thấy dưới cây cầu đá là dòng nước trong vắt, trên bề mặt dòng nước giáp với hai bờ có một cái hang rộng độ một dang tay, cũng không rõ dẫn đi đâu, chỉ biết mực nước chỉ mấp mé ở miệng hang, cơn gió lúc nãy thổi đến là bắt nguồn từ đấy.

Đám khí độc sau khi bị cơn gió lạnh thổi vào đã tiêu tan đâu hết, chiếc quan tài này ngoài việc để làm vật ru giấc thiên thu cho chủ mộ, còn là một vật giữ mộ cực kỳ ảo diệu khôn lường, nó chỉ là cái quan tài bằng vàng bình thường mà có thể gây ảo giác, thôi miên người, dụ người đến gần nơi có cơ quan ám khí lợi hại, lại có cả khí độc tiêu diệt kẻ nào dám cả gan vào đây trộm mộ, quả nhiên là một vật phi phàm, được thiết kế công phu, xưa nay hiếm thấy, tuy nhiên với chiếc quan tài bằng vàng dài khoảng hơn hai thước, ngang khoảng một thước, cao chừng tám tấc kia thì không thể nào có lượng khí độc nhiều được. Thấy đám khói đã tiêu tan, cả đám chúng tôi lấy lại tinh thần, rón rén bước tới phía trước, tiến về chiếc quan tài, với một ý nghĩ duy nhất là phải mở kỳ được nắp quan xem bên trong là thần thánh phương nào mà lại bày ra ngôi mộ quái đản với thiết kế vô số cạm bẫy hung hiểm, đã lấy đi không biết bao nhiêu tính mạng con người đã vào đây? Vì lúc đầu bước vào cả bọn bị chiếc quan tài này làm cho ngơ ngẩn tâm thần nên tên Quang và tên Toản trong vô thức đã chạm phải chốt lẫy là cây trụ đá nhỏ màu vàng óng trước chân con kỳ lân ngọc, đã phát động cái cơ quan lợi hại Thiết Hoàn Thiên Nha Tụ, làm cả bọn suýt chút vùi thây trong lòng mộ cổ. Nên lúc này cả bọn đã cẩn thận hơn, tránh va chạm vào bất cứ vật lạ gì, cuối cùng tiến đến chạm vào quan tài vẫn bình yên vô sự. Tôi ra hiệu cho lão Hòa, rồi xòe Huyền Thiết Tản chắn trước lão, lão Hòa hiểu ý cầm chắc cây dá thép trong tay, chuẩn bị nạy nắp áo quan, lão Hòa cho lưỡi dá vào rãnh tiếp giáp giữa quan tài và nắp quan, vận lực bẩy lên. Một chùm ánh sáng màu vàng lóe lên. Cả bọn do còn sợ khí độc sót lại trong áo quan, nên như chim sợ cành cong, đã ăn rau nóng rồi thì dù canh nguội cũng phải kề môi mà thổi. Bất giác thấy ánh vàng lóe lên lão Hòa liền rút Lưỡi dá ra lùi lại, chúng tôi cũng không ngoại lệ, đều lùi lại y như động tác của lão Hòa, sau mười mấy giây hồi hộp nín thở, dây thần kinh căng lên phòng bị bất trắc mà không thấy gì, chúng tôi mới dám thở phào, một lần nữa bước lên, lần này nhất quyết phải bật tung nắp áo quan mới thôi. Lão Hòa lại kê lưỡi dá vào nắp áo quan hít một hơi, dồn lực bẩy mạnh.


 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương V: THOÁT KHỎI HIỂM NGUY

Lão Hòa một lần nữa dùng sức nạy nắp áo quan lên, bên trong ánh vàng phát ra chói lóa, sức mạnh của lão Hòa dồn cả vào cú nạy này, nắp quan bị nạy bật tung văng ra khỏi áo quan. Cả bọn trố mắt nhìn vào, lúc này, tên nào tên nấy đứng ngây ra như tượng gỗ, miệng há hốc, phần vừa vui mừng, phần vừa kinh ngạc. Bên trong áo quan là một cái xác, mặt mũi còn đủ cả, nhưng trắng bệch, mắt có hai vòng quầng thâm màu đen mờ, môi đỏ như máu, hai cánh tay dài với mười đầu móng tay dài màu tím đậm như hoa cà, đặt xuôi theo thi thể mặc quần áo giống như quan phục trong phim "Vua Càng Long", lấy màu lam đen làm chủ đạo: Áo màu đen, viền vàng, cổ áo màu xanh lam, trước ngực có một vuông vải xanh viền trắng thêu hình hạc trắng, mây hồng, sóng biển cuồn cuộn, đính vào áo, đội nón đen có chóp tua đỏ, phía trên gắn một viên ngọc nhỏ màu vàng sậm, chân mang ủng vải màu đen đế trắng. Cái xác nằm yên như đang say ngủ, chẳng biết đã ở đây bao lâu? Phía dưới cái xác là vô số thỏi vàng xếp thành một cái bệ lót trong áo quan phát ra ánh kim quang chói lọi, ngoài ra xung quanh cái xác còn có vô số vật như: Nhẫn ngọc, vàng lá, bình gốm, chén hoa, ly phỉ thuý, trân châu, bảo thạch...

Trong lòng cả bọn như muốn nhảy cẩng lên vì háo hức, không ngờ được rằng, trong ngôi mộ Tiều lại chôn một cỗ quan tài bằng vàng, bên trong cỗ quan tài ấy lại chứa cả lớp những vàng là vàng, cùng vô số đồ cổ quý giá. Phen này trải qua bao nhiêu điều hiểm nguy, lại gặp vô số chuyện kỳ quái, vào sinh ra tử, quả là chẳng uổng công tí nào! Cả bọn đều có chung một ý nghĩ: "Phát tài rồi!". Vậy là cả bọn, chẳng ai bảo ai, cho tay vào nhặt những thỏi vàng lót bên dưới cái xác, có bao nhiêu túi quần, bao nhiêu túi áo đều nhét đầy cả vào. Khi đã vơ đầy túi, định tìm đường rút lui, nhưng vẫn chưa muốn đi ngay bởi còn tiếc nuối những thỏi vàng còn lại trong chiếc quan tài vàng kia, bỗng tôi nhìn thấy ở góc của quan tài trên đầu cái xác có một phong thư, màu sắc trắng vàng cũ kỹ, giữa phong thư có một hình chữ nhật vẽ bằng mực đỏ đã phai nhạt màu, bên trong hình có một hàng chữ Tiều chắc cũng có niên đại tương đương với hình chữ nhật màu đỏ nhạt kia, chẳng biết viết gì? Phong thư vẫn còn nguyên dấu niêm phong bằng đất sét nung màu nâu đỏ. Tôi cũng không ngại ngần, xé ngay phong thư ra, thấy bên trong là một bức thư bằng vải lụa màu vàng vuông vức, độ chừng to như vuông khăn trải bàn nhỏ, chữ viết uốn lượn kín cả mặt khuôn vải và một vuông vải lụa khác màu trắng vẽ những đường ngoằn ngà ngoằn ngoèo nhìn cứ như những rễ cây tua tủa, để ý kỹ cũng có thể thấy được có đồi, có sông, có cây, có đường đi... Đại khái vẫn hiểu được đây là một tấm bản đồ, nhưng không hiểu chỉ dẫn đến nơi nào, chỉ biết, nơi được chú ý nhất trên bản đồ, được đánh dấu bằng một hình vòng tròn, trên vòng tròn vẽ ba gạch ngang, gạch phía dưới mất một đoạn nhỏ chia gạch ngang đó ra hai phần, xung quanh vòng tròn là cây cối um tùm, sông ngòi chằng chịt, vẻ huyền bí thâm u, nhìn càng lâu lại thấy nơi đó tà mị quái đản, chỉ toát lên cảm giác bất an, chết chóc. Tôi gói cả hai nhồi vào túi áo rằn ri cùng mấy thỏi vàng, xong quay đầu lại định tìm đường trở ra, vừa quay đầu đã thấy phía sau lưng một luồn âm phong ập tới, luồn âm phong khiến toàn bộ cơ thể như bị chạm điện, gai ốc nổi rộ khắp người, tôi có thể cảm nhận được phía sau tôi đang có biến cố gì đó ghê gớm, nên chẳng dám quay đầu lại nhìn phía sau nữa, nhào tới dang hai tay xô cả bọn lui lại. Một cơn gió vù qua sau đầu, đám tên Toản, tên Quang, Hải Đoàn, Hùng Ngọng, anh Bình và lão Hòa mắt đều mở to, miệng ngoác ra kinh hãi khi thấy vật khủng khiếp phía sau đang tấn công tôi. Chẳng cần nhìn về sau đoán hướng, tôi đưa tay phải vào lưng eo, rút ngay Khai Sơn kiếm rồi xoay người quét một vòng ra sau, nhưng chỉ chém vào hư vô, trước mặt tôi là cái xác, lúc nãy nằm yên trong quan tài vàng, nhưng giờ đây nó đã ở ngoài rồi, hai tay đưa song song trước ngực, đôi mắt với hai quầng thâm đen mờ đang mở trao tráo nhìn tôi không chớp, con ngươi không phải là màu đen nữa, mà thay vào đó là hai con ngươi màu trắng đục, miệng cái xác đang nhe ra hai cây răng nhọn dài nơi khóe miệng. Đây là một cỗ cương thi với tên gọi chính xác là hành thi, có thể di chuyển bằng cách nhảy thẳng hai chân về trước. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy một con cương thi thực sự, nó dường như đã ngửi được mùi máu trong cơ thể bọn tôi, đang chăm chú quan sát, tìm cơ hội lao vào cắn cổ và hút đi hết máu tươi trong mình bọn tôi. Mặt mày cả bọn tái mét, xanh lè như tàu lá chuối khi nhìn thấy đôi răng nanh nhọn hoắc kia nhe ra từ khóe miệng đỏ lòm của con cương thi. Lúc tôi chưa kịp xoay người lại đã nghe gió lướt vù vù sau lưng, kèm theo mùi hôi thối, tanh nồng xông đến, trong đầu vội nhớ đến mấy bộ phim kinh dị từng xem, biết rằng cương thi có thể đánh hơi dương khí của người sống, có lẽ lúc bọn tôi chồm người vào áo quan mò vàng, hơi thở cả bọn phả cả vô mặt cái xác, đã khiến cái xác ướp này cảm nhận được và vùng dậy tấn công bọn tôi. Tôi vội đưa tay trái bịt mũi mồm lại rồi quay phắt ra sau, cỗ cương thi phóng vù đến nhưng dường như không thấy tôi, mà nhảy cả qua đầu tôi tấn công mọi người còn lại, cả đám người lão Hòa thấy tôi tay bịt mũi thì cỗ cương thi không tấn công mà còn dễ dàng bỏ qua nữa, nên cũng bắt trước tôi vội đưa tay bịt mũi, bịt mồm lại. Quả nhiên công hiệu vô cùng, cỗ cương thi lập tức dừng lại, khẽ xoay đầu qua trái, rồi qua phải như để tìm kiếm mùi dương khí của người sống, nhưng vẫn chưa tìm được mùi nào từ bọn tôi khiến nó đứng yên mà đầu cứ ngó nghiêng hít hít ngửi ngửi tìm kiếm. Tuy "chiêu" bịt mũi tránh thi này lợi hại thật, đã chặn được sự tấn công nguy hiểm của cổ cương thi, nhưng chẳng ai có thể nín thở được lâu đến nửa tiếng, tôi đã được học qua khí công của vị thầy mù, nhưng về cơ bản vẫn chỉ trụ được mười mấy phút là cùng, tên Toản vừa sợ vừa run nên hơi trong cơ thể cũng ít hơn, không chịu nổi nữa liền bỏ tay thở ra một hơi, cỗ cương thi liền lập tức lao đến xoạt đôi tay nhọn hoắc cắm vào người tên Toản đang đứng trước tượng con kỳ lân bằng ngọc, tên này nói ra thì hắn cũng rất ma lanh, vừa thở ra đã nhanh chóng hít vào một hơi rồi vội bịt mồm, bịt mũi lại ngay, đồng thời cũng lăn một vòng dưới đất tránh được chiêu sát thủ của cỗ cương thi, cỗ cương thi phóng hai tay lao tới, lại không trúng mục tiêu và đâm quá đà nên hai tay cắm ngay vào lưng con kỳ lân bằng ngọc, cỗ cương thi liền vung tay một cái,đã làm vỡ mất một mảng ngọc bên hông con kỳ lân.

Lúc này sức chiến đấu của cả bọn cũng đã có hạn, do phải nín thở một lúc, nhịp tim chưa được điều hòa, nhưng đứng trước sự tồn vong của chính bản thân mình, nên cả bọn chỉ còn cách, một là nín thở đến lúc tìm được đường tháo chạy, hai là chỉ còn cách liều mạng chiến đấu hết mình mà thôi. Cả bọn ai cũng biết rằng, trước lúc gặp cỗ cương thi này đã thấy một cỗ cương thi khác vỡ ra từ tượng đá, với sức mạnh kinh thiên, đao thương bất nhập, cũng nhờ Huyền Thiết Tản và Khai Sơn Kiếm nếu không đã chẳng còn mạng nữa, cỗ cương thi kia chỉ là tên lính gác của cái quan tài vàng, vậy cỗ cương thi trước mặt bọn tôi chẳng biết còn lợi hại đến mức nào. Chẳng ai dám khinh xuất mà chỉ một tay bịt mũi, một tay đưa vũ khí lên theo bản năng phòng bị mà thôi, chưa dám tấn công vội. Cỗ cương thi vẫn xoay đầu nghiêng trái, nghiêng phải tìm hơi thở bọn tôi, lão Hòa cầm chắc cây dá thép bất chợt vung lên xắn mạnh vào đầu cỗ cương thi, cuộc chiến quyết liệt của người sống và người chết, giữa chúng tôi và cỗ cương thi chính thức được bắt đầu.

Lão Hòa một dá xắn xuống đầu cỗ cương thi, chỉ nghe keng một tiếng như xắn vào một cục sắt, cây dá thép bật ra, cỗ cương thi đã đánh hơi được dương khí liền gào lên, vung hai cánh tay gạt lão Hòa ra, tay cỗ cương thi vẫn chưa chạm vào lão Hòa thì nghe binh một tiếng, cây gậy gỗ trong tay anh Bình đã quét vào chân cỗ cương thi đó, nhưng cái xác chết tiệt ấy cứ trơ trơ như gỗ đá, lão Hòa bị hất văng ra, cây gậy gỗ của anh Bình đã gãy làm hai đoạn, Hải Đoàn và Hùng Ngọng cũng lao vào chém xèn xẹt vào đầu, vào vai cái xác, nhưng cũng chỉ phát ra tiếng va đập keng keng, cái xác vẫn không mảy may sứt mẻ, tên Quang cũng xông vào trợ chiến, phạt ngang ngọn dao một đường vào đầu cái xác nhưng cũng chỉ có thể làm cho cái mũ đen có viên ngọc màu vàng sậm trên chóp văng đi, để lộ ra một cái đầu bóng láng phía sau đầu là một bím tóc dài xuống tới eo, có vài sợi đã bung ra rũ rượi, cái xác đã vung một vòng gạt cả bọn văng ra, đồng thời liền nhảy về phía anh Bình. Tên Toản cũng cầm dao lao bổ vào cái xác, nhưng chưa kịp chém, cái xác đã nhảy đến chỗ anh Bình làm nhát dao của tên Toản chém vào khoảng không, tôi cầm đoản kiếm Khai Sơn chạy đến chắn trước mặt anh Bình, vừa lúc cái xác đã cắm mười móng tay nhọn vào đầu anh. Khai Sơn Kiếm đã đưa ra chắn cú đâm chí mạng, chỉ thấy những ngón tay cái xác đã bị tiện đứt, xương trắng trong các ngón tay lộ cả ra ngoài, nhưng cái xác chẳng hề chảy một giọt máu, bởi cơ bản, cái xác chết đã lâu, máu huyết đều khô cả, với lại, cái xác xem máu như thức ăn, đã bị âm khí tiêu hóa hết đi chẳng còn chút gì, càng không hề tỏ ra đau đớn. Tôi một tay cầm dù, một tay cầm đoản kiếm, vừa công vừa thủ, cái xác chạm cái gì vào cây đoản kiếm thì liền bị tiện đứt ngay, còn phần cây dù thép thì cái xác không cách nào xuyên qua được, nên tôi luôn chiếm thượng phong, nhưng cái xác cứ nhảy loạn xạ, lúc hất lão Hòa, lúc đẩy anh Bình, khi chồm về tên Quang, khi huơ về Hải Đoàn, khiến một vài người bị hất văng vào tường bị thương, quần áo dính đầy bụi đất, có người mép cũng đã rỉ máu... Cái giỏ ni lon đựng con ếch quái lạ to đùng của lão Hòa cũng bị văng đi, bay ngay vào tay cái xác ướp, bị cái xác xé ra, rồi nhanh như chớp chụp con ếch cắn một cái, chân con ếch giật giật, toàn thân run lên, trong phút chốc con ếch đã về chầu trời, không kịp kêu một tiếng, cả bọn nhác thấy, trong bụng cũng lo sợ vô cùng, chân tay ngay lập tức cũng hốt hoảng luốn cuốn cả lên. Cái xác vùng vẫy tứ tung khiến tôi không cách nào tiếp cận được, nên hò la chém loạn xạ theo, nhưng không ngờ trong lúc hỗn loạn này, cái xác lại vô tình lao vù về phía tôi, tôi liền cụp cây dù thép lại, cúi người thúc mạnh vào bụng cái xác, cái xác lập tức há miệng ra, trong miệng cái xác sáng lóa, một viên ngọc xanh như ngọc bích từ trong ánh sáng xanh ấy bay ra, tôi vội đưa tay chụp lấy rồi lộn người ra sau, tránh xa cái xác, nhìn lại thấy da thịt cái xác đang dần rã ra, phần tay và đầu giống như biến thành cát, chảy cả xuống nền đất, trong khi cái xác vẫn không ngừng nhảy về phía trước. Bỗng mặt đất rung chuyển, đá rớt gạch bay tứ tung, dường như có một trận động đất đang ập đến. Thấy tình thế càng lúc càng lâm nguy, anh Bình vội nói như hét:

- Ngôi mộ sắp sập rồi, chạy tụi bây!

Lúc này cả bọn mới nhận ra, chân tôi đã giẫm phải cái chốt lẫy bằng đá màu vàng kia, nó còn có thể kích hoạt một rãnh nữa, để làm sập hoàn toàn ngôi mộ cổ này, có thể nó được thiết kế nhằm mục đích thứ nhất là phòng biến cố cương thi phóng ra gây hại nhân gian, thứ hai là để chôn vùi những kẻ cả gan vào đây trộm mộ để cùng chết theo chủ mộ, người thiết kế ngôi mộ này đúng là một cao thủ về cơ quan kiến trúc, với sự tiên liệu thâm sâu khó lường. Nghe tiếng nói của anh Bình, tôi vội chạy nhanh đến cây cầu đá xây theo hình sóng vỗ, nhảy xuống cầu, chui vội vào cái hang rộng bên mép nước, rồi quay đầu lại nói to:

- Bên này, dọt mau!

Thấy phía sau đang rung chuyển dữ dội, cái xác cương thi đã từ từ vỡ vụng chỉ còn lại lớp áo quần đang từ từ xẹp xuống. Cả bọn thấy tôi chui vào cái hang rộng cũng vội phóng theo, chẳng biết bên trong cái hang rộng này còn có những hiểm nguy, quái dị gì? Nhưng mặc kệ cứ chui vào giữ cái mạng trước đã rồi hẳn hay! Tôi dẫn đầu chạy nhanh về trước, phía sau lưng nghe tiếng lạo xạo, rồi ầm ầm vang lên không ngớt, chắc cái vòm hang siêu cấp bị tảng đá khổng lồ bịt kín cửa kia, kèm theo cỗ cương thi ma quái đang dần sụp đổ . Tôi chạy vù vù, được một lúc đã thấy trước mặt bóng tối đang bao trùm, không còn một tí ánh sáng gì nữa.

Lúc nãy, đánh nhau kịch liệt với cổ cương thi trong ngôi mộ Tiều nên đèn pin đều rớt cả lại, chỉ còn lại duy nhất cây đèn pin trong tay Hùng Ngọng, nhưng do va đập cũng đã lúc sáng lúc tối, giờ đây, khi đã chui sâu vào cái hang rộng nó đã tắt ngúm, không phát sáng được nữa. Trước mắt cả bọn chỉ có độc một màu đen thùi lùi của bóng tối, nên đành giảm dần tốc độ, sát vai nhau mò mẩm mà cất bước tiến lên phía trước. Xung quanh vẫn là cảm giác ẩm ướt, ngột ngạt, khiến người ta khó thở, đôi khi có vài ngọn gió lạnh buốt lặng lẽ và âm u thổi qua càng khiến người ta có cảm giác rờn rợn sống lưng... Đèn chẳng còn, cây đèn dầu ống nứa cũng chẳng biết đã rơi đi đâu, phía trước, phía sau đều một màu đen đặc quánh, không thể phân biệt được nông sâu của cái hang này, chỉ biết rằng những cơn gió lạnh chốc chốc lại thổi đến, đủ thấy cái hang này như vô tận. Cả bọn không dám đi nhanh, e phía trước còn có nhiều cạm bẫy hay cơ quan nguy hiểm, nên đành nhích từng chút một, thỉnh thoảng còn giẫm phải bùn hay vũng nước nào đấy nghe bì bõm, trên nền đất chắc có cỏ, khi bước qua vẫn nghe loạt xoạt, đi được một đoạn thấy gió lạnh càng lúc càng mạnh hơn, đoạn đường phía trước dốc lên, thấp thoáng lờ mờ hiện ra vài bóng đen đang lay động, cả bọn liền khựng lại. Trong ngôi mộ cổ quái này luôn xuất hiện bao chuyện kỳ dị, cùng những hiểm nguy luôn rình rập, nếu ko phải là may mắn, chúng tôi phúc lớn, mạng lớn thì đã bỏ mạng từ lâu rồi. Cả bọn ngưng thần phòng bị, tinh thần sẵn sàng cho mọi hiểm nguy trước mắt. Thấy mọi thứ vẫn lặng im như tờ, bọn tôi mới dám bước lên, chỉ thấy có gió lùa đến, những bóng đen lay động không ngừng, trong khung cảnh thế này, khó mà đoán được phía trước có cái khỉ gió gì? Là thù hay bạn? Là họa hay phúc? Cũng chẳng ai hình dung nổi! Trước mặt tối đen, không nhìn rõ ất giáp gì? Tự nhiên thấy có bóng dáng của vật gì đó lay động trước mắt càng làm cho bọn tôi dựng đứng lông tóc cả lên! Tôi chợt nhớ đến viên ngọc Dạ Hải Thần Châu của vị thầy mù tặng tôi, bèn cho tay vào túi quần trái moi ra, ánh sáng kỳ diệu của viên ngọc lập tức soi sáng cả một khoảng đất rộng phía trước, rồi nhìn thấy một bóng cây lù lù xuất hiện, cành lá xum xuê, um tùm, hàng vạn đoạn rễ cứ tua tủa phủ đầy thân cành. Quan sát kỹ thì ra đây là một cây đa cổ thụ, cả gốc cây to như một trái núi với bộ rễ chính, rễ phụ sần sùi, vỏ cây khô nứt nẻ, lá cành đan xen che rợp vòm hang phía trên, nhìn chẳng khác nào một cái dù khổng lồ, đang đứng sừng sững trong một lòng hang rộng lớn, những bóng đen lay động khi nãy là do những cành cây rậm rạp này bị gió thổi vào, phía sau cây đa khổng lồ ấy là một bãi nghĩa địa hoang tàn, e là còn cổ xưa hơn cả cái quan tài bằng vàng, nhìn cứ như một thôn làng bỏ hoang xơ xác, xung quanh nghĩa địa là những bãi cỏ tranh mênh mông với muôn vàng bông hoa trắng xóa. Trong lòng tôi thầm kinh ngạc khi nghĩ đến câu chuyện ngày trước má tôi vẫn hay kể cho nghe về nguồn gốc tên gọi của đất Bạc Liêu khi xưa.

Đất Bạc Liêu, thuộc vùng đất Mang Khảm thời xưa, do một người gốc Trung Quốc, là một di thần thuộc triều đại cuối đời nhà Minh, tên là Mạc Hính Cửu, hay còn gọi là Mạc Cửu, quê ở Quảng Đông đến đây khai phá, mở mang bờ cõi. Vì không đồng tình với chính sách ban đầu của triều đình nhà Mãn Thanh, nên ông này đã không để đuôi sam và lìa bỏ quê hương, tha phương chạy đến sống tại phủ Nam Vang nước Cao Miên, rồi sau đó đến những vùng miền Nam Việt Nam định cư.

Khi đến vùng Mang Khảm này, Mạc Cửu đã chiêu tập những người Kinh, Khmer, người Hoa khai phá đất hoang, rừng rậm, hình thành nên những thôn xóm đầu tiên tại vùng đất Bạc Liêu. Lúc đầu, ông thấy ở phủ Sài Mạt của vùng ấy, người Việt, người Triều Châu (Trung Hoa xưa), Cao Miên, Đồ Bà (Chà Và)... Thường tụ tập mở trường đánh bạc rồi lấy xâu, gọi là thuế hoa chi, ông đã thầu mua lại thuế ấy rồi kinh doanh, chẳng bao lâu đã trở nên giàu có. Lại tiếp tục mở mang thêm đất đai ngày càng rộng lớn, hình thành nên vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh như bây giờ.

Tên gọi Bạc Liêu bắt nguồn từ giọng đọc của người Triều Châu khi xưa, gọi là Pô Léo nghĩa là "Xóm Nghèo", vùng này chuyên làm nghề hạ bạc, tức là chài lưới, đánh cá và đi biển. Theo phát âm Hán Việt, Pô đọc là "Bạc", còn Léo đọc là "Liêu", lại có người cho rằng, Pô tức là "Đồn", còn Léo có nghĩa là "Lào" (Ai Lao) theo phát âm tiếng Khmer, vì trước khi người Hoa đến đây sinh sống, nơi đó đã có một đồn binh của người Lào đóng ở nơi này. Còn đối với người Pháp thì họ căn cứ theo tiếng Pô Léo của người Triều Châu mà gọi vùng đất này là Phêcheri - Chaume có nghĩa là "đánh cá và cỏ tranh". Còn có một ý kiến khác lại cho rằng, vùng này được xuất phát từ tiếng Khmer Po Loenh có nghĩa là "Cây Đa Cao", vùng đất Bạc Liêu này có tên gọi là từ đấy. Cũng không biết cái tên nào mới đúng? Vì những người dân Bạc Liêu dù cao tuổi nhất vẫn không nhớ được cái tên ấy là xuất phát từ đâu?

Nhưng trước mắt chúng tôi thì dường như cái tên nào cũng khớp cả, có cây đa khổng lồ, cao vút, cành lá xum xuê, có bãi nghĩa địa hoang tàn như một thôn xóm nghèo nàn tan tác, đám cỏ tranh mênh mông, còn có cả những ụ đất như những nơi ẩn nấp của quân nhân du khích... Có lẽ ngày xưa, khi những người Triều Châu, người Khmer... đến đây đã thấy được những cảnh, những cây, những gò...này nên theo ngôn ngữ phát âm mà gọi nên những tên gọi ấy cũng nên! Cây đa khổng lồ này lại có vẻ âm u, cô tịch, dường như xung quanh nó ẩn chứa sự ma mị, dị thường. Tôi từng nghe vị thầy mù nói qua, ở Trung Quốc thời xưa nếu trong nhà có người chết, sau khi ướp xác để thi thể không mục rửa, còn nhét vào mồm một viên ngọc giữ xác, nhưng nếu xác chết không rữa đi để lâu dần, âm khí tích tụ sẽ sinh ra hiện tượng quái dị, xác sẽ biến thành cương thi, khi gặp dương khí sẽ phóng ra vồ người, súc vật, gây hại nhân gian. Để tránh trường hợp dị thường ấy người nhà phải tìm một nơi âm khí thật nặng mà chôn cất thi hài, nơi âm khí nặng nhất trên đời này dễ tìm nhất chính là khu nghĩa địa, họ còn trồng thêm cây cối nào đó để hấp thụ âm khí, không cho dương khí xâm nhập, tránh cương thi gặp phải mà bay ra hại người. Cây đa này do hút âm khí ở nghĩa địa mà sống nên thân cây âm khí rất nặng, cơ bản những cái xác chôn trong ngôi mộ cổ này không thể xảy ra hiện tượng thi biến được, nhưng do vô tình chúng tôi đến tìm con ếch quái lạ, lại nhìn thấy một "kho báu" trong chiếc quan tài vàng, rồi không ngờ lúc "mò vàng" là đã vô tình thở vào mặt của cái xác nằm trong đó mà không hay, nên đã sinh ra chuyện xuất hiện một con ma cà tưng (cương thi) lợi hại, xém chút cả bọn đã bị nó nhai xương, uống máu. Về tình về lý, chúng tôi đã không ngờ đến đã phá vỡ những điều lẽ ra thuộc về tự nhiên, nếu không có chúng tôi xuất hiện tại nơi này, e rằng ngàn vạn đời sau vẫn không hề có chuyện hi hữu xác chết đứng dậy vồ người ấy xảy ra.

Nhìn cây đa âm khí tỏa ra lạnh toát khiến ai nấy đều rùng mình, bọn tôi đưa mắt nhìn nhau, rồi lại chậm rãi tiến vào khu nghĩa địa bỏ hoang, nơi có con đường mòn đã bị cỏ tranh che lấp, nhờ ánh sáng kỳ ảo của viên Dạ Hải Thần Châu, chúng tôi mới nhìn rõ được lối đi, Hải Đoàn đi trước, dùng dao phác cỏ mở đường, tôi đi phía sau, dùng ánh sáng của viên Dạ Hải Thần Châu soi lối dẫn anh Bình, tên Toản, tên Quang, Hùng Ngọng tiến về phía trước, đi sau cùng là lão Hòa tay cầm cây dá thép, phòng bị bất chắc có thể sẽ xảy ra nơi đoạn hậu. Đi một đoạn khá lâu mới ra khỏi khu nghĩa địa hoang trong lòng đất, không gian càng lúc càng thu hẹp lại, lúc này phía trước mặt đã không còn lối đi, nhưng phía trên đã hiện ra một cái hang rộng khác dốc dần lên trên, tôi bèn xòe Huyền Thiết Tản dẫn đầu chui vào hang, tiếp tục đi về phía trước, gió lạnh càng lúc càng mạnh khiến người nào người nấy run lập bập. Tôi nhờ chiếc áo khoác rằn ri nên cũng đỡ lạnh hơn so với bọn họ, nên vẫn không ngừng cất bước, đi đã lâu, Hùng Ngọng chợt lên tiếng, phá tan không khí âm u, căng thẳng trong cái hang rộng này:

- Ê! Nhỉ nhái ã! Ệt á (ê! Nghỉ cái đã! Mệt quá)

Cả bọn đi đã lâu, nên cũng thấm mệt, bèn cùng tán thành, dừng lại dựa lưng vào vòm hang nghỉ ngơi đôi chút, từ lúc vào căn phòng đá gặp cái xác khô cụt bàn chân đến giờ, đi đã lâu chưa hề có cái gì cúng ông bao tử cả, ruột gan ai nấy đều réo lên ầm ầm, bèn lôi một ít bánh pía và nước uống còn lại trên người ra ăn để còn có sức mà đi tiếp. Ăn uống xong xuôi, cũng đã nghỉ ngơi chút ít nên cả bọn đều đã lấy được tinh thần, tiếp tục cuộc hành trình, tôi đốt một điếu thuốc, rồi dẫn cả bọn đi tiếp, đến khi sắp tàn điếu thuốc thì thấy phía trước bỗng nhiên sáng rực, một vật to tròn trắng ởn hiện ra, tim cả bọn đều đập gấp hơn như muốn nhảy hết ra ngoài, trong đầu ai cũng nghĩ rằng: "Lại là cái quái gì nữa đây?"

Nhìn kỹ lại, thì ra bọn tôi đã đi đến miệng của cái hang, vật trắng tròn kia chính là ánh trăng đang chiếu ánh sáng vào miệng hang, cả bọn mừng quýnh lên, cuối cùng cũng đã chui ra khỏi ngôi mộ Tiều cổ. Nơi bọn tôi chui ra là một cái gò cao, ánh trăng treo lơ lửng trên gò, to và sáng như một cái mâm bạc tròn vành vạnh, đoán chừng lúc này đã gần sáng, cả bọn xác định phương hướng rồi cùng rảo bước tìm đường về nhà, đi khoảng chục bước đã nghe xa xa văng vẳng tiếng gà đang gáy sáng.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương VI: CON ĐƯỜNG TRỘM MỘ

Nghe tiếng gà gáy cả bọn mừng rơn! Cuối cùng cũng thoát khỏi ngôi mộ cổ quái dị, nơi đã trải qua bao nhiêu nguy hiểm, chứng kiến bao chuyện kỳ lạ xảy ra...

Ai cũng vừa đói vừa mệt, tuy mới ăn uống xong, nhưng vừa chạy bở hơi tai, nên ông bao tử lại réo ầm ầm, vì bọn tôi đã tiêu hao quá nhiều năng lượng. Lững thững vừa bước vừa xác định hướng, tìm đường quay về, lúc này ánh trăng già đang chênh chếch ngả về Tây, cả bọn nhắm hướng ngược lại cất bước, người xưa vẫn có câu: "Ma đưa lối, quỷ dẫn đường", trời xui đất khiến thế nào lại mò ngay đúng con đường dẫn vào khu đầm cạn mọc đầy dừa nước âm u, vắng lạnh. Nghe mọi người trong xóm hay nói rằng, nơi này cũng đã xảy ra vô số chuyện quái dị, nhất là chuyện có ma da xuất hiện. Ma da là một loại ma do linh hồn của người bị chết đuối hóa thành với oan hồn, oán khí không được tiêu tan, thường hay lôi người sống xuống, rồi dìm chết để người mới chết thế chỗ mình mà đi đầu thai, dù người bị té xuống nước có bơi hay lặn giỏi cũng không thể không chết khi bị ma da kéo chân. Nơi này khi xưa nghe má tôi kể lại, đã có rất nhiều quân Mỹ, Ngụy vào đây săn lùng Cách Mạng đều bị chết đuối không rõ nguyên nhân, chỉ biết khi vớt lên, thấy thân xác bị rong đuôi chồn, cỏ nước mặn quấn chặt, cơ thể khô quắc, miệng há ra, mắt mở to, như nhìn thấy vật gì đó kinh khủng lắm, bộ dạng hết sức lạ lùng, mực nước nơi này chỉ cao hơn đầu gối đôi chút, nhưng những tên Mỹ này dù bơi rất giỏi, vẫn bị chết sình trong những đầm nước đen ngòm này. Những chuyện tương tự như thế được truyền miệng rất nhiều, thực hư thế nào cũng không mấy ai rành lắm, chủ yếu được người khác kể cho nghe rồi thổi phồng lên, đúng sai khó lòng kiểm chứng nổi.

Trong lúc tìm đường về, lại bất ngờ mò vô đây, nghĩ đến mấy câu chuyện của ma da, ma nước gì đó mà cảm thấy sống lưng ơn ớn, cả bọn cẩn thận quan sát rồi chầm chậm tiến bước, mong sao trời mau sáng tỏ. Nhưng trong khu đầm này, dù là ban ngày vẫn mịt mù một màu âm u cô tịch, tuyệt chẳng bóng người. Cả bọn dựa vào viên Dạ Hải Thần Châu trong tay tôi, lầm lũi lội từng bước trong đầm lầy bì bõm, trong tay lăm lăm vũ khí sẵn sàng cho mọi biến cố có thể xảy ra, mọi nhất cử nhất động đều giương cao tinh thần "cẩn tất vô ưu". Phía trước, bên dưới bèo nổi lềnh bềnh, bên trên là những bụi dừa nước to xụ, tàu lá cao vút, những ngọn bập bè(1) to hơn bắp chân bị ai đó vạt mất ngọn, nhọn hoắc như chông. Những lá dừa bị gió khua xào xạc, kèm những tiếng động bì bõm của cả bọn lội qua đầm nước vọng lại, nghe như ai đó đang bước theo sau lưng, càng khiến tóc tai cả bọn dựng đứng, lội qua bước nào thì nơi ấy những mùi hôi thối của lá cây, bèo, xác chim, xác chuột... bị vùi lấp và phân hủy dưới nước bốc lên nồng nặc, một cảm giác bất an len lõi xung quanh.

Chợt phía trước vọng lại tiếng sột soạt, mấy bụi dừa nước trước mặt lay động không ngừng. Cả bọn dừng lại chăm chú quan sát, ngưng thần phòng bị, thấy từ bụi dừa nước một vật màu trắng to lớn bay ra, nhìn kỹ thì mới hay đó là một bầy cò trắng phóng vút ra từ bụi dừa nước ấy, cả bọn thở phào, định cất bước, không ngờ dưới lớp bèo kia, nổi lên những gợn sóng, trố mắt nhìn thì càng thấy sóng nước càng dạt đến dồn dập, lớp bèo tản ra để lộ một mảng màu nâu đỏ đang ào tới. Từ ánh sáng của viên ngọc trong tay, cả bọn đã nhìn thấy, thì ra đó là một bầy đỉa, con nào con nấy to hơn ngón chân cái, đang ùng ùng lao về phía bọn tôi, cả bọn kinh hãi, lũ đỉa đói này mà bám vào người thì chắc chắn một điều là sẽ bị chúng hút sạch máu ngay! Đỉa là một loài chuyên hút máu mà sống, lại là thứ có sức sống rất dai, ví dụ như, chỉ cần cắt một con ra làm ba, rải một lớp tro nguội lên, chỉ trong tích tắc chúng sẽ sống lại và còn tạo thêm hai con mới nữa. Nếu bị cả một đám như thế này hút máu, chắc chắn cơ thể sẽ teo lại như chuối khô chứ chẳng chơi, đúng là chết một cách không dễ chịu chút nào! Thấy lũ đỉa ào ào lao đến, tôi không dám chần chừ, vội leo lên mấy bụi bập bè gần đó, tránh chạm phải cái đám lúc nhúc kia, cả bọn cũng nhốn nháo leo ngay lên những bụi bập bè xung quanh. Nhưng không thể leo lên mà lại ở mãi trên ấy được, leo lên chỉ một chút thời gian mà chân tay đều mỏi rã rời, nhưng cả bọn vẫn cố sống cố chết bám thật chặt vào những bụi bập bè, bởi nếu tuột tay rơi xuống những đầm nước này, thì sẽ toi mạng ngay. Lão Hòa hành nghề đào hang bắt cua, nên khi đi vào nơi đầm lầy, rừng rú, lão luôn có những kinh nghiệm hữu dụng. Trong túi áo luôn có một gói bột trăng trắng, lão vội moi ra rồi nói với cả bọn:

- Địa sợ dôi lắm! (Giọng Khmer: Đỉa sợ vôi lắm)

Cả bọn hiểu ý, lão Hòa rải vôi vào lũ đỉa đang lội nhung nhúc phía dưới, lão Hòa vừa rắc vôi, lũ đỉa liền giẫy nẩy, một số lập tức chết ngay, cả bọn cũng lao xuống đầm, rẽ nước vừa bò, vừa chạy. Chỉ một thoáng gói vôi bột trong tay lão Hòa đã hết, cả bọn chỉ còn cách cắm đầu chạy ra khỏi khu đầm lầy, bị bập bè cứa rách tay, trầy mặt, bị sâu nái(2) chạm khắp người cũng không để ý, có tên té lên, té xuống vẫn cố cắm cổ lao về phía trước, chẳng dám ngoái đầu nhìn. Phía sau, tiếng lách chách của lũ đỉa đói đang bám theo vẫn phát ra không ngừng. Cả bọn thấy phía trước mặt có một bãi đất bằng, dây cóc kèn, cỏ bui bui, ô rô, cỏ cú... mọc um tùm, liền cố sức chạy lên bãi đất bằng ấy.

Chạy lên bãi đất bằng, cả bọn liền thở hồng hộc, lại lần nữa vượt qua nguy hiểm, lúc này tên nào tên nấy cái bụng lại thấy đói cồn cào, hơi thở phát ra đến khi cả bằng tai, liền định hướng rồi đi tiếp. Đi được khoảng năm phút, đã thấy phía trước sáng rực, bước tới nơi thì thấy ánh nắng chiếu vào lóa cả mắt. Cuối cùng, cả bọn đã thoát ra khu đầm hoang u tối mọc toàn dừa nước kia, cũng đồng thời rời xa khu vực mộ Tiều cổ. Tất cả đều đã trải qua một phen vào sống ra chết, lúc này nhìn lại, tên nào cũng mặt đen, mặt xám, quần áo ướt nhem, bùn dơ văng đầy, thân thể cáu bẩn, hơi thở dồn dập, tim đập thình thịch, tay mỏi, chân run, nhưng rốt cuộc vẫn may mắn là không ai bị gì. Tôi cất Dạ Hải Thần Châu vào túi, cả bọn moi những thỏi vàng ra xem, ánh vàng óng ánh tỏa lên mặt, trong bụng mừng rỡ chẳng thốt được tiếng nào, chăm chú nhìn không thôi thỏi vàng đang phát ra ánh sáng chói lọi trong nắng ấm.

...

Về đến nhà tôi mới hay bọn tôi rời nhà đi đã hơn ba hôm rồi, tôi kể lại chuyện đã qua cho mọi người nghe, ai cũng thở phào mừng cho bọn tôi phúc lớn, mạng lớn. Má tôi lấy bức thư viết trên tấm vải lụa ra xem, má tôi là người Hoa, nên chữ viết trên đó đều đọc được cả, trên bức thư ấy viết chi chít chữ Tàu, má tôi xem qua rồi đọc lại cho tôi và cả nhà nghe nội dung bức thư.

...

Tâm nguyện chưa thành, chết không nhắm mắt.

Ta là Công Du Phùng, một quan nhị phẩm của Đại Thanh, sau từ quan hành nghề thương buôn, ta cũng là con cháu ngàn đời của tổ sư Công Du Ban (Lỗ Ban), một kỳ nhân về cơ quan, cạm bẫy. Chẳng biết là do cơ duyên, hay do quỷ thần dẫn lối, ta đã gia nhập vào con đường trộm mộ. Về sau mới biết được, dưới trướng Ngụy Vương Tào Tháo, có một đạo quân chuyên đào mồ quật mả, lấy minh khí (tài vật) trong mộ bán ra lấy tiền để bù vào quân lương. Những người này giữ chức Trung Lang Tướng, người truyền thuật trộm mộ cho ta là hậu nhân của một trong những Trung Lang Tướng ấy, được kế thừa từ đời này sang đời khác, đến đời lão nhân đã trải qua hơn hai mươi bốn đời, rồi truyền lại cho ta lúc ta mười sáu tuổi. Năm ta mười chín tuổi đã bắt đầu đi trộm mộ, đã từng vào ra không biết bao nhiêu mồ sâu mả lớn, trộm không ít minh khí, gặp gian nan, nguy hiểm không sao kể hết, cũng không nhớ hết đã từng chứng kiến bao nhiêu chuyện cổ quái dị thường.

Có một lần, theo tin tức nhận được, có một ngôi mộ cổ ở đất Đại Nam, ngôi cổ mộ này chôn giấu một kho tàng rất lớn, vàng bạc nhiều vô số, tuy nhiên cũng nghe đồn rằng trong mộ cổ cũng ẩn chứa nhiều chuyện cổ quái, đã có không ít người vào đây đào trộm, nhưng đều một đi không trở lại... Bắt được tin tức ấy, ta vội lập ngay một đội gồm ba mươi sáu người, đón tàu đến miền Nam đất Đại Nam ngay. Vào Đại Nam, qua dò la, đội của ta cũng lần ra được vị trí ngôi mộ cổ, cả đội vội bắt tay lên kế hoạch cho việc trộm mộ. Ngôi mộ nằm sâu trong rừng già, đường đi quanh co, phức tạp, phải qua biết bao kênh rạch chằng chịt, gò cao, rừng thẳm... Trên đường đã có vài người vong mạng. Khi vào ngôi cổ mộ, thấy tà khí tỏa ra choáng ngợp, cả đội lại gặp thêm biết bao điều quái gở, đấu nhau kịch liệt với đám hình nhân bằng gỗ canh giữ ngôi mộ, chạm trán cỗ cơ quan ngựa sắt phun lửa và hơi độc, gặp phải đám dây leo sống nhờ vào thi khí, bị chúng xiết đến chết rất nhiều người, và còn nhiều nữa những việc kinh khiếp hãi hùng, khiến cả đội tử thương gần hết, cuối cùng còn lại tám người, cả tám đã đến được nơi chôn kho báu trong lòng mộ cổ. Vào đến nơi thấy vàng rải đầy đất cùng vô số xương sọ đầu lâu, lại gặp phải yêu xà dữ tợn, bị thương hai ba huynh đệ, nhưng chung quy vẫn lấy được một số vàng trong kho báu kết xù kia. Vì số vàng quá nhiều, không thể một lần mang hết ra được, nên chia nhau, mỗi người mang một ít ra ngoài, ta ở lại bọc hậu, hẹn sau này, chuẩn bị nhân mã rồi quay lại mang nốt số vàng ấy đi.

Khi bảy người kia đã ra được bên ngoài, ta chuẩn bị ra theo, nào ngờ trong mộ lại gặp một con cương thi vô cùng lợi hại, nằm trong một cỗ quan tài bằng hổ phách, dù ta được chân truyền tuyệt kỹ trộm mộ, cũng như có chút tay nghề trong việc khử thi tránh tà, nhưng kết cục cũng không thoát khỏi ý trời, ta đã bị cương thi cắn phải, phần da thịt bị cắn lập tức thối rửa, ta vẫn quyết sống chết một phen, liều mình chống lại cỗ cương thi xem như sắp thành bất tử, cuối cùng cũng đã hỏa thiêu được cỗ cương thi lợi hại ấy. Tuy nhiên do vết thương bị nhiễm thi độc cũng đã bắt đầu lan truyền khắp nội thể, thân thể ta dần lở loét, trên người nổi đầy nhọt độc, da thịt bắt đầu thối rữa, biết số mạng sắp kết thúc, ta nhờ bảy người trong đội tìm một nơi trên đất Đại Nam này để an táng khi ta vẫn còn tỉnh táo. Để ta không hóa thành yêu thi, họ đã bàn là sẽ chôn ta tại một nơi âm khí tích tụ dày đặc, để cơ thể hấp thụ hoàn toàn âm khí ấy, mà không hóa thi được, đồng thời trồng thêm một cây đa để cây ngăn cản dương khí, tránh để ta gây hậu họa về sau, trừ khi sau này mộ phần ta bị người khác quấy nhiễu, xác ta mới hóa cương thi hại người còn không thì vĩnh viễn ta vẫn an giấc ngàn thu. Trước khi hậu táng ta, bảy người kia đã vẽ lại bản đồ của ngôi cổ mộ đã đào được làm hậu lễ tuẫn táng và dựng lên vô số cơ quan cạm bẫy đề phòng những kẻ trộm mộ sau này, cũng xem như là họ đã ghi nhớ một người thủ lĩnh đen vận.

Không biết về sau, ta có gây nên họa lớn cho dương thế không? Nhưng nhớ lời tổ sư dạy, lấy nhân làm đầu, hành thiện tích đức, ta cũng không quên dặn dò bảy thuộc hạ, lấy số vàng trộm được trong mộ cổ ra tế bần, trợ khó, tích chút công đức. Chỉ còn tiếc số vàng trong lòng mộ cổ kia chưa mang được hết ra ngoài, nếu sau này ai có cơ duyên lạc bước vào đây, lấy được bản đồ kho tàng, tìm ra kho báu, xin hãy dùng số minh khí này giúp đỡ bách tính thoát một phần lầm than, và đừng trách ta làm chuyện nghịch lý hại người, hại mình.

Nghĩ đến con đường ta đã trải qua, vẫn thấy việc mình làm đã tổn hại âm đức quá lớn, lòng thấy ray rứt không yên, chết vẫn không cam tâm nhắm mắt được, mong hậu thế đừng chấp nhứt.

Đại Nam(3) , Ngày Tân Sửu, tháng Giáp Tuất, năm Đạo Quang(4) thứ hai mươi hai.

Công Du Phùng tuyệt bút.


Má tôi đọc xong, trả thư lụa cho tôi, rồi khuyên tôi nên lấy vàng giúp đỡ bà con lối xóm, đã từng gặp cảnh cơ hàn sau cơn bão vừa qua. Tôi đem số vàng cho ba má tôi sửa lại nhà cửa, rồi mua gạo phát cho những người nghèo trong xóm, số còn lại, tôi sắp sửa cuốc xẻng, mua thêm đèn pin, thuốc hút, rèn thêm dao mác, gậy sắt... Ông cậu tôi sau khi nghe câu chuyện tôi kể, đã bình tĩnh lại nhiều, tâm trí dần dần hồi phục, nhưng có lẽ từ nay về sau ông cậu sẽ không còn đi soi ếch nữa. Chuyện về con ếch to kỳ lạ kia cũng thôi không nhắc đến nữa... Xong rồi tôi tụ họp cả bọn lại, bàn kế hoạch đi tìm kho báu mà trong bức thư bằng lụa đã nhắc đến.

Sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, lão Hòa, anh Bình và tôi nhất quyết đi tìm, còn lại thì đều quyết định "dừng bước phiêu lưu", sống cuộc sống riêng của mình, bởi giờ đây họ đã có cơ ngơi, tài sản đầy đủ, lại nhớ đến những hung hiểm đã gặp khi trải qua cuộc phiêu lưu nơi lòng mộ cổ, ai cũng không khỏi thót tim, không muốn đem mạng sống ra đánh cược nữa. Tôi không thể trách họ, đành làm một buổi tiệc coi như lễ rửa tay cho những người này. Sau đó tôi, anh Bình và lão Hòa lại bàn chi tiết hơn cho kế hoạch săn kho báu. Hải Đoàn tuy không tham gia, nhưng hứa sẽ giới thiệu một người, chuyên vận chuyển vũ khí lậu, qua đất Việt từ biên giới An Giang rồi phân phối ra các địa bàn khác từ Nam chí Bắc, lúc trước, khi chưa làm việc cho nhà máy, Hải Đoàn từng làm lơ xe nên quen biết người này. Cả bọn ba người bọn tôi sẽ được Hải Đoàn dẫn đi gặp hắn ta sau ba ngày nữa.

Sau khi tổ chức tiệc rửa tay xong, tôi quay về nhà, ngủ một giấc thật sâu, khi tỉnh dậy thì mặt trời cũng sắp lặn. Buổi tối, ăn cơm xong, tôi ra bờ kinh đi dạo, con kinh này đã một thời gắn bó tuổi thơ tôi, nay sắp lìa xa, lòng tôi chợt dâng lên cảm giác bùi ngùi, tiếc nuối một cái gì đó tha thiết. Cơn gió cuối đông ùa đến se lạnh, thời gian đã sắp đến Tết Nguyên Đán, trong xóm gần xa đang nô nức chuẩn bị, không khí nhộn nhịp hẳn lên, dọc con kinh đã thấy mấy cây mai dại lác đác trổ hoa, từng đàn bướm rộn rịp bay lượn xung quanh, mùi cỏ non thoang thoảng trong gió, hoàng hôn nơi xóm nghèo này thật yên bình, thơ mộng.

Nhà tôi cũng bận bịu chuẩn bị đón Tết, trong nhà đã sửa sang mới mẻ, hai bên cửa dán hai bức hình Cát Tường Như Ý, trong nhà đặt một chậu mai đang bắt đầu nở những hoa vàng đầu tiên, bên trên treo những bao lì xì đỏ thắm, lại có thêm mấy tràng pháo giả, vài chiếc liễn ghi mấy câu chúc an lành như: Đại Cát Đại Lợi, Vạn Sự Như Ý, An Khang Thịnh Vượng, Cung Hỉ Phát Tài..., nhìn cây mai thật tươi, báo hiệu một mùa Xuân sum vầy, an bình sẽ đến. Nhà cửa được quét dọn tươm tất, bàn ghế được lau chùi sạch sẽ, không khí khẩn trương, hạnh phúc bao trùm gia đình tôi. Ba má tôi chuẩn bị lá chuối, mỡ thịt, dây lạt để gói bánh Tét. Ở miền Nam không gói bánh Chưng vuông như ở miền Bắc,mà gói bánh thành từng đòn, gọi là bánh Tét. Đôi khi nhiều nhà lại tụ nhau đến, cùng gói và cùng canh bánh, càng làm cho không khí thêm đầm ấm, gắn bó những con người lại với nhau. Tôi lại thích canh hơn là gói bánh, cùng mấy người lớn vừa canh vừa kể chuyện thật thú vị, hấp dẫn nhất vẫn là canh bánh trong đêm khuya và nghe những câu chuyện ma từ những người lớn tuổi, trong đó có một câu chuyện khiến tôi ấn tượng nhất là truyện "Bàn Phấn ma" của ông cậu tôi.

Câu chuyện được kể lại như sau:

Vùng ngoại ô thành phố, có một nhà kho, căn nhà có một trệt một lầu, trong nhà ngoài bao bì, giấy bìa, gạch xây, đòn gỗ ở tầng trệt, cùng với một chiếc bàn trang điểm trên tầng lầu ra, thì không có vật gì khác, cũng ít khi thấy ai đặt chân vào căn nhà kho này. Lúc trước, có đôi vợ chồng trẻ đến đây mua lại căn nhà, đôi vợ chồng có một cậu con trai khoảng bảy, tám tuổi gì đó. Chủ trước của căn nhà ấy, sau khi bán được căn nhà cho hai vợ chồng nọ, nghe nói họ đã quay heo ăn mừng, bởi trước đây, cũng có vài người đến mua nhà này ở, nhưng chẳng ai ở được hơn một tháng, họ đành để tấm biển "bán nhà" treo trước cửa, đã ba năm rồi không ai đến mua, những người biết chuyện về ngôi nhà ấy đều không dám hé răng, chỉ loáng thoáng nghe được trong căn nhà ấy hay xảy ra mấy chuyện quái dị. Hai vợ chồng nọ thấy ngôi nhà vẫn khang trang, bên ngoài tuy cũ kỹ, nhưng bên trong vẫn còn mới, nên chấp nhận mua lại với giá rẻ. Lúc vào ở, hại vợ chồng ngủ tầng trệt, còn cậu con trai thì cho ngủ tầng trên. Nửa tháng đầu, đêm nào như đêm nấy, vào tầm mười hai giờ đêm, hai vợ chồng cũng nghe trên tầng lầu vọng lại tiếng lụp cụp phát ra từ phòng cậu con trai, nghĩ là con mình đùa giỡn nên cũng ít khi để ý đến. Một tháng trôi qua, đêm nào tiếng lụp cụp ấy cũng vọng lại càng lúc càng rõ rệt, hai vợ chồng quyết định lên phòng cậu con trai, xem cậu ta quấy phá thế nào?

Hai vợ chồng rón rén bước từng bậc thang lên tầng trên, thấy cửa phòng chỉ khép hờ nên ghé mắt nhìn vào. Cả hai giật bắn mình, hồn vía như bay vút lên chín tầng mây, mắt miệng mở to, tim đập thùm thụp, hơi thở dường như tắc nghẹn. Thấy trong phòng, đèn điện tắt ngóm, chỉ leo lét cây đèn cầy phát ra ánh sáng chập chờn, cậu con trai đang soi mặt mình vào tấm gương trên bàn phấn, phản chiếu lại hình ảnh từ trong gương là khuôn mặt cậu con trai với mặt mày trắng bệch, đôi mắt với con ngươi mở to, nhìn như mắt mèo, tròng mắt đỏ lòm như tóe lửa, tay đang thoa son vào miệng mình, vừa thoa vừa cất tiếng hát, giọng hát nghe lúc xa lúc gần, vu vơ, dìu dặt, ra vẻ rất tà mị, u uất, thỉnh thoảng cậu ta lại cười ré lên, giọng rất giống con gái. Hai vợ chồng không dám thở mạnh, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa, lùi dần về sau, rồi như không còn đứng lên được nữa, cứ thế bò ngược trở xuống, vào phòng mở hết đèn lên, rồi chẳng dám nhắm mắt, thức luôn đến khi nghe tiếng gà gáy sáng. Sáng ra, vội liều mạng chạy lên phòng cậu con trai, thấy cậu đang ngủ say, mặt mày đã trở lại bình thường, chỉ có đôi môi vẫn còn hơi đo đỏ. Bèn bế cậu lên, rồi trong buổi sáng ấy, quay về nhà mẹ đẻ, chẳng dám nán lại dù một phút.

Vài ngày sau, hai vợ chồng mời đến một vị thầy bùa, nhờ thầy tiêu trừ "con ma" đã ám căn nhà. Vị thầy dẫn theo một thằng nhóc nhỏ khoảng mười ba, mười bốn tuổi, thầy làm phép thỉnh hai vị Thần Tài và Thổ Công lên hỏi chuyện, thằng nhóc nhận trách nhiệm cho hai vị "thần" nhập xác vào người. Chỉ thấy dưới đất có hai bức tượng nhỏ bằng đất nung, tạo hình Thần Tài và Thổ Địa, tượng Thổ Địa đã bị vỡ mất một mảng hơn nửa cái đầu, sơn vẽ đã bong tróc, phai màu. Thầy bùa làm phép rồi phun vào cậu nhóc một ngụm nước, cậu nhóc ấy rùng mình, run lên bần bật, rồi ngồi xuống, một chân xếp bằng, một chân co lên, nói những tiếng gì không ai hiểu. Ông thầy bùa bèn thuật lại lời của "ông thần" kia:

- Thổ Công đã không còn dám ở lại đây nữa, chạy qua nhà khác rồi!

Ông thầy lại dùng ngôn ngữ thần bí kia đối đáp:

- Ông nhận hương hỏa nhà người ta, sao không phù hộ người ta, diệt trừ ma chướng? Lại để yêu quỷ lộng hành, nhà hoang vắng chủ, thế đạo suy vong!

- Ông cũng là người học đạo, cũng nên biết rằng thành vương bại khấu. Nay con yêu nghiệt đã thành tinh, khó mà tiêu trừ được nữa. Nhang khói gia chủ cúng tế đều bị nó hưởng trọn, ngay cả đồ cúng dường, phần dư thừa, nó thí mới được hưởng, còn nếu tranh đoạt, sẽ bị nó đánh hồn lạc, phách suy. Lão Thổ Công đã nhiều lần đại bại, nên cũng cuốn gói lìa xa nơi này. Những gia chủ trước đều bị nó phá quấy, chẳng có gan ở lại, hương hỏa cũng dần dần nguội tàn.

Lại hỏi:

- Tại phong thổ này có cả thảy bao nhiêu con yêu nghiệt đang hoành hành?

- Nơi này, chôn tổng cộng bảy tử thi, đều chết oan, chết ức, hồn phách không siêu thoát, tuy nhiên cũng chưa hẳn đã lợi hại. Còn một con yêu nữ nữa, đã luyện thành tinh, việc tiêu trừ nó e là bất khả thi.

- Vậy cách nào mới khu trừ con nữ tinh ấy?

- Phải có cao nhân độ hóa, giải được oan khiên, mới thu phục được hồn phách nó được! Không xong rồi, nó đã quay về!...

Nói chưa dứt lời đã thấy gió bụi mù mịt thổi thốc vào nhà. Thằng nhóc cho "mượn xác" ngã lăn ra đất ngất đi, tượng Thần Tài cũng ngã chổng vó. Những người bu lại xem đều tối tăm mặt mũi, run lên vì sợ. Ông thầy bùa lập tức cắn ngón tay cho chảy máu, viết ngoằn nghoèo lên một tờ giấy nhỏ màu vàng, xong lại lao vút về trước, dán tờ giấy vàng ấy vào ngay trên ngưỡng cửa, gió mạnh lặp tức ngưng bặt. Thầy lại lôi ra nào nhang, nào đèn, nào xẻng, nào thuổng... rồi thắp nhang, đốt đèn, lấy xẻng, thuổng đào ngay lớp đất trên nền nhà, vừa đào vừa lẩm nhẩm đọc gì đó trong miệng. Đào vài xẻng đã thấy dưới đất lộ ra một khúc xương đen, lại tiếp tục đào, dần dần xuất hiện thêm mấy bộ xương nữa, đen có, trắng có, thân thể tứ chi còn đủ cả, tổng cộng được bảy bộ xương, năm đen hai trắng.

Định đào tiếp, không ngờ, ở đâu có một cơn gió mạnh nữa lại ập đến, ông thầy bùa bỗng giật giật vài cái rồi ngã lăn ra đất, máu tươi từ trong miệng phun ra, chết không kịp nhắm mắt. Mọi người bu lại xem thấy thế cũng thất lạc ba hồn bảy vía, cuốn cuồn bỏ chạy. Từ đó không ai dám đến gần căn nhà ấy. Đứa con trai từ ngày rời khỏi căn nhà kỳ lạ kia cũng bắt đầu có triệu chứng bất thường, hay nói nhảm một mình, khi thì đập phá, la hét om xòm, nhiều lần cậu ta như nổi điên lên, tay cầm chổi lông gà, nhảy múa hát ca, trèo lên cả bàn thờ ông bà mà huơ tay múa chân, quậy phá không sao cản được, cũng nhiều lần, đôi vợ chồng dùng lòi tói (xích sắt) xiềng chân cậu ta lại, cậu ta bớt quậy, van xin, khóc lóc, trông thật tội nghiệp, đáng thương, nhưng khi tháo ra, cậu ta lại y như cũ, mời bao nhiêu thầy, mua bao nhiêu thuốc cũng không sao chữa khỏi, mọi người cho rằng cậu ấy bị con ma nữ kia nhập vào, quậy phá đến nỗi cậu ta phát bệnh điên. Về sau, được người quen chỉ dẫn, hai vợ chồng dắt cậu con trai lên ở tại một ngôi miếu, người ta vẫn hay gọi đó là miếu Tam Thái Tử, thờ con trai thứ ba của Thác Tháp Thiên Vương Lý Tịnh là Lý Na Tra, từ đó cậu ta ít quậy phá, thôi không la hét nữa, tinh thần dần dần khôi phục, đến khi cậu ta lớn rồi, lấy vợ sinh con thì bệnh tình dứt hẳn, nhưng ngày rằm, mồng một vẫn hay đến miếu Tam Thái Tử thắp nhang, và ăn những gì người ta cúng biếu.

Sau khi cậu con trai lên miếu Tam Thái Tử không lâu, trong căn nhà cũ có một chuyện lạ xảy ra. Vào một hôm nọ, có một nhà sư mặc áo màu nghệ, cầm trên tay phải cái bát hóa duyên bằng đất nung, trên tay trái là tràng chuỗi hạt, vai đeo túi vải màu nâu đi ngang, rồi dừng trước ngôi nhà ma quái ấy, ngắm nhìn hồi lâu, những người trông thấy, biết có sự lạ, nhưng cũng chỉ dám đứng từ xa quan sát. Bất ngờ, nhà sư miệng lẩm nhẩm, rồi đưa chân rảo bước tiến về phía căn nhà. Từ hôm, ông thầy bùa bị hộc máu, mọi nguời bỏ chạy, chủ đã thuê người đưa xác hai thầy trò ra ngoài an táng, rồi đóng luôn cánh cửa bằng khóa lớn, hôm nay tự dưng ổ khóa không chìa, không rỉ sét lại tự bung ra, rơi xuống đất, nhà sư thông thả đi vào.

Vào đến nhà, nhà sư vừa lẩm nhẩm đọc gì đó, vừa cúi xuống nhặt nhạnh những mẫu xương còn nằm lại trên nền nhà, bỏ cả vào chiếc bát hóa duyên. Kỳ lạ ở chỗ, sau khi những mẫu xương được đặt vào chiếc bát thì lập tức vụn ra giống như tro bụi, nhặt xong bảy bộ xương, nhà sư lại cúi xuống lấy tay bới đất, lôi ra thêm một bộ xương đen nữa, vẫn xếp cẩn thận vào chiếc bát, rồi lấy một mảnh vải màu vàng nhỏ, trên có vẽ một hình chữ Vạn màu đỏ dán lên miệng bát, rồi lặng lẽ bước đi khỏi căn nhà. Cũng từ đó, căn nhà ấy không còn nghe ai nhắc đến là có chuyện lạ xuất hiện nữa, nhưng chiếc bàn phấn và tấm gương trên bàn vẫn không ai dám động đến, vì cơ bản chẳng ai dám bước vô nhà, những người gần đó vẫn nói thỉnh thoảng có nghe tiếng động lụp cụp phát ra từ tầng trên của căn nhà, ngoài ra không có gì phải để ý đến. Căn nhà cũng nhiều lần đổi chủ nữa, rồi sau đó được bán cho một ông chủ kinh doanh vật liệu xây dựng, được sửa lại thành căn nhà kho đến bây giờ.

Được biết, bảy bộ xương kia đều là thành viên của chủ nhà đã xây nên căn nhà ấy, nhưng vào thời Mỹ đánh Việt Nam, chúng vào giết chết cả nhà, cô con gái út bị chúng thay nhau cưỡng bức, sau đó cũng chôn sống cô luôn, lúc đầu người ở gần đó thấy cả nhà đều chết sạch nên đành đào hố chôn họ chung một chỗ, mà không hề biết còn một thi thể cô con gái út nữa đã bị chôn sống trước đó. Nghe ông cậu nói lại, do oan hồn cô gái ấy không siêu thoát được, nên quay về tìm cách trả thù, nhưng do những tên lính Mỹ, số thì chết, số thì bỏ đi, nên chưa thể trả thù được, hồn cô gái đành ở lại căn nhà và không muốn cho ai vào đây sinh sống, cứ thế oan khí ngày một tích tụ, hồn cô gái đã hóa thành yêu tinh, quậy phá những người vào sống trong căn nhà này.


------------------------

Chú thích:

(1) Bập bè: Thân dưới dừa nước bị chặt phần ngọn lá đi.

(2) Sâu nái: một loài sâu màu xanh như lá chuối, to cỡ ngón tay cái, không có lông tơ, nhưng có những xúc tu mọc khắp lưng, khi bị sâu này chạm vào chỗ nào thì chỗ ấy như bị điện giật, rồi nơi ấy bắt đầu ngứa, sưng, và đau nhức.

(3) Đại Nam: Quốc hiệu nước Việt Nam (1839 - 1945) thời vua Minh Mạng.

(4) Đạo Quang: Niên hiệu triều Mãn Thanh (1821 - 1852)
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả: Lăng Du Thiên Khách

Chương VII: PHÁI TRỘM MỘ THIÊN TÔNG

Vừa canh bánh lúc đêm khuya, lại vừa được nghe những câu chuyện thú vị, quả thật không còn gì bằng. Năm nay Tết nhất, nhà tôi ăn Tết rộn ràng, trong xóm cũng đầm ấm, nô nức. Nhưng nghĩ lại thấy bao nhiêu người vẫn còn khó khăn, khốn khổ, Tết đến mà áo còn chưa ấm, ăn còn chưa no, lòng tôi càng thấy ngậm ngùi thương xót, lại càng hạ quyết tâm tìm bằng được kho báu kếch xù mà trong bức thư lụa nhắc tới, hòng giúp đỡ những ai cơ nhỡ, nhưng muốn tìm ra kho báu ấy, bọn tôi cũng sẽ phải trở thành những tay chuyên đào mồ quật mả, làm một cái "nghề" gọi là "trộm mộ".

Hai mươi bảy Tết, bọn tôi vẫn suy nghĩ về một hiện tượng lạ, xảy ra khi bọn tôi chưa đi vào ngôi mộ Tiều cổ, mà vẫn chưa hiểu được gì? Trước đó ít hôm, bọn tôi và bà con trong xóm đã chứng kiến một việc mà từ trước đến giờ chưa từng thấy, cũng không biết phải giải thích thế nào cho việc ấy, càng không hề biết việc này báo hiệu cho điều gì?

Số là ngày đưa ông Táo hai mươi ba tháng chạp vừa rồi, tôi và gia đình đang tất bật dọn nhà, chợt nghe trong xóm ồn ào náo nhiệt, liền dừng tay, chạy đến xem chuyện gì đang xảy ra? Tôi, lão Hòa, anh Bình, Hùng ngọng, Quang, Toản và Hải Đoàn đều có mặt. Thấy một chuyện lạ từ trước tới nay chưa từng thấy xuất hiện, chuyện này đã ghi nhớ trong tâm trí tôi, không thể không nhắc đến.

Vội đến xem thì thấy, gió cuốn bụi giăng, quang cảnh mịt mù, đất bay đá chạy. Gió mạnh cuốn đến, làm lớp bụi đường, cùng lá rụng, cành cây bay tứ tung loạn xạ, tạo thành một lớp bụi dày như sương mù, trong đám sương bụi ấy, thấp thoáng hiện ra một cảnh tượng cổ quái vô cùng: Trong đám bụi mù là một con ngựa tía, yên cương đầy đủ, dây cương được một người đàn ông, trang phục cổ xưa như lính nhà Nguyễn, đôi mắt chỉ một màu đen, nhìn về phía trước, dùng tay phải cầm lấy dắt đi, tay trái ôm một cái tráp nhỏ bên ngoài khắc mây xanh, phía sau, cũng có một người đàn ông, đầu đội nón lá màu đỏ, tay cầm một cây lộng che phía trên yên ngựa hộ tống, đôi mắt không tròng, không ngươi trắng dã. Cây lộng rực rỡ đủ sắc màu, kết cấu chắc chắn. Chính giữa chỗ yên ngựa và cây lộng là một đám khói màu vàng đang là đà bay theo, trên cao là một con hạc hay con cò gì đó lông trắng, mỏ đỏ, cũng đang nhẹ nhàng vỗ cánh như định lao lên, nhưng vẫn bay theo đám mây là đà. Dưới thấp nơi chân ngựa là một đám khói mù chờn vờn. Tất cả chỉ hiện lên trong phút chốc, mơ hồ như hư vô, lại vừa chờ vờn mờ ảo như hiện thực trong đám cát bụi mịt mù, rồi biến mất. Hàng trăm con người đứng xem mà ngẩn tò te không hiểu Ất Giáp Nhâm Quý gì, vì cũng chả hiểu đấy là chi, cũng không đoán được bên trong những hình ảnh nửa hư, nửa thực ấy là ám chỉ điều gì? Chỉ biết, ai cũng lần đầu tiên trong đời nhìn thấy hiện tượng lạ lùng "sáu ngàn năm mới có một lần này". Vì không đoán được hiện tượng ấy là gì, nên mọi người bàn ra tán vào, rồi cũng cho qua. Chẳng còn quan tâm nữa. Rồi sau đó, chúng tôi mạo hiểm tiến vào ngôi mộ cổ, lại gặp bao biến cố, nhưng chuyện lạ ấy, về sau nữa mới thấy ứng nghiệm rõ ràng.

...

Hai ngày sau, chính là ngày hai mươi chín Tết, Hải Đoàn dẫn bọn tôi đến gặp người mà hắn giới thiệu, người này sẽ cung cấp súng ống cho chúng tôi. Dù sao, vũ khí hiện nay vẫn có phần tiện dụng và lợi hại. Sáng hôm đó là một buổi sáng đẹp trời, ánh nắng nhẹ chan hòa ấm áp, gió thổi dìu dịu, tại một quán cà phê trong thành phố, văng vẳng tiếng nhạc Xuân du dương, chúng tôi thấy một người đàn ông tầm ngoài ba mươi tuổi, tóc dài tận vai, mái tóc và da mặt đều vàng như nghệ, dáng người tầm thước, đang ngồi phì phà điếu thuốc. Người này không nói tên họ, chỉ nghe Hải Đoàn giới thiệu, nguời ta vẫn hay gọi hắn là Kim Đầu. Hắn ít nói, cũng ít cười, nhưng về súng ống thì rành rẽ như lòng bàn tay, đặc biệt nghe Hải Đoàn nói, hắn có rất nhiều kinh nghiệm trong việc vượt rừng, băng suối, chiến đấu sống còn nơi hoang địa, Hải Đoàn còn nói, có một lần, hắn suýt chút bỏ mạng ở một nơi hoang vu xa lạ, nơi đó đầy nguy hiểm, không hiểu sao hắn đã thoát chết và ít khi nghe hắn nhắc lại chuyện này, mỗi lần nhắc lại, hắn như nổi điên lên, không sao kiểm soát nổi ý chí mình, đủ thấy, lần đó thật là một giấc mộng kinh hoàng đối với hắn. Sau khi giới thiệu qua loa, tôi đồng ý mua một ít vật dụng và súng ống hạn nhẹ.

Kim Đầu đồng ý chuyển cho chúng tôi bốn khẩu AK bốn bảy, hai khẩu stG bốn bốn, năm khẩu súng ngắn FN Five Seven, và một khẩu súng ngắn của hắn tặng lại cho bọn tôi, là vật bất li thân của hắn, đó cũng là một khẩu có tên là Glock mười tám selet Fire, cùng toàn bộ lô đạn, kèm theo mấy lưỡi dao găm quân dụng M chín, dây leo núi, thuốc trị độc rắn, thuốc chống độc và nhiều vật dụng cần thiết khác. Những khẩu súng được bảo quản rất tốt, còn như mới cáu, một lô đạn của AK bốn bảy với hơn bốn mươi hộp tiếp đạn ba mươi viên, stG bốn bốn với hai mươi hộp tiếp đạn ba mươi lăm viên, hai loại súng ngắn, mỗi loại ba mươi hộp tiếp đạn hai mươi viên, sáu áo chống đạn, sáu cây dao găm quân dụng M chín, sáu đoạn dây leo núi, mỗi đoạn hơn hai trăm trước, hai mươi viên thuốc phòng độc, năm vỉ thuốc chữa độc rắn... Trang bị cho bọn tôi có thể nói ngoài trừ răng ra tất cả đều kín kẽ hết, Kim Đầu hẹn địa điểm khác để giao hàng, rồi đi ngay. Hôm sau bọn tôi đến nhận hàng, giao tiền xong, đem số vũ khí ấy cất giấu tại nhà anh Bình, rồi nhờ Hải Đoàn mua thêm sáu đôi giầy hành quân đế dày, sáu găng tay leo núi, một ít đồ ăn thức uống, võng mùng, liều, bạt... chờ ăn Tết xong sẽ hành động.

Đêm ba mươi Tết, mọi người nô nức kéo nhau ra thành phố xem pháo bông, trước đó làm mấy mâm cúng Tất Niên, ăn uống nhậu nhẹt đến sáng mồng một, lại đi nhà những người thân quen, thắp nhang cho ông bà, tổ tiên. Mỗi năm, khi đi thắp nhang, chủ yếu kiếm tiền lì xì xài Tết, nhưng năm nay, bọn tôi chỉ cầu mong mọi chuyện xuông xẻ, tìm được kho báu, bình an trở về mà thôi! Xong xuôi rồi thì tổ chức đi đây, đi đó cho tinh thần khuây khỏa, thoải mái, tâm trạng phải được trang bị tốt nhất mới hành động "ngon lành" được. Trong khi đi chơi Xuân, bọn tôi tình cờ gặp một người con gái, cô này khoảng mười bảy, mười tám gì đó, dáng mình dây, dong dỏng cao, da trắng ngần như trứng gà bóc, xem ra cũng là một trang "thiên hương quốc sắc". Dường như biết được bọn tôi sắp làm chuyện gì, cô nàng lân la đến làm quen, rồi lấy lí do: "Tôi là nhà yêu văn học, muốn viết một bộ truyện phiêu lưu nơi xa lạ nào đó, mong các anh giúp đỡ!" Cả bọn còn đang ngạc nhiên, cô nàng lại nói tiếp:

- Quê hương tôi gốc tận bên Trung Quốc, bởi sinh nhai, lúc tôi còn trong bụng mẹ, cha tôi đã sang đây làm mướn (làm thuê), rồi tích cóp dành dụm mở tiệm buôn bán nhỏ. Thật ra tôi có thể ngửi được trên người các anh những mùi quen thuộc, mùi của những "nghệ nhân xới mả".

Nghe cô nàng nói, tôi định nổi xung, đuổi cổ đi cho khuất mắt, lại nghe cô nàng thỏ thẻ:

- Tôi và các anh làm nghề giống nhau, gốc rác không xa lạ. Ở đây không tiện nói chuyện, mình kiếm chỗ nào đó uống nước, tôi kể cho các anh nghe ngọn ngành.

Bọn tôi từ giận, đổi sang ngạc nhiên, rồi cũng gật đầu đồng ý. Vào một quán cà phê cóc, gọi nước uống. Cô nàng bắt đầu vào chủ đề chính:

- Tôi tên Khang Tố Nhạn, mọi người gọi tôi là bé Nhạn được rồi, ông nội tôi là một người Trung Quốc, chuyên làm công việc giống các anh, vì thế chỉ cần nhìn sơ, cũng đủ để tôi biết các anh định làm gì? Tổ tiên của tôi đều hành nghề này, truyền được bốn trăm bảy mươi ba năm. Nên có thể nói chúng ta đều cùng hội cùng thuyền. Nghe ông nội nói, tổ tiên của tôi đã mất tích trên đất nước này từ rất lâu, tôi muốn các anh giúp đỡ tìm ra manh mối việc này! Chi phí tôi sẽ chu cấp cho các anh.

Tôi vội nói:

- Chúng tôi không phải đi du lịch, nếu cô đã biết chúng tôi làm nghề gì, thì cô cũng biết, công việc này không dễ làm chút nào, sẽ có biết bao nguy hiểm, chông gai phía trước, chúng tôi không chắc có thể đảm bảo an toàn cho cô! Với lại bọn tôi đều là thanh niên, trai tráng, cô lại là thân con gái, con lứa, dọc đường bôn ba, e là có nhiều bất tiện... Cô suy nghĩ kỹ đi!

- Vì muốn tìm manh mối về vụ mất tích của tổ tiên mình, tôi quyết phải đi theo các anh, tìm cho ra sự thật ấy, bởi tôi biết, chỉ có các anh mới có nhã hứng với việc "xới mả" thôi!

Cô nàng một mực nhất quyết. Tôi nghe cô nàng cứ một "xới mả" hai "xới mả" bèn hỏi cô nàng:

- Cô nhắc đến hai từ "xới mả", tôi cũng có chút tò mò, không biết hai từ ấy do đâu cô biết được?

- Chắc các anh mới vào nghề, nhưng tôi cũng thật không dám giấu! Trước đây chuyện đào mồ, cuốc mả của người khác đã có từ lâu, có người vì tư thù, có người vì lòng tham, cũng có người vì mục đích sinh tồn mà phải làm cái nghề đào mộ này. Khi xưa, bên Trung Quốc có hẳn các trường phái về nghề trộm mộ, cũng như có những kỹ năng và không thể thiếu những quy định hành nghề, phàm là có thể dẫn tới nguy hiểm cho mình, cho tổ chức được liệt vào "điều đại kỵ". Bên Trung Quốc, phân chia làm hai nhóm trộm mộ, một loại có quy tắc, một loại không có quy tắc, nhưng mỗi một nhóm đều có cách thức và phương pháp độc đáo riêng.

Hai nhóm ấy phân ra thành Bắc phái và Nam phái, cũng dần hình thành một số quy định, cách thức, phương pháp và ranh giới hẳn hoi, Bắc phái gọi nghề này là "đổ đấu", công cụ đa dạng: Có Xẻng Toàn Phong, Ban Sơn Giáp, Thuật Tầm Long, đèn cầy (nến), móng lừa đen… quy định nhiều vô số, lại chia ra bốn phái nhỏ khác nữa. Còn Nam phái gọi là "đào cát", công cụ thường dùng nhất là Xẻng Lạc Dương, lúc đầu không có nội quy, nội tắc gì, sau đó mới có nội quy định ra, nhưng ít hơn Bắc phái. Ngoài ra còn có hai nhóm khác sau khi tách rời khỏi đất Tàu du nhập vào đất Đại Nam, tức nước Việt mình, lại chia ra thành hai tông: Thiên Tông và Địa Tông, dân trong nghề đều gọi việc của họ là "Xới mả". Thiên Tông được xem là tông phái hành sự theo ý trời, tình cờ mà hữu duyên, đào mộ tìm vàng, tìm đồ cổ, tìm thuốc cho bách tính, không tham danh lợi, lấy của tế bần, giúp người cứu khổ, ý nói đào mộ chỉ là việc bất đắc dĩ nhưng phải làm, đào mộ xong họ lặng lẽ rút đi, trả lại sự tự nhiên vốn có của ngôi mộ, để nó tự sinh tự diệt. Còn Địa Tông thì hành sự chỉ theo cảm tính, chỉ để thỏa mãn trí tò mò, lòng tham, lâu dần hình thành thói quen, việc xới mả cũng có phần độc ác, tàn nhẫn hơn, hành sự xong họ phá hủy cả ngôi mộ, tránh kẻ khác đến lấy phần thừa, hay tìm được manh mối của kẻ đi trước. Các tông, các phái này, kẻ thì trở thành người thiên cổ, kẻ thì gác kiếm rửa tay, nên hầu như điều bị mai một, tuyệt tích, chỉ còn sót lại đếm không quá mười đầu ngón tay.

Anh và các bạn anh đều tình cờ thuộc trường phái Thiên Tông, mặc dù còn mới và chưa hoàn thiện lắm, còn phạm phải nhiều đại kỵ, nhưng kẻ không biết không có tội, phải biết quy định của nghề này, phải có bản lĩnh thực sự, gan dạ hơn người, và phải có tấm lòng nhân nghĩa, thì mới gọi là "hiệp khách Thiên Tông" được. Ngoài trừ quy định ra, mấy cái khác tạm thời các anh đều có, vì vậy, các anh phải cho tôi theo, tôi sẽ truyền cho các anh quy định hành nghề!

Nghe cô nàng nói vậy, tôi càng lúc càng tò mò hơn, đã đào trộm mồ mả người ta, còn quy định, quy điếc gì không biết. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, đã trót bước chân vào cái nghề này, mà không biết quy định hành nghề của nó, rủi thay phạm phải "điều đại kỵ" gì đó mà táng mạng, thì biết bao nhiêu người đang chờ bọn tôi cứu vớt phải làm sao? Đắn đo hồi lâu, cuối cùng bọn tôi vẫn phải cho cô nàng này theo chân, cùng bọn tôi đi "xới mả" tìm kho báu. Hẹn thời gian, cách thức liên lạc, rồi chia tay nhau về nhà. Trong thời gian sau đó, cô nàng Tố Nhạn đã cho chúng tôi một phen "mở mang tầm mắt". Thiên Tông phái là một phái trộm mộ có quy tắc và đạo nghĩa, được thành lập cuối đời nhà Tùy bên Tàu, do một trong những hậu duệ của Phát Khâu Trung Lang Tướng lập nên, khi đã tách rời hẳn với Bắc phái Phát Khâu, rồi du nhập sang đất Việt. Thiên Tông phái chỉ lấy tài vật,đơn dược cứu người, chứ không vì tư lợi cá nhân, trước khi đào mộ, phải thắp nhang, cúng bái chủ mộ, xin phép kẻ đã khuất, rồi mới hành sự, khi lấy minh khí tài vật gì trong mộ cũng phải chừa lại một ít cho chủ của nó, nếu xác chết trong mộ không có xảy ra sự lạ thì tuyệt đối không được hủy thi, không được phá hủy mộ phần, gặp ngôi mộ nào có "Đất Dưỡng Thi", thì không được ra tay tiếp, gặp quan tài bằng gỗ Ngọc Am thì phải hết sức cẩn thận vân vân và vân vân... Nói về quy định của phái này, e là ba ngày ba đêm vẫn kể không hết. Tố Nhạn chỉ nói sơ qua một vài điều thường hay gặp mà thôi. Thiên tông phái hành sự cẩn thận, mục đích được định sẵn, khi xới mả, phải hết sức chú ý đến sinh mạng của người khác, còn phải biết thuận theo ý trời và đặc biệt không được để lộ thân phận và hành tung của mình.

Đến mồng tám Tết, cả bọn bắt đầu lên đường. Cả đội có thảy sáu người: Tôi, lão Hòa, anh Bình, Tố Nhạn là bốn người, một tên khác là Huỳnh Hiển, với biệt danh Hiển Thủy Tề, vì tên này có khả năng lặn rất lâu dưới nước nên mới có biệt hiệu đó, lúc trước vẫn hay cùng bọn tôi, đánh vật, choảng nhau. Người cuối cùng chính là… Kim Đầu, hắn nói có thể hắn biết lối vào nơi bọn tôi cần đến, nên cũng muốn đi theo dẫn đường và những kinh nghiệm xương máu của hắn cũng phần nào giúp ích được cho chúng tôi. Ăn sáng xong tôi vào từ biệt ba, má và ông cậu rồi theo bọn họ, cùng nhau xuất phát. Ba tôi trông theo, lần đầu tiên trong đời tôi thấy ba tôi rơi nước mắt tiễn tôi, tôi dằn lòng không thể khóc được và tự hứa với bản thân phải tìm bằng được kho báu, còn không sẽ chẳng quay về!

Chuyến đi này lành dữ thế nào, không ai lường trước được? Cả bọn mang theo hành trang, đồ đạc, vũ khí đi tắt đường điền xuống xóm dưới, ngày nghỉ đêm đi, được ba ngày thì đến một xóm nhỏ, vào đấy xin trú chân qua đêm. Để tránh bị người ta chú ý, bọn tôi nói là đội khảo sát địa chất, đi tìm khoáng sản để cho bà con phát triển đất nước, tại những vùng đất miền Nam này. Mọi người dân ở đây nghe thế điều vui mừng đón tiếp nồng hậu, bởi ai cũng muốn cuộc sống của mình ngày càng phát triển, ngày càng tiến bộ. Nghỉ qua đêm tại nơi đây, bọn tôi dò la ra được một tin tức quan trọng, tôi nói với họ muốn nghe những câu chuyện ma mị quái dị nào đó, thì tình cờ được người dân nơi đây tiết lộ, cách đây không xa, có một đường hầm, dẫn đi đâu thì không ai biết, chỉ biết có mấy người tò mò muốn vào xem thử điều bị mất tích một cách khó giải thích, không dấu không vết. Căn hầm này có từ rất lâu rồi, dường như nó là một địa đạo, dẫn đến một địa cung nào đó thì phải. Làm bộ tò mò, tôi dò hỏi đường đi, phương hướng, rồi xác định vị trí, lên kế hoạch thăm dò xem, biết đâu đó là nơi bọn tôi cần tìm.

Trưa hôm sau, bọn tôi nhờ một người trong xóm dẫn đường, rồi bắt đầu tìm kiếm căn hầm bí ẩn. Người dẫn đường nói chỉ đưa bọn tôi tới gần lối đi vào căn hầm, chứ gần hơn thì không dám, vì cũng chưa hề vào lần nào, bọn tôi đành bấm bụng nhờ anh ta dẫn đến lối vào, rồi sẽ tự mình tìm tiếp. Đi đến xế chiều, đã đến một con đường đất nhỏ, lối duy nhất dẫn đến căn hầm, anh Bình thưởng cho người dẫn đường ít tiền, rồi cho anh ta quay về. Bọn tôi dựa vào mặt trời buổi chiều, xác định hướng vào căn hầm có lẽ nằm ở hướng Đông Nam, xung quanh cây cối rậm rạp, đi thêm một đoạn đường dài, đến khi mặt trời lặn hẳn đã thấy thấp thoáng một gò đất cao, lại đi qua gò đất, thấy một cái hang, có thể chui vào cùng lúc hai người, nghỉ ngơi đôi chút, bọn tôi bật đèn pin rồi bước vào cái hang tối om. Bên trong hang lặng lẽ và âm u, chỉ vọng lại những tiếng bước chân của bọn tôi. Trong lòng ai cũng cùng chung một ý nghĩ: "Cái hang này ngoài tối thui ra, chẳng có cóc khô gì, sao người ta đi vào đây lại mất tích?" Cứ thế, bọn tôi bước vào càng lúc càng sâu trong hang, lòng hang chẳng có tí gió, bên trong ngột ngạt không thể tả, khiến ai nấy như ngưng thở, tim đập nhanh hơn, ánh sáng của mấy cây đèn pin không thể soi hết đường hầm, chỉ thấy phía trước tối hù, một màu đen kín bưng bao trùm. Sợ trong hang có khí độc, bọn tôi nuốt vội mấy viên thuốc phòng độc, rồi mạnh bạo bước tiếp, với chút ánh sáng của mấy cây đèn pin, bọn tôi cũng lờ mờ nhận ra, lòng hang đã được bàn tay con người tạo ra, việc đào hang rất khéo léo, nhưng những vết dá xẻng không thể qua mắt bọn tôi, nhất là với lão Hòa. Cũng không thể tưởng tượng một đoạn đường hầm dài đến dường này, và không biết còn dài thêm bao nhiêu nữa mà con người vẫn có thể đào được, chắc mất rất nhiều nhân lực mới hoàn thành được như vậy. Cô bé Nhạn kia vội lên tiếng:

- Đường hầm này do một người đào, thật là phi thường!

Cả bọn liền ngẩn người, tôi ngạc nhiên không kém:

- Cô nói sao? Do một người mà đào được con đường hầm này à? Sao cô biết?

Bé Nhạn liền dẫu mỏ lên:

- Có gì mà không biết! Anh thử ngó qua đó mà xem! Chỗ đó đất mềm, còn in lại một đôi hàng dấu chân, một trái, một phải, chứng tỏ là dấu chân của một người, còn không thì là của hai người đều cụt chân, bằng không chẳng thể có hai hàng dấu chân ấy. Nhìn xem, dấu chân này xuất hiện đã khá lâu, người đào hầm này, đào rất nhanh, dấu chân không nhầy ra, chứng tỏ mỗi phát đều chuẩn, đều mạnh. Hẳn đây là dân xới mả chuyên nghiệp rồi. Chúng ta đây phải gọi đúng phép là "tiền bối" đó!

- Vậy chúng ta đến trễ rồi, bị người khác hớt tay trên hả?

Tôi ngạc nhiên hỏi tiếp, bé Nhạn lắc đầu:

- Cũng chưa hẳn, tuy người này vào trước thật nhưng chắc chưa kịp đem gì ra đâu!

Vừa nói vừa hất cằm về phía trước, bọn tôi cũng căn mắt nhìn theo, một hiện tượng hãi hùng khiến bọn tôi như chết đứng tại chỗ. Phía trước bóng tối bao trùm, ánh sáng của mấy cây đèn pin rọi tới, phản chiếu lại đập vào mắt bọn tôi là một đôi mắt màu xanh lá cây, đang chăm chú chiếu vào bọn tôi. Cả bọn giật bắn mình, trong hang tối om này, tự nhiên xuất hiện một đôi mắt với màu sắc kỳ lạ, chẳng lẽ trong hang này là nơi trú ẩn của một con quái thú? Đôi mắt kỳ lạ ấy nhìn bọn tôi trân trân, rồi phía đằng sau, bên trái, bên phải của đôi mắt ấy, lần lượt xuất hiện từng cặp, từng cặp mắt xanh tương tự, số lượng càng lúc càng tăng lên không ngừng. Cả bọn dường như đứng tim, một con quái thú thì cũng không khó diệt trừ, chứ hàng tá thế này, thì e là cả bọn sẽ làm mồi ngon cho lũ quái vật mắt xanh kỳ dị, không biết là cái giống gì kia, phen này mới đánh trận đầu thì đã gặp phải thảm bại ê chề. Cả bọn căn hết tiêu cự của hai con mắt mình mà nhìn không chớp, ít ra trước khi đối đầu với giống quái nào đó, thì cũng phải biết nó là đồ phải gió gì, nếu không chết cũng chẳng thể yên lòng mà nhắm mắt được.

Kim Đầu thò tay vào túi quần lôi ra hai thanh pháo sáng, giật chốt khai hỏa, rồi ném về phía rừng mắt màu xanh lá. Phía trước liền sáng rực, một lũ động vật hình dạng giống mèo, có con to, con nhỏ lố nhố, gặp ánh sáng mạnh của cây pháo, liền giật mình tháo chạy nhốn nháo cả lên. Không biết ở đâu chui ra một lũ mèo nhiều đến thế? Nhìn kỹ lại thì thấy, đây không phải mèo, mà là một bầy chồn, toàn là chồn Việt.

Nói về chồn, chúng ta phải phân biệt rằng, chồn có nhiều loại, nhưng loại thường hay thấy là loài chồn Trung Quốc, hình dạng như con cáo nhỏ, lông trắng hoặc xám đen, thường gọi là hồ ly, còn loài chồn trước mặt bọn tôi là giống chồn Việt, hình dạng giống như mèo, nhưng tai nhọn dài, nhỏ hơn mèo rừng, chạy rất nhanh, lông thường vằn vện như mèo nhà. Loài chồn Việt có một đặc tính là sống theo bầy đàn, thường vào nhà ăn vụng và động dục với mèo nhà, sinh ra loài mèo lai, người dân quê hay gọi loài mèo lai này là Linh Miêu, đối với những loài mèo lai này có vô số chuyện ly kỳ, dị tượng được nhắc tới khi chúng xuất hiện, khiến ai gặp chúng đều phải xua đuổi hoặc tránh gặp phải. Ngoài ra, lũ chồn Việt này còn có một khả năng đặc biệt khác là thôi miên người, dẫn người đi sâu vào rừng, rồi lạc lối, đến đói khát mà chết, lúc đó chúng sẽ kéo đồng bọn đến chia nhau phần thịt người ấy. Chuyện kỳ lạ về loài chồn Việt này có rất nhiều, tôi cũng không nhớ hết và cũng chẳng biết có thật hay không?

Thấy bọn chồn, bị ánh sáng của cây pháo làm giật mình bỏ chạy, bọn tôi cũng dựa vào mấy chục giây cháy sáng của cây pháo mà tiến nhanh về trước. Bất ngờ, thời gian cháy của hai cây pháo kết thúc, xung quanh trở lại vẻ tịch mịt ban đầu, với những ánh đèn pin yếu ớt. Một đôi mắt xanh màu lá cây khác xuất hiện, đôi mắt này to hơn những đôi mắt lúc đầu gấp ba bốn lần, bọn tôi dường như ngẹt thở khi bị ánh sáng xanh lè của đôi mắt chiếu vào. Trong con đường hầm này, chẳng lẽ có một con chồn chúa to như cái lu hay sao? Loài mèo và chồn tuy là loài ăn thịt, nhưng mắt chúng khi phản quang với ánh sáng sẽ phát ra màu xanh lè, nếu trước mắt bọn tôi không phải là một con chồn to thì là con gì? Bé Nhạn liền vung tay chọi cây đèn pin đang cầm về phía đôi mắt to xanh chành ấy. Một con chồn to lớn với màu lông vằn đen vằn xám đang nhe cặp răng nanh, giương mắt ngó bọn tôi, con chồn to lớn dị thường, đoán chừng đã sống đến thành tinh rồi cũng nên, bởi chồn thì không thể lớn hơn mèo nhà nữa, huống hồ, con này lại lớn như một cái lu đựng nước, bị ánh đèn pin bay tới quyét vào, nhưng không hề tỏ ra sợ sệt. Lập tức, tôi nhận ra có điều gì đó không ổn, trước mắt thấy một con đường sáng hẳn lên, bằng phẳng, dẫn đến một cái bục cao và rộng, trên bục để một bức tượng mình người, chân chim, đầu sư tử bằng ngọc gì không biết, chỉ thấy phát ra ánh sáng bảy tám màu rực rỡ, nhìn vào chỉ muốn đến sát bức tượng, chạm vào, ngắm nghía cho thỏa thích, nhưng tuy thấy ngay trước mắt, chỉ vồ một cái là đã sờ được, mà bước mãi vẫn không thể nào chạm tới, cả đám người vội nhanh chân bước lên, bỗng nghe "đoàng...đoàng..." hai tiếng rõ to, không gian lập tức trở lại mịt mờ, u tối, mùi thuốc súng nồng nặc.

Thì ra, cặp mắt xanh quái dị của con chồn to đã thi triển thuật thôi miên vào bọn tôi, khiến bọn tôi thấy hình ảnh bức tượng lạ lùng với những màu sắc đầy mê hoặc kia, rồi vô thức bước vào sâu trong con đường hầm, nếu không xác định được phương hướng, chẳng biết sẽ đi đến đâu? Cũng may, lúc nguy không loạn, Kim Đầu đã cảm thấy sự nguy hiểm đang cận kề khi bọn tôi và con chồn to cứ ngó nhau chằm chằm, hắn đã rút súng bắn vào con chồn ấy hai phát đạn, con chồn giật mình lùi lại, trên tai trái đã rỉ ra mấy giọt máu, đang nhe nanh gầm gừ y hệt tiếng mèo gào, như tiếc nuối cái gì đó, nhờ vậy mà bọn tôi thoát khỏi vòng xoáy thôi miên của con chồn và đã ý thức được việc trước mắt vô cùng hung hiểm, suýt chút đã trở thành miếng mồi ngon cho bọn chồn đánh chén. Tôi móc vội nắm đinh sắt phi vào con chồn, tiếng phập phập phát ra, con chồn đã dính đòn, đang quay đầu bỏ chạy, tôi định đuổi theo, thì nghe Kim Đầu nói:

- Coi chừng đó, đừng đuổi theo!

Nói xong bước đến bên trái tôi, chụp vai tôi lại. Con chồn to đã chạy mất, trong bóng tối của con đường hầm cũng đã trở lại sự im lặng. Bé Nhạn bước đến trước, sờ vào thành của đoạn đường hầm, phủi đi một lớp bụi, thấy trên ấy, xuất hiện một viên gạch màu nâu vàng, trên viên gạch in nổi hình một ngôi sao sáu cánh. Tôi cũng bước đến quan sát, hình như đây là một cơ quan. Tôi bảo mọi người lùi lại, miệng ngậm một đồng xu thép, rồi giương Huyền Thiết Tản che thân, dùng tay phải đập mạnh vào viên gạch. Viên gạch bị lực đập tác động, liền thụt vào trong thành tường, từ chỗ thành tường ấy nứt ra một khe nhỏ, rồi tách dần ra thành một cửa đá, bên trong cửa đá cũng tối hù như bên ngoài con đường hầm, rọi đèn pin vào, đây là một căn phòng đá được xây dựng khéo léo, bên dưới thì thấy xương sọ ngổn ngang la liệt, phía trong của căn phòng đá, có một bậc đá, bên trên bậc đá đặt một hộp gỗ vuông dài. Thì ra, những gì người dân trong xóm nhỏ nói không sai, những người tò mò đến đây đều bị con chồn to thôi miên, dẫn vào căn phòng đá này rồi chết đói, chết khát ở đây, bị lũ chồn ăn thịt cả chỉ còn trơ lại những đống xương, lúc này, tôi bảo mọi người ở bên ngoài đề phòng bất trắc:

- Tôi sẽ vào trong một mình xem xét, sẽ nhanh chóng trở ra.

Tôi cẩn thận bước vào, mùi ẩm mốc, mùi xác chết xộc vào mũi khiến người ta muốn nôn ra. Tiến gần đến chiếc hộp vuông dài, tôi lại cẩn thận chạm vào, thấy không có gì bất thường, tôi nhấc chiếc hộp ra khỏi bậc đá. Vừa nhấc lên, đã thấy cánh cửa đá dần khép lại, anh Bình liền đập mạnh vào viên gạch màu nâu vàng lần nữa, cho cánh cửa đá không đóng lại, đồng thời tôi cũng nghe bên ngoài nhốn nháo, có tiếng súng nổ. Tôi nhét vội chiếc hộp gỗ vào ba lô đeo sau lưng, chạy nhanh ra khỏi căn phòng đá, thấy Kim Đầu và mọi người đang cầm súng bắn vào lũ chồn lúc nhúc, bầy chồn nhiều vô số, có cả con chồn to đang ngồi phía xa, những con chồn nhỏ chồm lên, vừa quào, vừa cắn anh Bình, lão Hòa, Huỳnh Hiển và bé Nhạn. Tôi phun ngay đồng xu cổ trúng một con đang nhào vào tôi, đồng thời vội hét lớn:

- Bắn dô con chúa kìa...!

Cùng lúc, cũng rút khẩu AK bốn bảy đeo bên vai xuống, nhắm vào con chồn to, siết cò. Do từng đi lính, được huấn luyện kỹ càng, nên đường đạn tôi bắn ra đi đúng hướng, trúng ngay mục tiêu, mấy phát đạn của khẩu AK bốn bảy đều găm vào phần ức của con chồn khi nó đang chồm lên chuẩn bị tấn công bọn tôi. Con chồn to trúng đạn, đang trên đà lao tới đổ nhào xuống, cả bọn đang cuốn cuồng chống trả đợt tấn công ồ ạt của lũ chồn nhỏ, nhưng vừa nghe tôi hét, đã định thần được, cùng nhau giương súng vào con chồn to trong khi nó chưa ngã xuống hết. Con chồn to bị trúng cùng lúc nhiều phát đạn, đã nằm xuống giẫy giụa, kêu gào đau đớn. Cầm tặc cầm vương, lũ chồn nhỏ thấy con chồn lớn bị bắn hạ cũng bắt đầu hoảng sợ, vội vã tìm đường tháo chạy. Kim Đầu như phát hiện điều gì đó vội lập tức đuổi theo lũ chồn nhỏ đang nháo nhác chạy như ong vỡ tổ, bọn tôi cũng lao theo Kim Đầu. Lũ chồn chạy rất nhanh, bọn tôi chạy theo bở hơi tai mà còn không kịp, chỉ thấy phía trước có bóng dáng chúng mà phóng theo. Đến một khúc quanh, Kim Đầu dừng lại, dang hai tay cản cả bọn lại, nói khẽ trong hơi thở:

- Có... bẫy...!

Cả bọn vội tập trung những cây đèn pin soi về phía trước mặt, thấy đây là một con đường được lát bằng những viên đá vuông vức, đã bị phong hóa theo thời gian, có lẽ được hình thành từ rất lâu, trên đá mọc đầy rong rêu, cách vài viên đá đen, có một viên đá trắng, sắp xếp không đồng nhất. Đây là một loại cơ quan được thiết kế ngăn những ai đi vào đây. Kim Đầu ra hiệu bảo mọi người dạt sang hai bên, rút súng ngắn, nhắm vào viên đá trắng trước mặt, bóp cò. Viên đạn găm vào viên đá, viên đá lập tức sụp xuống, trong thành đường hầm cũng lập tức phát ra mấy tiếng phụt phụt. Thành tường của đường hầm liền bắn ra vô số viên đá lửa, những viên đá ấy bắn vào tường dội qua dội lại, tạo thành những đường lửa dày đặc trước khi rơi xuống con đường đá. Những viên đá lửa khi rơi xuống đánh trúng viên đá trắng khác lại làm cho những viên đá lửa trong thành tường bắn ra thêm nhiều không đếm xuể. Có vài con chồn nhỏ hoảng hốt xuất hiện trước mặt, bị đá lửa bắn vào, lập tức bắt lửa bốc cháy dữ dội, chỉ sau một giây đã biến thành tro đen hết. Thì ra, trong khi bọn tôi chạy theo lũ chồn nhỏ, đã không để ý, trên thành đường hầm này cứ rỉ ra không ít nhựa cây, chẳng biết là nhựa cây gì, nhưng cứ gặp lửa là bắt cháy dữ dội, cháy đến thành tro bụi mới thôi, người đã nghĩ ra loại cơ quan này quả thật đã suy tính biết bao công sức và hẳn là một kẻ độc ác vô cùng. Nếu như Kim Đầu không phát hiện ra loại cơ quan này, e là bọn tôi đã thành thú vui trong tay Hỏa thần.

Những viên đá lửa cứ bay vèo vèo, không ngừng không nghỉ, dường như chúng sẽ bắn ra vô tận, chẳng còn cách nào vượt qua được. Đang vô kế khả thi, bé Nhạn đã nhận định được tình hình trước mắt, liền nói:

- Lùi lại đã! Đào đường khác đi ra thôi!

Bọn tôi liền đứng lên rút dần về sau, phía trước, đá lửa vẫn không ngừng bắn ra như mưa. Lùi về phía xác con chồn chúa nằm chết, bé Nhạn bàn với mọi người sẽ từ thành tường này đào tắt một đường hầm xuyên qua khúc có đá lửa bắn ra để vào được căn hầm bí ẩn. Dù sao bây giờ bọn tôi cũng là những tên xới mả thực thụ, chuyện đào tường khoét vách không còn gì đáng bận tâm. Cả bọn liền bắt tay vào việc, anh Bình, lão Hòa và tôi dùng dá, thuổng nạy đá, đào đường, Kim Đầu, bé Nhạn canh chừng đề phòng biến cố, Huỳnh Hiển khuân đất đá đào được ra ngoài, khơi thông đường vào. Theo kinh nghiệm được truyền lại của bé Nhạn, những nơi đất đá cứng chắc thì về sau càng dễ đào đường hầm, nên bọn tôi chọn chỗ cứng cứng trong con đường hầm mà ra tay. Quả nhiên, tuy lúc đầu đá cứng chắc nhưng về sau chỉ toàn là đất xốp nên rất dễ đào, vừa đào được khoảng một thước, anh Bình hơi quá tay xắn mạnh xuống đất, nghe bụp một tiếng, đất đá từ vết xắn cũng sụp xuống, tạo thành một con đường hầm khác nhẵn bóng, vừa sâu vừa tối, bụi bay mù mịt.

Lão Hòa cầm đèn pin rọi vào, nhưng ánh sáng cây đèn pin không chống chọi nổi bóng tối bên trong con đường ấy, chỉ phát ra ánh sáng yếu ớt, Kim Đầu lại lôi ra một cây pháo sáng, ném xuống thăm dò, với ánh sáng của cây pháo, lòng con đường này hiện ra, cũng có thể nói là rất sâu, sáu mươi giây cháy của cây pháo cũng chỉ soi rõ được một đoạn của con đường, không biết bên trong dẫn đi đâu và còn có chứa đựng những bí mật gì đây? Bọn tôi đã là những kẻ xới mả, gan to cùng mình nên đánh liều, cầm đèn pin soi vào, bước dần xuống dưới con đường hầm tăm tối.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả:
Lăng Du Thiên Khách

Chương VIII: MỘ ÔNG TÁO

Vừa bước vào, càng thấy không khí ngộp thở hơn gấp mấy lần, ánh sáng của mấy cây đèn pin dường như bị bóng tối nuốt chửng, chỉ lờ mờ phát ra chút ánh sáng mơ hồ. Dọc con đường hầm, rễ cây mọc đâm vào, có vài cọc gỗ nằm ngổn ngang, chắc đã có ai đó cũng vào đây rồi, nhìn lại thấy phía sau bọn tôi có một con đường hầm khác nối liền chỗ đường hầm bọn tôi đứng, nhưng có lẽ phải quỳ gối mới chui vào được. Tôi lại dùng phương pháp cổ lỗ xỉ nhất là đốt đuốc, nhặt mấy cọc gỗ lên lấy vải áo xé ra, quấn vào, rồi bật quẹt lửa đốt lên, cả bọn cũng đốt đuốc để có thêm ánh sáng, đám người bọn tôi đều tay đèn, tay đuốc, nhưng tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu lần lượt cất bước, tôi tắt bớt cây đèn pin, nhét vào ba lô, rồi tay ôm Huyền Thiết Tản, tay cầm đuốc dẫn đầu, sau tôi là Kim Đầu, anh Bình, bé Nhạn, rồi đến Huỳnh Hiển, lão Hòa đi sau cùng, lũ lượt tiến lên. Phía trước mặt có một lớp khói như sương mờ giăng kín, ánh sáng vàng vọt của những cây đuốc và chút ánh sáng của bốn cây đèn pin cũng đủ soi được một khoảng nho nhỏ trong lòng đường hầm, bất chợt tôi khựng lại, cả bọn phía sau tôi thấy có gì đó không ổn cũng gộp đèn đuốc lại cầm một tay, tay phải chộp ngay khẩu tiểu liên đeo bên người.

Cái khiến tôi khựng người lại là một lũ tắc kè đang bám vào thành của đoạn đường hầm, con nào con nấy to hơn bắp tay, chắc không cả ngàn thì cũng phải tám chín trăm con. bọn tắc kè đều nằm yên, nhưng khi ánh đuốc chiếu tới đã làm chúng mở mắt, săm soi nhìn bọn tôi. Ông bà ta vẫn có câu nói: "Tắc kè mà cắn, trời gầm không nhả", nên khi thấy lũ thằn lằn to này, tôi thấy sống lưng ớn lạnh, nếu cả đám như thế mà cùng bu lại thì ít nhiều cũng bị chúng xé ra từng mảng thịt cho xem, chúng quá đông, con đường hầm này chắc là hang ổ của chúng, coi bộ phen này, bọn tôi đã xâm phạm lãnh thổ của loài bò sát hung dữ này rồi, chúng tôi sẽ bị chúng nhai sống là cái chắc. Kim Đầu nói khẽ, nhưng cả bọn cũng vừa đủ nghe:

- Coi chừng bắn nhằm người của mình đó...!

Kim Đầu vừa dứt lời, nghe trong đám thằn lằn to ấy cũng có tiếng "tắc...kè..." vọng lại, một lũ loi nhoi đã đợi từ lâu, bắt đầu bò tới chuẩn bị đợt tấn công hùng mạnh vào bọn tôi. Tất cả bọn tôi cũng chẳng còn tâm trí nào nghĩ ngợi sẽ ra sao? Nhất loạt nhấc súng hướng về lũ thằn lằn to đang bò như chạy ấy mà nã đạn, tiếng súng, tiếng tắc kè, kèm tiếng la hét của bọn tôi cùng lúc vang lên hỗn loạn. Lũ tắc kè tràn lên lớp này đến lớp khác, kín cả trên trần đường hầm và dưới đất, khẩu AK bốn bảy của tôi đã hết đạn, tôi liền nhanh chóng thay đạn, rồi lại bắn xối xả tiếp, tiếng thay đạn cũng lần lượt phát ra, lũ tắc kè lớp trước nhào lên đã bị bắn chết, máu thịt bấy nhầy, văng túa ra tứ phía, nhưng lớp sau đã ồ ạt bò lên, có con đã bám được vào người bọn tôi, ra sức cắn, đớp liên tục, tiếng la, tiếng gào, tiếng chửi bới oai oái vọng lên liên hồi, đèn đuốc rơi rớt xuống đất cả, thật là một tình cảnh bế tắc không đường nào diễn tả, lùi về thì coi như bỏ cuộc giữa chừng, còn tiến lên thì bị lũ tắc kè chặn lối. Nghĩ mà tức đến lộn ruột, tôi liền chửi:

- Mẹ kiếp! Đúng là số con rệp!

Kim Đầu là người lanh trí, kinh ngiệm của hắn quả thật rất có ít cho chuyến đi này của bọn tôi, về vũ khí có thể nói hắn ta là trùm, trên người hắn không biết có giấu sẵn bao nhiêu là súng ống, đạn dược. Trong lúc hỗn loạn tiến thoái lưỡng nan ấy, hắn móc ra một quả lựu đạn mỏ vịt, rút chốt rồi ném về lũ bò sát đang hau háu chực lao vào bọn tôi, rồi hét lớn:

- Nằm xuống!

Nghe tiếng hét của Kim Đầu, tất cả đều giật mình, nhất loạt nằm rạp ra nền đất dưới con đường hầm u tối. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, khiến đầu người nào cũng ong ong, hai màng nhĩ dường như bị xé toạc ra, quả lựu đạn đã khiến gần phân nửa số tắc kè thịt nát xương tan, máu me tanh nóng của chúng văng bê bết vào quần áo và mặt mũi bọn tôi, làm cho người nào ngửi được phải buồn nôn. Kim Đầu móc thêm một quả lựu đạn nữa, cầm sẵn trong tay từ lúc nào không rõ, lại giật chốt khai hỏa, lại ném, lại một tiếng "ầm" như trời long đất lở vang lên, lũ tắc kè đã giảm đi, chỉ còn lại một phần mười so với lúc ban đầu. Tôi vội xách súng đứng lên chửi:

- Mẹ kiếp! Dám cắn ông nội bây hả?

Tôi quét súng một đường, một loạt tiếng súng nổ như pháo liên thanh vang rền, khoảng một chục con tắc kè bị trúng đạn, không thể bám trụ trên vách đường hầm nữa, cũng theo đà quét súng của tôi mà ngã xuống. Lại một loạt đạn nữa tuôn ra khỏi nòng khẩu AK của tôi, những con tắc kè cũng lũ lượt rơi xuống đất. Chỉ còn lại một số ít, đang nháo nhác bò qua, bò lại trên trần đường hầm, anh Bình xối thêm một loạt đạn nữa, lũ tắc kè đã bị diệt gần hết, vài con đã quay đầu bỏ chạy. Phen này, nếu Kim Đầu không quyết đoán thì bọn tôi không dễ gì chiến thắng lũ bò sát hung tợn kia, có thể nói, bọn tôi thoát chết trong gang tấc. Cả bọn sau một phen hoảng hồn, đã xốc lại tinh thần để đi tiếp, kiểm tra lại vũ khí, thấy đạn đã tiêu hao một phần ba. Sau khi trấn tĩnh, cả bọn nhặt lại đuốc, đốt lên, rồi rảo bước tiến tới, với chút ánh sáng lờ mờ, bọn tôi nhận ra đã đi đến cuối con đường hầm, có một cánh cửa sắt lớn đen xì chắn trước mặt. Lão Hòa lấy cây dá thép chọc vào cánh cửa sắt xem động tĩnh, thấy không có cơ quan hay ám khí gì mới giật vòng sắt gắn trên cửa, kéo mạnh. Cánh cửa sắt mở ra, thấy bên trong tuy tối om om, nhưng cũng nhận ra được đây là một căn hầm với nhiều đồ đạc để bên trong. Có mấy hòm gỗ dài xếp ngay ngắn đặt sát tường, trên tường treo nào nón, nào quần áo, nào mặt nạ chống khí độc... rất nhiều. Tôi cũng lờ mờ nhận ra, đây có lẽ là phòng quân dụng của một đơn vị nào đó, cả bọn soi đèn tiến vào, mở những thùng gỗ ra, bên trong nào súng, nào đạn, nào lựu đạn, nào lưỡi lê... treo trên tường gần mấy thùng gỗ còn có cả đèn pin kiểu cũ, pin khô, bình toong, ống sắt, lều bạt, xoong nồi, thau chậu... cũng không ít.

Bọn tôi vội nhặt những thứ dùng được cất vào ba lô, rồi đi vòng quanh căn phòng xem xét. Đây là một kho quân trang của bọn Thực Dân Pháp, chẳng hiểu sao lại còn nguyên vẹn, chưa được di dời đi. Thấy còn treo cả cờ của chúng, sắc cờ đã nhạt màu theo năm tháng, chứng tỏ căn phòng này được xây dựng và sử dụng từ rất lâu rồi, nhưng giờ đây đều bỏ hoang cả.

Tôi bàn với cả bọn, khi nào về sẽ nói đường đi, dẫn những người dân trong xóm nhỏ đến đây, lấy vật dụng về dùng, coi như bọn tôi cũng đã "khảo sát" được thứ có ích cho những người trong xóm nhỏ. Nhưng nhiệm vụ trước mắt là mở luôn cánh cửa gỗ phía cuối căn hầm xem xem còn gì bên trong ấy?

Phía cuối căn hầm tối là một cánh cửa gỗ rất dày, màu sơn đã bong tróc, phần gỗ dường như mục nát, chỉ cần vỗ nhẹ, vẫn có thể làm nó tan tành, trên cánh cửa dán vô số giấy vàng, vẽ vằn vện chữ đỏ, nhìn như Bùa Lỗ Ban. Lão Hòa dùng cây dá thép nạy cửa, vừa nạy nhẹ đã nghe tiếng kèn kẹt, cánh cửa gỗ vốn mục nát, chỉ cần lão Hòa nạy nhẹ đã vỡ ra bốn năm mảnh. Cả bọn nhìn vào bên trong thì nhận ra, bên trong là một tòa nhà xây dựng như một lâu đài rộng lớn, nhìn vào cứ y như một ngôi biệt thự nguy nga, chỉ khác nó được xây bằng đá khối xếp chi chít chồng lên nhau, đen xì một màu, bên ngoài tòa lâu đài có dựng một tấm bia đá, trên bia chỉ vẽ ba hòn đá đang chụm đầu vào nhau. Cả bọn trố mắt nhìn ngơ ngẩn, bé Nhạn lí nhí nói:

- Đây là loại "mộ ông Táo", tưởng chỉ có trong truyền thuyết, không ngờ lại thấy còn trên đời này, vào trong phải cẩn thận ngen!

"Mộ ông Táo" là cách gọi từ rất xưa của người Việt khi nhắc đến loại mộ chôn cùng lúc ba người, chết cùng một địa điểm, cùng một giờ giấc, cùng một nguyên nhân. Loại mộ này rất hiếm gặp, bởi cũng hiếm có được nhiều sự trùng hợp như thế, có thể hiểu, chỉ khi nào nơi họ đang sống có một biến cố gì đó kinh hồn lắm, ví dụ như bị dịch bệnh, bị tàn sát, bị truy bức... đến nỗi phải cùng nhau chiến đấu, cùng nhau chống chọi hoặc cùng ôm nhau tự tử tại một nơi, và một điều chắc chắn là họ rất thân thiết với nhau mới ôm nhau chết trùm như thế, ba người cùng được chôn trong một loại mộ như vậy, dù là nam hay nữ, tình cảm của họ phải nói cũng như ba anh em Lưu, Quan, Trương trong thời Tam Quốc. Ở Việt Nam vẫn hay lưu truyền câu truyện của ba vị Táo Quân, một nữ hai nam, vì tình cảm keo sơn của nghĩa vợ chồng, mà nhảy vào lửa đỏ, rồi hóa thành ba cục đá suốt đời chụm đầu vào nhau, gần nhau trên cái lò củi. Vì thế, khi thấy ba người cùng được chôn chung một chỗ, cùng nhiều sự trùng hợp ấy, người ta hay gọi đó là "mộ ông Táo". Nhưng đã lâu không còn thấy loại mộ này xuất hiện nữa nên những người lão làng, biết nhiều hiểu rộng cũng quên đi và không còn nghe nhắc tới, xem như loại mộ này đã tuyệt tích.

Hôm nay, tình cờ bọn tôi gặp được loại mộ hiếm thấy ấy, cũng không biết lành dữ ra sao? Nhưng ở đời, nếu là việc có thể lường trước được sẽ không xảy đến, đã xảy đến thì chắc chắn đó là việc không thể lường trước. Bọn tôi đành nhắm mắt, liều mạng bước qua cánh cửa gỗ dày đã bị nạy tan tành, tiến vào khung cửa dẫn vào ngôi mộ hiếm thấy trước mặt. Được biết, do những người chết trong mộ ông Táo đều là những người có tình cảm keo sơn, gắn bó với nhau, nên được người đời kính ngưỡng, xây mộ phải chu toàn từ ngoài vào trong, thi thể cũng được bảo quản một cách tốt nhất, và dĩ nhiên là đồ đạc, của cải quý giá cũng được chôn theo không ít. Cũng vì thế mà trong mộ luôn có những cạm bẫy được thiết kế ra, lúc nào cũng rình rập, đe dọa mạng sống của kẻ nào dám vào phá hủy sự kính trọng thiêng liêng ấy. Lời nói của bé Nhạn lúc mới nhìn thấy ngôi mộ ông Táo này, chính là một lời cảnh báo không hề dư thừa chút nào.

Trong khoảnh khắc bọn tôi tiến vào, đã nghe thấy phía trên đầu có tiếng lẹt xẹt, ngẩn lên mà thấy mồ hôi hột rớt ra lộp độp. Bên trên đó, theo ánh đèn, đuốc rọi vào, rơi xuống vô số vật lạ, nhìn như con quay, ngọn hình xoắn ốc nhọn hoắc, trên thân của con quay ấy gắn hai lá thép, gặp lực tương tác của mặt đất hất lên khiến hai lá thép ấy cứ quay vù vù, làm ngọn con quay cứ xoay vòng, cắm thẳng xuống theo đà rơi tự do, những con quay cứ rơi mỗi lúc một nhiều như mưa. Nếu người nào không may bị những con quay này rơi trúng, sẽ bị xoáy vỡ đầu, thủng óc mất. Tôi nhìn mà thầm kinh hãi vội xòe Huyền Thiết Tản che thượng đỉnh mình, rồi vội hét toán lên:

- Coi chừng!... Có cơ quan... rút lui... rút lui lẹ...!

Cả bọn cũng nháo nhác, thất kinh tâm phế, la ó om xòm, thụt lùi lại phía sau, nhưng đã quá muộn. Từ chỗ cánh cửa dẫn vào ngôi mộ vào đến tận bên trong, chỗ nào cũng rơi xuống những con quay thép chết người kia. Lão Hòa tháo vội ba lô đang đeo trên người, lập tức dùng ba lô ấy làm khiên che đầu, rồi lui ra. Mọi người cũng nhanh chóng làm theo, vội vội vàng vàng tháo lui ra cánh cửa. Ra đến cửa, tôi thấy trên bao lô của cả bọn đều dính đầy con quay thép lợi hại, tháo một cái ra xem, tôi ngỡ ngàng nhận ra, đây là một loại cơ quan bậc nhất của một người vô cùng nổi tiếng của nước Lỗ, thời Chiến Quốc là Lỗ Ban nghĩ ra, loại ám khí phóng ra từ cơ quan bọn tôi gặp phải có tên là "Con Quay Lá Liễu" mà vị thầy mù từng nói với tôi, cơ quan này được thiết kế rất công phu và vô cùng lợi hại, chúng được treo từng đám trên trần nhà, khi ai đó vô tình làm cho chốt lẫy khởi động, chúng được phóng rơi xuống, với thiết kế ngọn là hình xoắn ốc nên tốc độ rơi nhanh hơn, quay tít, với hai lá thép trên thân con quay ấy vô cùng sắc bén, sẽ gây ra một lực sát thương kinh khiếp. Dân trong nghề đào mộ một khi gặp phải cơ quan này đều sợ đến nổ tim, vỡ mật.

Bọn tôi nhờ Huyền Thiết Tản, và mấy cái ba lô, không thì đã trở thành những cái xác không hồn rồi. Lần đầu vào ngôi mộ này đã gặp ngay những việc hung hiểm khôn lường, tôi nhủ thầm: "Mộ ông Táo quả nhiên lợi hại thật!" Khi đã biết được loại cơ quan đó là gì, trong đầu tôi đã nghĩ ra được cách đối phó, nhưng với một mình tôi thì dễ, còn với mọi người thì thật là một vấn đề nan giải. Tôi nói với mọi người:

- Để tôi vào phá cơ quan này, mọi người ở ngoài chờ tôi, đừng tự ý dô trong, khi tôi chưa trở ra. Phải cẩn thận, coi chừng có bẫy khác!

Nói xong, tôi giương Huyền Thiết Tản, rướn người bước vào trong cánh cửa dẫn vào ngôi mộ. Vừa bước vào, đã thấy cơn mưa con quay rơi xuống như trút, tiếng va đập giữa con quay thép và Huyền Thiết Tản vang lên không ngớt. Để ý kỹ, phía bên dưới, trên nền đất có rất nhiều sợi tơ mảnh, sợi tơ bền chắc vô cùng, dường như những sợi tơ này đều được kéo ra từ thép, chính xác đó là những sợi dây bằng thép luyện được kéo căn, đặt gần sát mặt đất, nếu ai đó vô tình giẫm phải sẽ kích động sợi dây thép này, làm kéo căn dây cót giấu trong trần, dây cót sẽ lên hết cỡ, sau đó làm bắn ra vô số "Con Quay Lá Liễu" sát thương ai xâm nhập vào ngôi mộ kỳ dị có một không hai này. Quả đúng là ông tổ của cơ quan, hàng ngàn năm trước Lỗ Ban quả nhiên đã nghĩ và thiết kế được loại bẫy này với tính năng sát thương tàn độc, lợi hại khôn lường. Nếu tôi không có cây dù thép thì cho dù võ giỏi đến đâu cũng không thể thoát khỏi đám con quay đang rơi ào ạt xuống đầu mình.

Xoay cây dù thép, quét một vòng trên đầu, gạt những con quay ra, tôi rút ngay Khai Sơn Kiếm chém một đường xuống đất, rồi mượn lực, phóng mình lên cao, quét cây dù một vòng nữa. Những dây thép phát động cơ quan đã đứt hơn mười mấy sợi, những chỗ bị đứt thì bên trên con quay cũng không rớt xuống nữa, nhưng trước mặt vẫn còn từng đám, từng đám con quay đang không ngừng rơi xuống. Tôi vung thanh đoản kiếm chém thêm vài chục nhát, những dây thép đã dứt tung, những đám con quay còn lại khi rơi hết đám cuối cùng trước khi dây thép bị chém đứt, cũng ngưng lại không rơi tiếp nữa. Tôi mừng thầm cất bước, không ngờ trước mắt tôi lại có một cơ quan khác còn lợi hại hơn rất nhiều.

Mới bước lên trước vài bước, đã thấy trước mặt chuyển động, có cả chục tấm bia đá cao hơn đầu người không ngừng rung chuyển, rồi từ từ xoay lại. Phía sau những bia đá xuất hiện một đám tượng đá, khoảng hơn hai mươi tượng, hình thù kỳ lạ, nửa giống người, nửa giống khỉ, tay cầm lao sắt dài bén nhọn, đôi mắt vô hồn ngó tôi trừng trừng, dưới chân những tượng đá có gắn sợi dây xích lớn, to như ngón chân cái. Xích sắt rung lên leng keng, những tượng đá cũng bắt đầu cử động, chúng bước lên, dùng lao nhọn tấn công tôi, có vài con quái thạch còn nhắm vào tôi mà phóng những ngọn lao vun vút. Nói thật, nếu tôi không nhanh tay, lẹ chân, e là trên người cũng bị cắm dính mấy ngọn lao. Giắt Khai Sơn Kiếm vào sau thắt lưng, đồng thời tháo khẩu AK đeo bên người xuống, kéo khóa nòng, tôi bóp cò. Những viên đạn từ nòng khẩu AK trong tay tôi tuôn ra ồ ạt, một số quái thú đá tiên phong tiến lên tấn công tôi, đều ăn đạn bị vỡ đầu, mẻ tay, gãy chân ngã đổ. Tôi lại huơ súng sang bên phải định bắn tiếp, bỗng nghe vù một tiếng, một ngọn lao bay với tốc độ xé gió bắn vút vào khẩu súng trên tay tôi, khẩu súng bị ngọn lao hất văng đi một đoạn xa, tôi bất ngờ quay sang phía ngọn lao đã phóng tới, một con quái thú đá kỳ dị với hai cái đầu đang nhe nanh nhọn nhìn tôi, dường như nó là con thú đá thủ lĩnh, nó đang tức giận vì tôi đã bắn hạ nhiều thuộc hạ của nó. Con quái thú đá này có tới bốn tay, mỗi tay đều cầm một ngọn lao nhọn, một ngọn đã phóng vào khẩu súng của tôi, ba ngọn còn lại cũng chực chờ phóng vào người tôi, trên tay không còn súng AK nữa, nhìn những ngọn lao đang hướng về mình, tôi cảm thấy sống lưng rờn rợn: "Ở đâu chui ra cả lũ quái đá này dị trời?"

Con quái đá hai đầu bốn tay đã bước lên vài bước, chuẩn bị những cú ném lao như trời giáng vào tôi. Chợt tôi ngó thấy con quái đá khựng lại không tiến lên nữa, hai sợi xích sắt gắn với hai chân, dường như đã trở thành vật cản trở khả năng tiến lên của nó. Tôi thầm mừng trong bụng, thì ra những con thú đá này dưới chân chúng đều gắn liền với những sợi xích sắt to, dây xích ấy đã kiềm hãm khả năng tấn công linh hoạt của chúng. Chân là bộ phận nâng đỡ toàn bộ cơ thể đồ sộ, to lớn dị thường của chúng, nếu chúng bước lên thêm sẽ bị những sợi dây xích này kéo đến vỡ chân mà sụp đổ xuống cả, nên chúng cũng có phần e dè khi bước lên phía trước. Giờ này tôi mới nhận ra, để phá trận pháp quái thú đá kỳ quặc này, chính là phải phá hủy chân của bọn chúng. Tôi vội rút ngay khẩu súng ngắn còn lại trên người.

Khẩu súng ngắn Glock mười tám Selet Fire, với thiết kế nhỏ gọn, hộp tiếp đạn hai mươi viên được rút ra, tôi lên đạn, rồi bắn từng phát vào chân bọn quái thú đá. Đầu tiên là con quái đá nửa người, nửa khỉ hai đầu, bốn tay, rồi lần lượt đến ba con khác, bị bắn nát chân, khụy xuống rồi vỡ ra thành những cục đá vụng. Tôi vội thay đạn rồi nã tiếp vào đám thú đá đang chuẩn bị phóng những ngọn lao bén nhọn vào tôi, tuy thân hình chúng to lớn, nhưng cử động chậm chạp, nên khi những ngọn lao chưa rời khỏi tay, chúng đã bị gãy nát đôi chân, bắt đầu đổ xuống.

Bên ngoài, khi nghe tiếng súng nổ liên hồi, bọn lão Hòa, anh Bình, Huỳnh Hiển, Kim Đầu và bé Nhạn cũng mặc kệ hiểm nguy xông vào trợ chiến. Cuối cùng đám quái thú bằng đá đã bị hạ nốc ao toàn bộ, để lại trên nền đất là một đống đá vụng lục cục lòn hòn, bụi bay tứ tán, không khí càng thêm ngột ngạt trong lòng ngôi mộ tăm tối. Anh Bình nhìn tôi:

- Để chú dô một mình, bọn anh hông yên tâm, chúng ta là một nhóm Thiên Tông Khách, sống chết gì cũng phải ở cùng nhau!

Tôi gật đầu, bé Nhạn khẽ nở nụ cười nhìn bọn tôi. Xung quanh gian phòng chúng tôi bước vào đã trở lại vẻ im ắng, mịt mù vốn có, trơ ra trước mắt là những tấm bia đá cao hơn đầu người. Đi qua những tấm bia ấy, bọn tôi thấy có một khung cửa nữa, khung cửa này là cửa thép cứng rắn, lạnh ngắt, tỏa ra một luồn hàn khí băng giá, chạm tay vào, cơ thể dường như sẽ bị đóng băng ngay lập tức. Bên trên khung cửa thép ấy dán một tấm vải vàng, vẽ ngoằn nghoèo chữ đỏ, đây đích thực là Bùa Lỗ Ban không sai được. Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy lá bùa dán trên khung cửa thép kia, bên trong là gì? Sao phải yểm Bùa Lỗ Ban?

Nghĩ nát cả óc vẫn không có câu trả lời thỏa đáng, tôi bặm môi:

- Dô!

Lão Hòa lấy dá nạy cửa, nhưng cánh cửa chẳng nhúc nhích. Kim Đầu, tôi và anh Bình cũng bước đến trợ lực, cắn răn, cắn lợi lấy dá, thuổng nạy cửa, mà cánh cửa ấy chỉ hé ra khoảng hai tấc, Hiển Thủy Tề đặt một khẩu súng lấy được từ phòng quân dụng trước đó để vào cánh cửa, rồi cùng bọn tôi đẩy rộng thêm cánh cửa ra. Một luồn gió âm lạnh thốc vào mặt cả bọn, kèm theo một mùi hôi thối bốc ra khi cánh cửa được mở rộng. Tôi giật mình, lôi cả bọn trở lại, cánh cửa thép liền đóng lại, nhưng đã bị khẩu súng của Hiển Thủy Tề chặn lại, tuy khẩu súng quằn lại, nòng bị uốn cong, nhưng cơ bản vẫn giữ được cho cánh cửa thép nặng trịch ấy không đóng lại hoàn toàn. Một tiếng gào vang lên từ bên kia của cánh cửa thép. Tôi thoáng nhìn thấy, bên kia cánh cửa thép là một hình hài của con người, nhưng đầu tóc rũ rượi, quần áo cáu bẩn, rách nát đang tiến vào khe hở của cánh cửa, năm móng tay bén nhọn như vuốt sắt vịnh vào thành cửa thép, soi đèn nhìn kỹ, bọn tôi hoảng hồn nhận ra, đây là một quái nhân, tóc tai bù xù, cơ thể hôi thối bốc mùi như xác chết, đây hoàn toàn là một cái thây người đã chết rất lâu và đã có hiện tượng quái dị xảy ra, nó đã thành cương thi rồi!

Khi năm móng tay vịnh vào cánh cửa thép, một đầu tóc xác xơ rối mù thò ra, để lộ một khuôn mặt xám ngắt, hốc hác, hai hàm răng nhọn hoắc nhe ra. Anh Bình hét lên:

- Trời đất ơi…! Ma cà tưng...!

Hét xong, lùi lại phía sau. Tôi trố mắt ra nhìn kỹ, phía sau cái đầu tóc bù xù là một thân hình gầy gò, mặc quần áo đã bạc màu, rách bươm tơi tả, chân không mang giầy dép, bước chầm chậm ra, tiến về bọn tôi, gầm gừ như cọp thấy mồi. Cả bọn rùng mình lùi lại, Kim Đầu lập tức ném cây đuốc đang cầm trên tay vào gã quái nhân đang bước dần đến. Quái nhân phản ứng chậm chạp, nên khi bị cây đuốc ném vào, quần áo lập tức bắt lửa cháy phừng phựt, quái nhân vùng vẫy, gầm lên như heo bị thọc huyết, lao bổ vào bọn tôi. Bọn tôi cũng hốt hoảng dạt ra hai bên, chỉ còn Kim Đầu vẫn đứng bất động. Cái thây quái nhân lao đến, dường như sắp chạm vào người Kim Đầu, thấy Kim Đầu không tránh né, đoán chừng sẽ cùng cái thây ấy cháy chung một ngọn lửa, tôi thầm nghĩ: "Nguy to rồi!" Định chạy đến lôi Kim Đầu ra, Kim Đầu bình tĩnh, nhìn cái thây lao đến, trong tay cầm sẵn trái lựu đạn đã rút chốt từ đời nào, rồi nhanh như chớp, cúi xuống, vươn tay lên, nhét luôn quả lựu đạn ấy vào miệng cái thây quái nhân, rồi phi người phóng ra một bên. Bọn tôi trông thấy, vội nằm xuống ngay. Một tiếng nổ chát chúa lại vang lên dữ dội, cái thây quái nhân đã nát ra thành ngàn mảnh. Mặt đất rung chuyển dữ dội một lúc, khi đã im ắng lại, bọn tôi đứng lên, thì lại nghe tiếng gào rú phát ra từ phía bên kia cánh cửa thép.

Nghe tiếng gào kinh khiếp, tôi đoán được rằng, bên kia cánh cửa thép có dán Bùa Lỗ Ban ấy, vẫn còn ít nhất một hoặc nhiều hơn nữa lũ cương thi kinh tởm. Tôi lao đến bên khẩu súng AK bị đánh rơi lúc nãy, xách lên nhắm vào cánh cửa phát ra những tiếng gào ghê gợn. Một khuôn mặt quái nhân nữa bước ra, tôi đã không chần chừ, bóp cò, khóa an toàn của khẩu AK trong tay tôi đã bật nấc liên thanh, nên đạn trong nòng ồ ạt tuôn ra, xối thẳng vào thân hình gã quái nhân gớm ghiếc. Những loạt đạn của tôi tuy đã trúng mục tiêu, đạn đã găm vào cơ thể của gã quái nhân, nhưng tất cả đều vô hiệu một cách triệt để, gã quái nhân vẫn bước tới, không chút hề hấn. Kim Đầu nói với cả bọn:

- Đạn chẳng làm gì được nó đâu! Lấy lửa đốt nó! Lấy lửa...!

Bé Nhạn tuy là thân "nhi nữ" nhưng mức độ gan dạ có lẽ ăn đứt bọn tôi, vội lao đến, dí ngọn lửa của cây đuốc đang cầm vào gã quái nhân đang vùng lên như kẻ điên loạn. Gã quái nhân chỉ chực lao lên hòng chộp vào người bé Nhạn, nào để ý đến ngọn lửa trên cây đuốc trong tay cô nàng. Ngọn lửa ngay lập tức chạm vào bộ quần áo rách nát của gã quái nhân bốc lên ngùn ngụt. Gã quái nhân kêu gào thảm thiết, vùng vẫy chân tay loạn xạ, bọn tôi chưa kịp phản ứng, đang trố mắt nhìn thì trong cánh cửa thép đã có thêm một khuôn mặt hốc hác quái dị, đầu tóc rối bù thò ra. Một cơn gió lạnh toát kéo theo bụi bay mù mịt thổi thốc vào mặt cả bọn, làm ai nấy đều tối tăm mắt mũi. Một bóng đen vụt lao tới trước mặt tôi. Theo phản xạ, tôi thụt lùi, cúi người thủ thế, đề phòng mọi biến cố có thể xảy ra. Bóng đen ấy chẳng phải là gì xa lạ, chính là cái gã quái nhân thứ ba mới thò đầu ra sau cánh cửa thép mà bọn tôi mới vừa nhìn thấy, với bộ dạng gớm ghiếc, rách rưới, rũ rượi đang lao vun vút về phía tôi. Tôi huơ cây đuốc đang cầm, nhằm vào gã quái nhân, nhưng gã đã nhanh như cắt gạt ra bằng đôi tay xương xẩu, mười móng tay bén nhọn xòe ra, chỉa thẳng vào tôi, tôi kinh ngạc lui thêm một bước. Đây rõ ràng là một cái xác đã biến chuyển thành một cỗ cương thi, nhưng cỗ cương thi này hoạt động linh hoạt, nhanh nhẹn, dũng mãnh như một con cọp đang đói mồi, khác xa hai cỗ cương thi trước. Tốc độ của nó cũng thật kinh nhân, đang lao vào tôi như muốn moi gan móc ruột, ăn tươi nuốt sống tôi. Tôi không thiết nghĩ đến những gì đang diễn ra, vừa lùi lại, tôi vừa giương Huyền Thiết Tản chắn trước người, một lực va chạm mạnh kinh khủng khiến tôi lui lại hai bước nữa. Nếu như Huyền Thiết Tản không phải là kỳ binh lợi khí thì e tôi đã bị cỗ cương thi này thọc huyết, xé thây ra mà chết tốt không kịp kêu một tiếng. Cỗ cương thi vẫn không ngừng lao lên hòng xé được thân tôi. Hai bàn tay tôi sau khi va chạm cực mạnh với cỗ cương thi đã tê buốt, đau nhói cả lên, tôi chỉ còn cách cầm chắc cây dù thép mà chống đỡ được lúc nào hay lúc ấy. Đến bây giờ tôi đã hiểu vì sao trên cánh cửa thép lại dán lá Bùa Lỗ Ban. Cả bọn thấy tôi bị cỗ cương thi quần cho lên bờ xuống ruộng, cũng hò hét định giơ súng bắn, anh Bình vội can ngăn, vừa can vừa hét toán lên:

- Ê...! Ê...! Coi chừng nã dính thằng Tôn, đừng có bắn! Đừng có bắn!...

Kim Đầu và cả bọn cũng đồng tình, gác súng lại, rồi rút trong người ra mấy lưỡi dao găm M chín, đồng thời lao vào trợ chiến. Tôi lại bị cái cỗ cương thi chết tiệt ấy húc thêm một cú như bị Thiên Lôi giáng búa, lùi lại đến mấy bước xém chút là bật ngửa ra sau. Lão Hòa vung cây dá thép đập vào cỗ cương thi, nhưng chỉ nghe mấy tiếng boong boong, cái thây thối tha kia vẫn không hề hấn gì, dường như nó đã trở thành mình đồng da sắt. Anh Bình, Hiển Thủy Tề cũng đã lao lên, dùng một tay ôm cái xác, tay còn lại vung lên đâm ngọn dao găm M chín vào cái xác quái đản liên tiếp, nhưng tất cả chỉ làm cho nó thêm điên lên, vung ngang đôi tay một cái, nó đã hất văng tất cả ra xa. Tôi cũng được dịp rảnh tay, vội rút ngay thanh đoản kiếm Khai Sơn, lao bổ vào cái thây chết xình kia:

- Tao sẽ ăn thua đủ dí mầy...!

Khai Sơn Kiếm đúng là một thanh kiếm thần kỳ, ngoài Huyền Thiết Tản, nó chắc chắn là khắc tinh của tất cả thứ gì cứng rắn nhất. Nhát đâm đầu tiên đã cắm phập vào ngực của cỗ cương thi, có lẽ đã đâm ngập vào tim, nhưng đây đã là một xác chết, mà còn là xác chết bị thi biến, nên cho dù có moi tim nó ra, cũng chẳng ăn thua gì. Cái xác chết gớm ghiếc ấy vung hai tay lên chộp ngay tôi, mười móng tay cứng nhọn như vuốt sắt đưa ra sắp bấu ngay cổ áo tôi, tôi kinh hãi, toát mồ hôi lạnh, nếu bị mười móng tay này bấu dính, e rằng không năm thì bảy tiếng đồng hồ, tôi cũng sẽ tương tự như cái thây rách nát này, trở thành một con cương thi xình ôi, bốc mùi, gây họa cho con người. Tôi rùng mình, xoay tay, "xoẹt" một tiếng, tôi lia lưỡi đoản kiếm, chém đứt phăng đôi tay gầy gò, xương xẩu của cỗ cương thi, đồng thời đạp mạnh vào thân cỗ cương thi, mượn lực lộn ngược ra ngoài, vừa tiếp đất, tôi đã phóng lên tung liên tiếp ba cú đá trong chiêu "lăng không liên hoàn tam tuyệt thoái" vào bụng, ngực và đầu cái cỗ cương thi kia. Cỗ cương thi lùi lại hai ba bước rồi lại vung đôi cánh tay cụt tấn công tiếp.

Lão Hòa đã đứng lên, vung cây dá thép quét trúng hông cái xác, nhưng nó không dừng lại mà quay ngay sang lão Hòa, nhào bổ vào lão, Kim Đầu cúi thấp người dùng toàn bộ trọng tâm cơ thể húc mạnh vào cái xác khiến nó ngã bỗ nhào sang một bên, nhưng ngay lập tức nó lại bật dậy, anh Bình cũng lao lên xô cái xác lần nữa, khiến nó xiêu qua một bên, bé Nhạn không chần chừ liền nhặt cây đuốc lúc nãy dí vào cái xác thứ hai lên, ném vào cái xác lợi hại trước mặt, nhưng nó nhanh chóng né sang một bên, khiến cây đuốc bay chệch hướng văng vào thành tường. Cái xác đã lao bổ vào cô nàng, tôi lập tức phóng tới xòe Huyền Thiết Tản chắn trước bé Nhạn. Tôi và bé Nhạn bị húc một cú văng bật ra phía sau, đang lồm cồm bò dậy, cái xác đã lao ngay đến trước mặt.
 
Last edited:

Lăng Du Thiên Khách

Nguyên Anh Sơ Kỳ
Ngọc
50
Tu vi
228
LY KỲ DỊ SỰ KÝ
(Tiếp theo)

Tác giả:
Lăng Du Thiên Khách

Chương IX:
BA QUAN TÀI TRỐNG

Thấy cái xác cứ ùn ùn lao đến, nếu không mau chóng giải quyết gọn cái thứ quỷ quái này, e là hai người bọn tôi bị nó húc riết cũng toi mạng. Tôi mau chóng giao Huyền Thiết Tản cho bé Nhạn cầm thủ thế, tay cầm Khai Sơn Kiếm, lộn một vòng dưới đất, phạt ngang thanh đoản kiếm vào chân cái xác đang trên đà lao đến. Thanh đoản kiếm ngay lập tức đã tiện đứt hai ống chân cái gã quái nhân gớm ghiếc, đang trên đà lao tới, nó đổ người xuống cắm hai ống xương tay vào Huyền Thiết Tản nghe "két" một tiếng, Huyền Thiết Tản được bé Nhạn xoay một vòng hắt cái xác sang một bên, bé Nhạn cũng nhanh chóng lùi sang bên ngược lại. Hai ống tay xương trắng ởn của cái xác đã cắm lút luôn vào nền gạch trong đoạn đường hầm của ngôi mộ. Hiển Thủy Tề trông thấy tình huống đó, đã lao nhanh đến dí ngay ngọn lửa trên cây đuốc đang cầm trong tay vào lưng cái gã quái nhân cũng là cái cỗ cương thi đầy ma quái, một ngọn đuốc khác cũng bay tới vù vù, phóng ngay vào cái xác, nhìn lại thì ra ngọn đuốc ấy bay tới từ tay Kim Đầu. Cái xác lồng lên vùng vẫy, kêu gào kinh khiếp, anh Bình chọi thêm một ngọn đuốc nữa, ngọn lửa trên mình cái xác cứ thế bốc lên ngùn ngụt, cái xác tuy vùng vẫy, nhưng cơ bản không thể rút tay ra khỏi nền gạch, nên cứ giẫy nẫy không sao đứng lên được, không bao lâu đã biến thành tro than, trở về với cát bụi.

Tôi bước tới nâng bé Nhạn dậy, rồi đứng ngây ra nhìn ngọn lửa đang thiêu rụi cái xác ma quái kia, ngọn lửa như làm vơi đi bao nhiêu mệt nhọc trong cuộc tử chiến vừa rồi. Vẫn tiếp tục, đi qua ô cửa - Nơi đã phát xuất ba cỗ cương thi quái dị. Trước mắt đã tối om, vì tất cả đuốc số bị rơi tắt, số đã sử dụng để xóa sổ ba cỗ cương thi kia, đèn pin cũng đã không còn. Bây giờ ánh sáng còn lại chỉ có thể là cây đèn pin trong ba lô của tôi. Tôi moi đèn pin ra, bật công tắc, trước mắt cũng chỉ sáng hơn đôi chút, vì bọn tôi đang ở sâu tận bên trong ngôi mộ hiếm có. Nhờ chút ánh sáng đèn pin đó mà trước mắt bất chợt hiện ra ba vật to, dài, hình khối chữ nhật, nhìn kỹ lại đây là ba cỗ quan tài, sếp nằm theo hình tam giác đều, nối liền ba cỗ quan tài này là ba cây cột cũng hình tam giác dựng đứng chống lên trần nhà. Ba cỗ quan tài nhìn qua đã biết là được làm từ gỗ Hoàng Dương.

Gỗ Hoàng Dương là loại gỗ rất hiếm gặp, tuy phổ biến ở một số quốc gia như: Nam Mỹ, Pháp, Indonesia, Malaisia, thậm chí có ở Việt Nam, nhưng loại cây này phát triển rất chậm, mất độ sáu, bảy trăm năm mới chỉ có đường kính thân cây khoảng ba tấc, cao không quá mười thước. Như vậy, nếu nói ba cỗ quan tài này làm từ gỗ Hoàng Dương thì e là phải mất mấy chục ngàn năm, thậm chí mấy trăm ngàn năm thì mới có thể tạo ra được những khối gỗ để tạo thành ba cỗ quan tài này, nhưng đây chắc chắn là ba cỗ quan tài được làm hoàn toàn bằng những khối gỗ Hoàng Dương không sai vào đâu được. Bởi gỗ Hoàng Dương cơ bản vốn mịn, chắc, bóng loáng, thường thường loại gỗ này được mấy người giàu có mua về rồi cho thợ gia công làm đồ mỹ nghệ và lược chải đầu. Nếu nói để làm quan tài, chắc chủ nhân phải thật là có địa vị, quyền thế lắm mới tìm hoặc mua được nguyên khối to đến vậy. Phải biết để có được ba cỗ quan tài như thế này phải mất cả ngàn vạn năm, rồi qua gọt giũa, chế tác mới thành, đúng là "mộ ông Táo" chỉ để cho những hàng chủ nhân “cao cấp” mới có thừa khả năng yên giấc trong những nơi hầm mộ kiên cố, cơ quan trùng trùng, quan tài sang trọng như thế, thi thể đặt vào loại quan tài này, cho dù ngàn vạn năm cũng không thối rửa được.

Ba chiếc quan tài Hoàng Dương này được trạm trỗ cầu kỳ, hoa mỹ không thể tả, nào mây nước, hoa cỏ đủ loại, lại có cả Loan, Phượng, Kỳ Lân, Ưng, Hổ, Ngư, Long sinh động, ba cỗ quan tài có thể nói là giá trị liên thành, có cầu cũng khó gặp. Nay lại sờ sờ ngay trước mắt bọn tôi, đúng là hiếm khi trông thấy. Nhưng nếu như tiến đến ba cỗ quan tài này mà không phòng bị, lỡ như có cơ quan, ám khí, trùng độc, khói độc hay gì gì đó làm tổn thương nhân mạng thì bọn tôi nào xứng đáng với danh hiệu "nghệ nhân xới mả Thiên Tông Khách". Tôi đưa mắt ra hiệu, rồi giương Huyền Thiết Tản ra che chắn, cả bọn cùng bước sau tôi, tiến dần lên phía ba cỗ quan tài Hoàng Dương. Lão Hòa rón rén đi phía sau lưng tôi, cả bọn ngay cả thở cũng không dám thở mạnh, bước từng bước cẩn thận tiến về phía trước. Kim Đầu đi sau cùng, tay phải cầm chắc khẩu stG bốn bốn, tay còn lại lăm lăm lưỡi M chín, phòng biến cố. Còn cách ba cỗ quan tài chừng hai, ba tấc, tôi dừng lại, lão Hòa đã đưa lưỡi dá thép khẽ chạm vào rãnh tiếp giáp giữa nắp áo quan với quan tài. Thấy không có gì xảy ra, lão lại cắm cho lưỡi dá vào sâu hơn khe rãnh, rồi hít một hơi, đè mạnh thân dá xuống, nạy bung nắp quan tài gần nhất. Chiếc nắp áo quan không hề nhẹ, nhưng do lưỡi dá cứng chắc, cộng thêm tác động theo kiểu đòn bẩy trong vật lý, nên bị nạy bung văng mạnh ra khỏi quan tài, rơi xuống đất đánh rầm. Lão Hòa nhanh chóng rút dá ra, rồi nép vào sau lưng tôi, Kim Đầu đã hướng nòng súng vào miệng chiếc quan tài, nếu có bất kể thứ phải gió nào phóng ra, hắn sẽ lập tức bóp cò, bắn trước tính sau. Tôi che Huyền Thiết Tản trước mặt, chờ khoảng chục giây trôi qua vẫn thấy im lìm sau tiếng "rầm" của nắp áo quan rơi lúc nãy. Tôi hồi hộp, nhưng cũng chắc mười mươi là chẳng có cóc khô gì bay ra từ cỗ áo quan Hoàng Dương, nếu có, Kim Đầu đã cho nó ngậm kẹo đồng rồi. Từ từ hạ vành thép của Huyền Thiết Tản, tôi nhướng mắt nhìn, yên trí là không vấn đề gì. Tôi tiếp tục rướn người nhìn vào trong cỗ quan tài, ngạc nhiên và sững sờ khi phát hiện ra một điều cổ quái nhất mà tôi từng trông thấy, khi tận mắt nhìn vào trong cỗ quan tài đã bị nạy bung nắp.

Trong cỗ quan tài này, ngoài năm tấm ván Hoàng Dương vừa dày, vừa nặng ghép lại thành áo quan ra, thì chẳng còn thứ gì khác, trống hoác trống huơ, chẳng có lấy một hạt cát, tôi kinh ngạc đến mức mắt mở to trừng trừng nhìn vào trong, quái lạ thật, chủ nhân của quan tài này là ai? Bây giờ đã ở đâu? Đã phóng ra ngoài rồi sao? Hay chưa kịp cho thi thể vào quan mà người ta đã đậy nắp quan, rồi vội vã khóa cửa căn phòng này? Chẳng lẽ nơi đây đã xảy ra chuyện gì đến nỗi, chưa kịp cho thi hài vào quan đã bỏ đi?... Bao nhiêu suy nghĩ cứ vẩn vơ trong đầu như tơ rối, không sao tìm ra nút thắt để sở ra những câu trả lời cho các câu hỏi cứ xoay chuyển ấy.

Thấy tôi đứng yên bất động, ngó chằm chằm vào áo quan, lão Hòa tưởng tôi trúng phải gì đó, bèn moi cái nanh heo rừng khắc hình Quan Âm ra, chọt chọt vào cổ tôi. Tôi giật mình, quay người lại làm lão Hòa cũng giật thót nhảy lui về sau, khiến cả bọn phía sau cũng ngã bổ ngửa. Tôi nói:

- Chú làm cái gì dị, chú Hòa?

Lão Hòa ngồi dậy, nhìn tôi ngơ ngác:

- Dơ! Thây nin thin, tương ma nhạp! (Thấy nín thin, tưởng ma nhập)

Tôi thở dài:

- Hây dà! Giỡn chơi quài (hoài), làm như ma dễ nhập con lắm dị! Trong cái hàng này hổng có cái gì hết trơn...!

Nói tới đó, tôi bất chợt rùn mình, một suy nghĩ lóe lên trong não: "Lẽ nào cái thây ma nằm trong quan tài đã bay ra, rình mò đâu đó, đợi bọn tôi sơ ý, lo quan sát cái áo quan trống không, mà nhảy ra vồ cả bọn." Tôi bước vội ra rọi đèn pin, nhìn khắp chung quanh căn phòng, nhưng chả thấy có cái gì khác ngoài bốn bức vách bằng đá khối xếp lên đen xì và cánh cửa thép nặng ngàn cân đang bị cây súng cũ chặn lại.

Tôi thở phào quay lại nhìn, lúc này những người còn lại ai nấy cũng đã tiến đến sát cỗ quan thứ nhất, đưa mắt nhìn vào, vẻ thất vọng của họ hiện ra trên nét mặt khi thấy cỗ quan tài bằng gỗ Hoàng Dương không có gì, chỉ là chiếc quan tài trống. Ngay cả Kim Đầu - Kẻ từng vào sống ra chết, kinh nghiệm đầy mình, ngay cả bé Nhạn - Hậu nhân của Thiên Tông Khách chính thống, cũng chẳng hiểu đầu cua tai nheo chuyện này là thế nào? Lão Hòa nháy mắt với tôi, ý lão muốn nạy tiếp hai cỗ quan tài còn lại.

Thấy tôi gật đầu, lão Hòa liền kê lưỡi dá vào rãnh của áo quan thứ hai, lại bẩy một lần nữa, nắp áo quan văng ra khỏi quan ngay sau cú bẩy đó, lại một tiếng "rầm". Tôi trố mắt nhìn, thật lạ đời, chiếc quan này cũng y như chiếc quan trước, chẳng có thứ gì bên trong, ngay cả bụi cũng không có, chẳng lẽ ba cỗ quan tài này là của ba gã quái nhân? Nhưng khi ba các xác kia phóng ra lại tự biết đậy lại nắp áo quan hay sao? Chuyện này vô cùng quái lạ, nghĩ nát cả óc cũng không tài nào giải thích nổi chuyện gì đã xảy ra. Lão Hòa không còn kiên nhẫn được nữa, đặt lưỡi dá thép vào rãnh nắp áo quan thứ ba cuối cùng, lại dùng lực, lại bẩy, nắp quan lại mở bung ra, nhưng lần này không còn nghe được tiếng "rầm" rơi xuống như hai lần trước.

Cái nắp áo quan thứ ba này, tuy bung ra, nhưng dường như nó đã dính liền với áo quan, nhìn kỹ lại, nó được nối liền với áo quan bằng cái gì đó giống như kiểu bản lề của mọi cánh cửa, bên trong quan tài cuối cùng này, cũng chẳng có gì, trống trơn không một vết bụi. Bây giờ tôi đã hiểu, ba cái thây ma gào rú, tấn công bọn tôi chính xác là đã nằm trong chính ba cỗ quan tài bằng gỗ Hoàng Dương này, có lẽ con đã ra khỏi áo quan thứ ba đã giở nắp quan cho hai con còn lại, rồi cho hai con kia tấn công bọn tôi trước, nó đã ở lại, sau khi giở nắp áo quan lên, nó nhẹ nhàng hạ nắp đậy kín những áo quan này lại, rồi ra tấn công sau cùng. Ba cỗ cương thi kia quả thật sức mạnh khủng khiếp, nếu không có cây dá thép bền chắc, cứng rắn của lão Hòa thì cho dù bọn tôi có cố đến mấy cũng chưa chắc mở được nắp áo quan.

Quan sát lần nữa chẳng có gì trong ba áo quan trống, xung quanh cũng chẳng thấy có của cải gì đáng giá, bọn tôi đành phải quay trở ra, tìm đường quay về. Ra đến chỗ con chồn to nằm chết, lúc này đã không thấy bóng dáng nó đâu nữa, thật quái đản, lúc bọn tôi chiến đấu sống còn với ba cỗ thây ma, cái xác nó vẫn còn nằm yên chỗ cũ, bây giờ lại biến mất, chuyện này hết sức lạ lùng. Tôi nói với mọi người:

- Có chuyện gì đó hông ổn! Cái thây con chồn già bị con gì tha mất tiu rồi, mọi người cẩn thận ngen!

Nghe tôi nói, cả bọn giương cao tinh thần phòng bị, vũ khí đã lăm lăm trong tay, bất chợt nghe một tiếng "ngào...ò...ò..." phát ra từ trong bóng tối trước mặt. Ánh sáng cây đèn pin trong tay tôi không thể soi tới đó, cả bọn khựng lại, ngây người chăm chú nhìn về khoảng tối đó, trong bóng tối bỗng xuất hiện hai đôi mắt màu xanh lè, một đôi lớn, một đôi nhỏ, dần dần tiến về phía bọn tôi. Khi đôi mắt xanh lớn tiến đến vùng ánh sáng của cây đèn pin rọi tới, cả bọn đã nhận ra đôi mắt quái đản ấy nằm trên gương mặt của một con mèo cũng to lớn lạ thường.

Cái mặt mèo ấy không có phải là cái khỉ khô gì xa lạ, chính là khuôn mặt của con chồn già to lớn lúc đầu đã bị bọn tôi bắn chết. Nhưng giờ đây, mắt nó lại mở trừng trừng, tiến dần về bọn tôi. Lạ ở chỗ, nó đã đứng lên bằng hai chân, y như con người, hai chân trước của nó co lên trước ngực, bước từng bước về phía bọn tôi. Con chồn già này lông lá vằn vện to lớn dị thường, nếu lúc đầu không trông thấy lũ chồn con, bọn tôi sẽ ngờ rằng đó là một con cọp nữa, bây giờ nó đang đi bằng hai chân sau như người, hai chân trước của nó co lên, bước từng bước vô thức về phía trước như xác chết, mà vốn dĩ nó đã trở thành xác chết, nhưng… Xác chết này biết đi.

Phía sau con chồn to là một con chồn nhỏ hơn rất nhiều, cổ nó có đeo một cái vòng màu bạc sáng lấp lánh, con chồn nhỏ này dường như là một diễn viên múa rối đang điều khiển con chồn to lớn. Nhìn kỹ một chút, sẽ thấy con chồn nhỏ này, lông có ba màu vàng sậm, trắng và đen, khi nó mở miệng kêu sẽ thấy rõ hàm trên của nó có hai cây răng dài và nhọn hơn những cây răng khác, rõ ràng là nó đã mọc nanh rồi, chân của nó khi bước đi trên nền gạch đều để lại dấu chân ươn ướt như vừa lội nước mới lên. Theo hiểu biết của tôi thì đây chính xác là con Linh Miêu, là một giống được lai tạo từ mèo nhà với loài chồn, loài Linh Miêu này có khả năng thôi miên, gọi hồn người chết, ví dụ, nếu như xác chết chưa được lịm vào quan tài mà còn để nằm dưới đất, bị loài này nhảy qua xác, cái xác ấy sẽ tự dưng bật dậy vồ người. Lúc ban đầu, khi thấy lũ chồn bị cây pháo sáng làm cho giật mình bỏ chạy, Kim Đầu đã phát hiện ra con chồn nhỏ có đeo vòng bạc này, định đuổi theo bắn chết nó, không ngờ bọn tôi lại gặp phải cơ quan "Hỏa Thạch Trùng Thiên", nên không thể vượt qua những viên đá lửa bắn ra vèo vèo mà đuổi theo được, khiến nó chạy xổng mất, tưởng rằng nó bị đá lửa trong cơ quan thiêu rụi, ai dè đâu nó lại thoát được, rồi quay trở lại, khi thấy con chồn già bị bắn hạ nằm chết, nó đã nhảy qua xác con chồn già, khiến con chồn già nay đã trở một con Hồ Thi, không khác gì loại cương thi của loài người.

Con chồn già nay đã là Hồ Thi, nó tiến dần dần vô thức về phía bọn tôi, cả bọn đều biết rằng nếu để con Hồ Thi này đến gần, nó sẽ phanh thây xẻ thịt bọn tôi để báo thù. Chẳng còn nhiều tâm trí mà nghĩ ngợi, tôi giắt Huyền Thiết Tản vào ba lô, rồi rút khẩu súng AK bốn bảy, kéo khóa nòng, nhắm vào ngực con Hồ Thi. Tiếng súng vang lên, khói thuốc mịt mù, chắc chắn một điều là con Hồ Thi đã lĩnh trọn mấy phát đạn đó, nhưng khi khói thuốc súng tan đi, con Hồ Thi vẫn không ngừng bước lên trong vô thức, cũng không hề tỏ ra chút gì đau đớn hay sợ hãi. Mấy loạt súng nổ lại vang lên giòn giã, những người còn lại cũng nhất loạt bóp cò, nhưng con Hồ Thi vẫn bước tới, lúc này, nó đã bước nhanh hơn, từ hai bàn chân trước ngực nó đã thấy mười móng vuốt dài màu trắng đục vươn ra. Bọn tôi vừa bắn, vừa bỏ chạy về phía căn phòng đá có cánh cửa thép kiên cố, nơi đặt ba cỗ quan tài trống, phía sau lưng là con Linh Miêu và con Hồ Thi đầy quỷ mị đuổi theo rất gấp.

Con Hồ Thi chẳng kể gì súng đạn bắn tới, khi bước gần đến chỗ bọn tôi đứng tầm bốn, năm thước, nó chợt khụy hai chân sau, rồi lấy đà phóng thẳng vào cả đám người chúng tôi, mười móng vuốt cũng tua tủa vươn ra bủa vây. Mọi người có thể tưởng tượng, một con hổ to, thân thể lực lưỡng như một con bò mộng lao bổ vồ về phía mình, sức mạnh đó khủng khiếp thế nào? Nếu không tránh né để nó vồ phải, không tan xương, thì cũng phải nát thịt, bên ngoài con chồn nhỏ đang lim dim đôi con mắt xanh màu lá cây, chăm chú quan sát diễn biến. Đúng là trong ngôi mộ ông Táo này, chuyện kỳ quái gì cũng có: Thứ nhất, người thiết kế cơ quan trong này là ai? Tại sao lại nghĩ ra được những cơ quan này, rồi tính toán chính xác từng li, từng tí, khi nào có người lạ xâm nhập? Khi nào cơ quan phát động? Đá lửa bắn thế nào? Nhựa cây sẽ chảy ra và bắt lửa ra sao? Khi đá lửa bắn chạm vào cơ quan rồi lại phát động tiếp ra sao? Quái thú đá hoạt động bởi cái gì? Tại sao cho nó tấn công, lại còn xiềng chân nó? Đám con quay lá liễu kia nếu như không có Khai Sơn Kiếm, nó sẽ rơi xuống đến khi nào? Lại còn, ba cái xác đã thành cương thi, sao lại có được sự phối hợp cùng nhau, có trước có sau, lại còn biết mở nắp quan tài cho nhau nữa, chuyện này thôi đã quái lạ, chẳng biết giải thích thế nào rồi? Tiếp đến, lại nói về bố cục ba chiếc quan tài trống và ba cây cột hình tam giác nối liền ba cỗ quan tài kia, tại sao lại sắp xếp như vậy? Nay lại gặp phải cái thứ tà mị, không phải là cương thi như người ta thường kể, mà là một con chồn đã chết, nay lại biết đi như người, còn vồ người, biến thành một con Hồ Thi xưa nay không hề nghe ai nhắc tới, lại có cả con Linh Miêu quái đản đang lộ vẻ mặt đắc ý khi quan sát việc con Hồ Thi đang săn lùng, truy sát bọn tôi, đúng là chuyện này có tận mắt chứng kiến cũng chả ai tin nổi chứ đừng nói chi đến kể lại.

Trong lúc luống cuống chả biết làm sao? Thôi thì chia nhau ra tránh được đòn nào hay đòn ấy, tôi hét toáng lên:

- Coi chừng đó...!

Nghe tôi hét, một số nhảy sang phải, một số nhảy sang trái, tránh cú vồ của con Hồ Thi. Con Hồ Thi vồ hụt lập tức cũng tạt hai chân trước qua trái, tát vào bọn tôi, anh Bình hơi chậm chân, bị nó tát phải, văng luôn ra xa, không còn cựa quậy gì. Tôi thấy thế, liền nổi máu xung thiên, nhấc cây AK lên, ngón trỏ phải cứ ghì chặt vào cò súng, băng đạn chỉ còn khoảng chục viên, theo nòng súng xối cả vào đầu con Hồ Thi, nhưng chẳng thể nào ăn nhập vào nó, ngược lại càng làm nó nổi trận lôi đình, gào gú kinh khiếp, tiếng gào của nó y như tiếng mèo bị người ta đánh đập trong đêm vắng "ng...ò...à...à...à...ò...ò...o....!"

Nghe tiếng gào đó bất chợt ai cũng phải nổi da gà, con Hồ Thi đang lấy đà chuẩn bị cú chụp một lần nữa. Đúng ra phải nên gọi chính xác con Hồ Thi này là "quái quỷ" mới đúng, súng đạn đã chẳng hề hấn với nó, đuốc đã chẳng còn cây nào, trong khi cả đám chỉ còn biết tránh né để cho nó vờn tới, vờn lui như mèo vờn chuột, thật không cảm giác nào khó chịu hơn.

Tôi bắn sạch băng đạn, con Hồ Thi vẫn cắm đầu vồ tới, cả bọn lại một phen nháo nhào, kẻ bò, người lăn dưới nền gặch, né tránh không thôi, cây đèn pin trong tay tôi vẫn săm soi về phía con Hồ Thi, thấy đôi mắt nó gườm gườm nhìn tôi. Tôi nhanh chóng thay băn đạn khác, tay trái cầm chặt cây đèn, kẹp vào ốp lót tay khẩu AK, ngón tay trỏ phải tì vào cò súng, nhắm vào đôi mắt xanh quái đản, một loạt tiếng súng vang lên, xung quanh cũng vang lên tiếng súng lạch tạch không ngớt, nhưng cái con quái quỷ kia vẫn không dừng lại, một lần nửa vồ bổ về phía tôi. Tôi phán đoán chính xác hướng tấn công của nó, rồi nhanh như chớp nhảy né về một bên, khi trên đà không tôi tung liền ba cú đá liên hoàn vào cổ con Hồ Thi. Bình thường, nếu tôi tung cú này, kẻ trúng đòn nếu nhẹ thì văng ra, nặng thì đã gãy xương, nhưng cái con Hồ Thi chết giẫm này chẳng có biểu hiện gì là đã bị trúng đòn cả. Tôi đá liền ba cú liên hoàn, giống như đá vào cái gối bông. Khi tiếp đất tôi hốt hoảng lộn ra ngoài, trong bụng thầm kêu: "Không xong!" Nếu như thế này, Khai Sơn Kiếm cũng chẳng thể làm gì nổi tấm thân bồ tượng của con Hồ Thi đầy ma mị ấy, Kim Đầu bắn một loạt đạn, nhưng không nhè vào con Hồ Thi to như cọp rừng, mà nhè vào con chồn nhỏ đang đứng đằng xa, đạn quét tới, con chồn nhỏ liền trúng đạn giẫy chết, chỗ bị đạn bắn trúng chảy ra một dịch thể màu nâu xám, trong bóng tối lờ mờ sáng, cũng không phân biệt rõ là nâu xám hay đen xanh gì nữa, chất dịch ấy, có lẽ là do đã ăn quá nhiều xác chết rồi tích tụ quá nhiều âm khí trong nội thể mà thành. Con chồn già vẫn không dừng lại, cứ chụp, cứ vồ liên tục vào cả đám chúng tôi. Tôi vừa bắn vừa nói như hét:

- Chú Đầu còn lựu đạn hông? Chọi nó...!

Ánh sáng cây đèn pin loang loáng trong bóng tối, tôi cũng chẳng biết Kim Đầu đứng ở đâu? Chỉ nghe hắn nói:

- Còn hai trái, sợ nó hông thấm con quỷ này!

Trong lòng tôi tự dưng trầm xuống, nếu lựu đạn cũng chẳng ăn thua được với con quái vật này thì cả bọn chỉ còn nước bị nó vờn đến nỗi bỏ mạng chứ chẳng chơi. Tôi hét toán lên:

- Chọi đại đi...! Tới đâu thì tới...!

Nghe thế Kim Đầu hô lớn:

- Mọi người dang ra...!

Cả bọn chẳng ai bảo ai, đều lao ngay vào căn phòng đá có ba cỗ quan tài Hoàng Dương, tôi vội đỡ anh Bình lên, định sẽ rút vào đó, nhưng lúc này nghe tiếng nhíp của quả lựu đạn mỏ vịt văng ra "tinh" một tiếng, rồi "bộp" một tiếng, tôi thầm rủa Kim Đầu: "Cái lão già chết toi này, muốn lấy mạng tôi chắc?" Lập tức buông anh Bình nằm sóng soài, tôi lôi Huyền Thiết Tản trong ba lô ra, rồi xòe Huyền Thiết Tản, ngồi ngay xuống che luôn cho anh Bình.

Một tiếng "ầm" vang lên, tưởng như trời sập xuống đến nơi, cát bụi mịt mù, căn hầm rung chuyển y như Sơn Thần đang dời non lấp biển. Bụi, đất, đá bay tứ tung loạn xào bần lên khiến tôi không thể nào mở mắt nổi. Chấn động vừa rồi làm cho trái tim tôi như muốn bắn ra khỏi lồng ngực. Khói bụi vừa bớt đi, tôi đã thấy ngay con Hồ Thi, lúc này đã bị đạn bắn hư một con mắt trái, mắt còn lại xanh lè như một ánh lửa ma trơi, nó đang lao về phía tôi. Tôi hốt hoảng thật sự, cái của nợ này ngay cả lựu đạn cũng chả thấm thía gì với nó, phen này toi thật rồi!

Lúc này, tôi không đường tiến thoái, chỉ còn cách đánh liều một phen, tay trái cầm chặt Huyền Thiết Tản, tay phải đã rút ngay Khai Sơn Kiếm, tôi cũng không ngại va chạm với con Hồ Thi, lao bổ vào nó, cánh tay liên tiếp chém bừa vào mặt, vào tai con Hồ Thi. Con Hồ Thi chẳng có biểu hiện gì kinh sợ, hai chân trước ấn vào vai tôi, móng vuốt đã bắt đầu vươn ra, tôi thoáng thấy, thầm kêu: "Nguy to", liền lách đoản kiếm chém mạnh vào hai chân trước con Hồ Thi, đôi chân trước lập tức đứt đoạn, tôi cũng nhanh chóng đạp mạnh hai chân vào thân con Hồ Thi, búng vội ra ngoài.

Con Hồ Thi gào lên, nghe càng ghê rợn hơn, nó ngoác to cái mồm nhằm vào đầu tôi mà lao tới, tôi không còn kịp suy nghĩ điều gì, cụp Huyền Thiết Tản lại, dùng hai tay, dồn hết sức lực tôi đang có, tạt Huyền Thiết Tản vào cái đầu to lù lù của con Hồ Thi đang bổ tới. Lúc đầu, bao nhiêu đòn tôi tung ra, đều bị con quái quỷ này vô hiệu hóa, nhưng trong lúc này, tôi đã thấy con Hồ Thi bị đánh xiểng niển về một bên, cũng không biết tôi lấy đâu ra sức mạnh đến thế. Thấy nó bị đánh, suýt ngã về một phía, tôi lao theo, nhảy lên vai con Hồ Thi, bồi thêm vài cú như trời giáng vào đỉnh đầu của nó, trong bụng cũng thầm nghĩ: "Bị như thế này, mày không vỡ đầu, bể óc hay sao?"

Con Hồ Thi bị vụt liên tiếp, cũng liền lồng lên, vùng vẫy, lắc cho tôi phải ngã bò lăn bò càng xuống nền gạch, cơ thể ê ẩm. Trong lúc đang bò dậy, tôi thấp thoáng thấy một bóng đen lao vụt đến chỗ con Hồ Thi, rồi trèo vội lên đầu nó, động tác như đấm mạnh vào đỉnh đầu nó, nơi đã bị tôi dùng Huyền Thiết Tản đánh cho thủng mất một lỗ. Vừa đấm xong, bóng đen ấy vội lao xuống, lộn một vòng dưới nền gặch, làm giảm lực rơi, rồi phóng nhanh đến chỗ tôi bế xốc anh Bình dậy. Thì ra, là lão Kim Đầu, lão nói như đang hét:

- Dọt lẹ...!

Tôi ngơ ngác, nhưng cũng vội giắt vũ khí vào người, xốc anh Bình dậy, rồi cùng Kim Đầu kè vào gian phòng có ba cỗ quan tài trống. Vừa bước chưa kịp qua khỏi cánh cửa thép, đã nghe một tiếng "ầm", đất trời dường như đang rung chuyển dữ dội, một luồng gió cực mạnh thổi thốc vào sau lưng, khiến tôi đang kè anh Bình bay về trước, lão Kim Đầu cũng bay về trước như tôi, cả ba nằm rạp xuống nền gạch, khói bụi lại một lần nữa rơi lã tả xuống đầu mù mịt, khiến ai nấy cũng không còn mở nổi mắt để nhìn được những gì ở phía trước nữa.

Căn phòng đã tối om, nay lại mịt mù, càng trở nên ngột ngạt không thể bút mực nào có thể diễn tả. Tôi ngóc đầu lên, cố hết sức căn mắt ra nhìn, nhưng xung quanh chỉ có một màu đen đặc, khói bụi làm cho tôi thấy khó chịu, liền ho sặc sụa một lúc, xung quanh cũng vọng lại tiếng ho, sau đó lại im ắng một cách lạ thường. Bỗng tôi nghe vài tiếng lạch cạch phát ra trước mặt, giống như có ai đó đang cầm hai thanh gỗ gõ vào nhau. Tôi thầm ngạc nhiên, sao trong căn phòng này lại phát ra âm thanh quái đản này? Lúc trước, rọi đèn soi khắp các hang hốc, đến từng kẽ gạch vẫn có thấy cây gỗ nào đâu? Chuyện này thật quái lạ! Tôi cố gắng mở mắt thật to, nhưng ngoài bóng đêm đen kịt, tôi không nhìn thấy được gì khác. Sau đó, trong căn phòng đã im ắng lại như lúc ban đầu, nhưng lúc này, trong đầu tôi lại cảm thấy sự im lặng ấy lạ đến mức bất thường, linh cảm của tôi cho thấy có gì đó không ổn, có nguy hiểm đang rình rập đâu đó, dường như Thần Chết đang lãng vãng quanh đây, trong căn phòng này.

Khi nãy, lúc tôi búng người ra khỏi thân con Hồ Thi, Kim Đầu đã trông thấy tôi đánh vỡ đầu con quái quỷ kia, vội lao đến, động tác của lão không phải đấm, mà là đang ném thật mạnh quả lựu đạn vào sâu trong đầu của nó, đến khi lựu đạn phát nổ, tôi cuốn cuồn bỏ chạy chỉ kịp giắt lại Khai Sơn Kiếm và Huyền Thiết Tản vào người, còn cây đèn pin thì đã văng đâu mất, sau khi lựu đạn nổ, đèn pin cũng bị bụi và đá vụn vùi lấp, không biết nơi đâu mà tìm, trong khi xung quanh dầy đặc bóng tối bao trùm.

Nghe tiếng lạch cạch như gỗ gõ vào nhau, tôi ngạc nhiên, vội bò dậy, kế bên tôi bỗng sáng lên đôi chút, nhờ một ánh lửa nhỏ, nhưng ánh lửa chỉ lớn hơn hạt đậu một chút, ánh lửa đó phát ra từ một cái hộp quẹt zippo của Kim Đầu, tôi quay qua đỡ lão dậy, rồi lôi anh Bình lên, cũng may cả bọn đều mặc áo chống đạn nên cú tạt lúc nãy của con Hồ Thi không làm anh Bình bị trầy xước gì, chỉ là bị đánh mạnh văng xa nên chết giấc đi mà thôi, sau khi lôi anh Bình dậy, tôi vỗ vỗ vào ngực anh, thấy anh từ từ mở mắt, thở hắt ra một hơi.

Thấy anh Bình không sao, tôi cũng hơi yên tâm, chợt nhớ ra, mình còn một vật để thắp sáng, chính là viên ngọc Dạ Hải Thần Châu trong túi quần, tôi moi ra. Viên ngọc vừa được moi ra, đã xua tan bóng đêm đen đặc, ánh sáng của viên ngọc có thể soi sáng tầm mười mấy thước trong bóng tối, đủ để soi sáng mọi ngóc ngách trong căn phòng bằng đá khối này. Ánh sáng kỳ ảo của viên ngọc vừa phát ra soi rõ hết mọi thứ, tôi đã phải giật bắn mình, khi nhìn thấy cây dá thép của lão Hòa nằm dài trên nền gạch, đây chẳng phải là vật bất ly thân của lão ấy hay sao? Nó ở đây, vậy lão ấy ở đâu? Cả bé Nhạn và Hiển Thủy Tề cũng bốc hơi đi đâu mất, trên nền gạch của căn phòng còn bắt gặp một con dao găm M chín, hẳn là của một trong ba người làm rơi lại, vậy họ đã đi đâu? Mà còn chỗ nào để đi? Chẳng lẽ họ đã xuyên qua tường hay sao?

Chợt tiếng lạch cạch lại vang lên, nó phát ra từ trong ba cỗ quan tài Hoàng Dương trước mặt. Tôi rùn mình tự hỏi: "Lại là cái quái gì nữa? Mẹ kiếp thật! Nơi này luôn có chuyện kỳ dị, hãi hùng, không biết lần này lại gặp phải cái thứ gì đây?" Tiếng lạch cạch phát ra rồi lại im bặt như lần trước tôi nghe được, tôi nhặt cây dá thép lên, chạy ngay đến cỗ quan tài gần nhất, kỳ lạ là, những cỗ quan tài này đã được đậy nắp kín lại từ bao giờ.

Tôi cũng chẳng còn tâm trí mà nghĩ ngợi nhiều, thọc lưỡi dá vào rãnh tiếp giáp giữa nắp và thân áo quan, ra sức bẩy mạnh. Nắp quan lập tức bung ra, ngay lúc đó tôi thấy mồ hôi lạnh túa ra khắp người, trong quan tài này có một người đang phóng ra. Tôi kinh hoàng lùi lại thì thấy, người phóng ra chính là Hiển Thủy Tề, tôi lấy lại bình tĩnh, nhưng ngạc nhiên hỏi:

- Mầy dô đó làm cái giống gì? Mấy người khác đâu?

Hiển Thủy Tề nói như hoảng loạn:

- Tao có thấy ai đâu, tự dưng có người túm lấy từ sau lưng, lôi tao dô trổng, chút nữa là tao ngủm củ tỏi rồi!

Nghe Hiển Thủy Tề nói, tôi thầm hiểu ra phần nào, có lẽ bọn bé Nhạn, lão Hòa đã bị cái gì đó lôi vào ba cỗ áo quan, rồi đậy nắp lại, nắp áo quan rất nặng, một người khó có thể từ trong đó mà đẩy ra nổi, vậy cái quái gì đã lôi bọn họ vào trong áo quan? Thứ đó sức mạnh chắc cũng kinh khiếp lắm! Tôi lao đến cỗ quan thứ hai, bẩy nắp ra, thấy bé Nhạn đang vùng vẫy trong đó, khi nắp áo văng ra, cô ấy đang ra sức hít thở, có lẽ đang bị ngộp, hít thở hai, ba hơi đã vội nhảy ra, vẻ mặt rất hoảng loạn. Tôi vội nạy ngay cỗ quan còn lại, nắp quan này có cả bản lề, nên không văng đi mà chỉ bật ra. Lão Hòa nằm trong đó, đang giẫy giụa, chống cự với gì đó, Kim Đầu thoạt trông đã lẩm bẩm:

- Lại là cái thứ này...! Lại là cái thứ này...!

Tôi không hiểu lão ta đang nói gì, nhưng nhìn thấy lão Hòa đang vật lộn trong cái quan tài, dường như có gì đó níu lão lại, tôi thấy quá ư là quái lạ, trong quan tài này lúc đầu bọn tôi kiểm tra, đã không thấy gì trong đó, nay thấy sự việc lão Hòa bị giữ lại thì ngạc nhiên vô cùng, chẳng lẽ trong áo quan còn có cương thi? Không thể như vậy được.

Thấy lão Hòa cố mấy cũng không thoát ra được, tôi tiến tới, nhảy cả lên thành áo quan, thấy có vài sợi dây chìa ra, nhìn là biết ngay đây là dây leo của một loại cây nào đó đang xiết chặt bụng, tay, chân của lão Hòa, tôi phát hoảng nhảy lên đâm lưỡi dá vào một đoạn dây leo, nào ngờ dây leo này như làm bằng thép, không thể dùng lưỡi dá xắn đứt, các dây leo như bị giật mình, co ngay lại, thôi không xiết lão Hòa nữa. Lão Hòa được nới lỏng đã vùng bật dậy, phóng ngay qua khỏi áo quan. Tôi trố mắt hỏi:

- Chú Hòa! Chú có sao hông?

Lão Hòa lắc đầu, mặt mày xanh lét, tỏ ra vô cùng sợ hãi, tôi ngó lên thấy mấy sợi dây leo đang co lại như sợ một cái gì đó. Ở trong căn phòng này còn có thứ gì khác đáng sợ hơn hay sao? Tôi tiến gần cỗ quan tài, mấy sợi dây leo đã biến đi đâu mất. Quái lạ! Chẳng lẽ tôi bị ảo giác, thì ra ba cỗ cương thi quái dị không hề bật tung nổi nắp áo quan, mà nắp áo quan đã được những dây leo kỳ quặc ấy mở ra, chuyện này thật khó tin! Thấy mấy sợi dây leo đã không còn, cỗ quan trống không, tôi lập tức chú ý đến Kim Đầu, lão đang đứng như một kẻ mất hồn, miệng không ngừng lẩm bẩm, tôi quay lại, vỗ vào vai lão:

- Chú Đầu bị gì dị?

Kim Đầu giật mình, như từ trong cơn mộng bước ra, chụp lấy tay tôi, nói như sắp bị ai đó đốt nhà:

- Là nó... Chính là nó... Dây xiết cổ... Dây xiết cổ... Nó xiết cổ người ta... Xiết tới chết...!

Nghe Kim Đầu lắp bắp, tôi thấy toàn thân như bị ướp đá, gai ốc nổi khắp người, mồ hôi lạnh chảy ướt lưng áo. Có lý nào, khi xưa lão Kim Đầu này đã gặp cái loại dây leo quái lạ kia? Tôi chỉ nghe Hải Đoàn kể lại, lão ta đã đến một nơi quái lạ nào đó, suýt chút bỏ mạng, có khi nào, nơi lão ta thấy đó lại có loại dây leo biết quấn lấy người này? Tôi hỏi lão:

- Chuyện này là sao? Chú giấu tụi tôi cái gì phải hông?

Tôi rút ngay khẩu súng ngắn Glock mười tám lão tặng khi bọn tôi mua vũ khí của lão lúc trước, chĩa ngay vào ngực lão, lúc này, lão đang quỳ trước tôi, tay trái ôm ngực, tay phải ôm đầu, vẻ mặt vô cùng hoảng loạn, dường như lão đang khóc. Cả bọn ngơ ngác nhìn nhau, thấy tôi chĩa súng vào lão, anh Bình và Hiển Thủy Tề vội đến ngăn lại, Hiển Thủy Tề triết lý:

- Mày bình tĩnh coi, chuyện gì từ từ nói, làm gì mà nổi nóng lên dậy?

Tôi hạ súng, gạt lại chốt an toàn, rồi giắt súng vào bao súng đeo bên đùi, tôi nói:

- Lão ta biết cái thứ lôi mày dô cái hàng là giống gì?

Nghe tôi nói lão Hòa cũng lên tiếng:

- Dơ! Biết thị nọi ra coi! (Biết thì nói ra coi)

Kim Đầu run run, môi giật giật, tôi đốt một điếu thuốc rồi rít hai ba hơi, lấy lại bình tĩnh chuẩn bị lắng nghe những gì Kim Đầu kể lại, cả bọn cũng chăm chú lắng nghe. Kim Đầu bắt đầu kể lại chuyến đi kinh hoàng mà lão đã may mắn thoát được. Lão bắt đầu kể:

Năm năm trước, lúc đó tôi còn chưa đi buôn lậu, sống bằng nghề lái xe tải, chạy dọc ngang đồng bằng Sông Cửu Long, cuộc sống thiếu trước hụt sau, khổ cực đều nhận đủ, cậu Đoàn lúc đó làm lơ xe của tôi. Có một ngày, tôi nghe những người lái xe chung với tôi nói rằng, khi lái xe qua khu vực Cà Mau, nghe người ở đó kể rằng, trong một khu rừng, có một ngôi mộ cổ, xung quanh có chín ngôi mộ nhỏ bao bọc, trong ngôi mộ cổ ấy có chôn một bảo vật, có được bảo vật, sẽ lấy được bất cứ cái gì mà mình thích, nhưng chưa ai tìm ra được ngôi mộ ấy. Tôi không tin cho lắm, nhưng trong cảnh khó khăn, thiếu thốn, tôi cũng không nén được lòng tham, đi theo họ xem rõ thực hư. Thấy cậu Đoàn còn trẻ, bọn người đi chung với tôi sợ cậu ấy chia phần, còn tôi sợ cậu ấy gặp chuyện, nên bọn tôi giấu chuyện này với cậu ấy.

Sau khi tập trung một số anh em, bạn bè, bọn tôi thuê được hai tiểu đội lính giải ngũ của Campuchia, bảo vệ bọn tôi tiến vào khu rừng ấy, đồng thời cũng trang bị súng ống, đạn dược đầy đủ. Đến địa phận Cà Mau, hỏi thăm vị trí khu rừng, bọn tôi lái xe tiến vào, khu rừng ấy vô cùng quái lạ, dường như là một cánh rừng nguyên sinh, chưa ai chinh phục. Đi vào một đoạn, trước mắt đã tối đen, vì có vô số cành lá đan xen, che phía trên không thấy ánh sáng, đành bật đèn xe chạy tiếp, không ngờ, ba chiếc xe dã chiến chạy qua một hòn đá to trong rừng thì chết máy cả ba chiếc, không sao sửa chữa được, cả bọn đành bỏ xe lại, đi bộ vào khu rừng.

Cả đoàn hơn hai mươi người, vai đeo ba lô, tay cầm súng tiểu liên gắn đèn pin, tiến vào khu rừng đang âm u, tối mù tối mịt, mặc dù đồng hồ đeo tay đều chỉ hơn mười giờ sáng. Chốc chốc lại nghe tiếng chim vỗ cánh, tiếng khỉ la ó chí chít, vài bụi rậm sột soạt có tiếng con gì đó chui vào... Quan cảnh âm u đáng sợ, nhưng từ lúc xe hư đến lúc đi bộ hơn ba bốn cây số, vẫn không có chuyện gì xảy ra. Chuyện xảy ra, khi bọn tôi đến một cái hang lớn ăn thông xuống đất, thẳng đứng tối mịt mù, lúc đầu không một ai muốn chui vào, định đi đường khác, nhưng khi kiểm tra lại "quân số" đã thấy thiếu đi hai người, hai người này, biến mất một cách quái lạ, không một điềm báo, không một tiếng động, y như họ bị bốc hơi vậy, cả đám đang ngơ ngác thì đột nhiên ngửi thấy mùi gì đó rất thơm, bèn theo mùi thơm ấy tiến bước. Theo ánh đèn pin, bọn tôi thấy một bãi hoa, màu sắc rực rỡ, mỗi bông có bốn cánh to như chiếc chiếu trải rộng, mùi thơm từ đó phát ra ngào ngạt, một người lính Campuchia tiến lên gần bông hoa, nhắm nghiền mắt hít hít ngửi ngửi, không ngờ bông hoa kia lại từ trên cao đổ xuống chộp luôn người lính kia, rồi lại đứng phắt dậy, trên cánh hoa đã xuất hiện đầy gai nhọn.

Biết đụng phải loài hoa ăn thịt, bọn tôi nhất loạt nổ súng hòng diệt chúng, ai ngờ làm cho rất nhiều hoa ăn thịt gần đó thức giấc, xúm lại dồn bọn tôi vào gần miệng hang, bất đắc dĩ bọn tôi buộc phải chui vào thoát thân. Khi chui vào hang rồi bọn tôi mới biết, không có bảo vật nào trong khu rừng đó cả, nếu có cũng không thể lấy đi được, bên trong toàn là cạm bẫy chết người, toàn bộ điều kỳ dị quái gở lần đầu tiên trong đời tôi gặp phải, chúng tôi đã vào đúng "nơi tuyệt địa".
 
Last edited:

Đang xem (Thành viên: 0, Khách: 1)


Top