Án Mạng “Chuột Chín Đầu” (1

Tư Hoa Niên

Trúc Cơ Sơ Kỳ
Ngọc
2,556
Tu vi
49
Án mạng “Chuột Chín Đầu”
Phần 1: 37 Bức Thư Tố Giác
Dịch: Lãng Nhân Môn

Trấn Giang, còn gọi là Nhuận Châu, thời dân quốc từng là tỉnh lị Giang Tô, khi Trung Quốc vừa thành lập thì thuộc khu hành chính Tô Nam quản lý. Tháng 10 năm 1949 đã xảy ra một vụ án giết người đốt xác vô cùng ly kỳ.
Người chịu trách nhiệm công tác điều tra của vụ án này là một chàng trai An Huy, tên Mục Dung Hán. Mục Dung Hán học đến cấp 2, lúc nhỏ lại tập võ nên thân thủ bất phàm. Tuy gia đình anh mở cửa hàng buôn bán, nhưng thời kỳ đầu kháng chiến thì cha của anh đã bán hết gia sản, lấy tiền tổ chức vũ trang kháng Nhật, hơn nữa còn nhanh chóng gia nhập Trung Cộng. Không bao lâu sau, cha và hai chú của anh ta hy sinh trong lúc tác chiến với quân Nhật. Năm 1943, Mục Dung Hán tham gia quân Tân Tứ. Đầu tiên là đánh địch, sau lại làm trung đội trưởng trinh sát. Năm 1949 Mục Dung Hán đã là chỉ đạo viên của tiểu đoàn trinh sát thứ chín thuộc quân dã chiến Hoa Đông. Trong chiến dịch vượt sông, chiếc thuyền của anh ta bị đạn pháo bắn trúng, hơn ba mươi người chỉ còn lại bảy người sống sót. Mục Dung Hán xem như mạng lớn, nhưng lại bị thương nặng, ôm một tấm ván thuyền hôn mê trôi hơn bốn mươi dặm mới được cứu lên.
Sau khi vết thương lành lại thì bộ đội nơi Mục Dung Hán đã đánh tới Phúc Kiến. Tháng 9 năm 1949, tổ chức phái anh ta tới phân khu quân Tùng Giang, thủ tục cũng đã chuẩn bị xong xuôi, nhưng một ngày trước khi lên đường lại xảy ra một sự cố bất ngờ. Hôm đó, anh ta đang trên đường quay về chỗ ở sau khi tạm biệt chiến hữu thì một chiếc xe jeep đột nhiên thắng cái két trước mặt anh ta, một tiếng hô to vọng ra từ trong xe: “Đây không phải Tiểu Mục à?”
Người trong xe là vị thị trưởng thành phố Trấn Giang vừa thăng chức vào tháng trước, Hà Băng Hạo. Đây là một vị cán bộ tham gia cách mạng từ thời hồng quân, từng đảm nhiệm chức đội trưởng “đội dân tiên” huyện tê Hà tỉnh Sơn Đông, bí thư huyện ủy kiêm chính ủy chi đội du kích, chuyên viên trụ sở Giao Đông Bắc Hải và bí thư chủ nhiệm kiêm chính ủy bộ hậu cần khu Bắc Hải thời chiến, phó chuyên viên cơ quan riêng Giao Đông Bắc Hải, tổng đội trưởng kiêm chính ủy tổng đội thứ hai của Giao Đông trước kia, đại đội trưởng đại đội thứ hai trung đoàn vượt sông xuống Nam. Đội trinh sát của Mục Dung Hán lúc ấy đóng quân cùng một chỗ với hai đại đội “Độ Tổng”, giúp đỡ lẫn nhau. Nên dù chức vụ của cả hai cách xa nhau những vẫn là người quen.
Người quen cũ gặp nhau nơi đất khách thì đương nhiên phải ngồi lại nói vài câu. Khi đó, thị trưởng Hà đã mời Mục Dung Hán lên xe.
Sau khi hỏi thăm tình hình, biết Mục Dung Hán chuẩn bị tới phân khu quân Tùng Giang bèn nói ngay: “Thế thì thà cậu tới Trấn Giang làm với tôi còn hơn.”
Mục Dung Hán đáp: “Tôi không muốn rời khỏi bộ độ. Tôi còn muốn cầm súng đánh giặc.”
Hà Băng Hạo mới nói: “Cậu tới Trấn Giang làm ở ủy ban quân quản, vẫn mặc quân trang và cầm súng đấy thôi.”
Mục Dung Hán nghe vậy thì rục rịch. Hà Băng Hạo sợ anh chàng thay đổi nên nói: “Tôi sẽ lập tức nhờ người chuyển cậu tới Trấn Giang, chiều nay cứ về đó cùng tôi là được.”
Khi đến Trấn Giang rồi Mục Dung Hán mới biết mình bị thị trưởng Hà “lừa”. Đúng là làm ở ủy ban quân quản, nhưng lại là bộ công an của ủy ban quân quản – Cũng chính là cục công an trực thuộc văn phòng thành phố, hai cái tên một nhóm người (1). Mặc quân trang cũng không sai, nhưng chẳng qua là một bộ đồ có in hai chữ “công an” lên ngực áo mà thôi. Súng thì cũng có đeo, nhưng có dùng tới hay không thì khó mà nói trước. Cục công an thành phố cũng không sắp xếp công việc cho anh ngay, mà để anh làm quen với tình hình trước, còn nhấn mạnh rằng đây cũng là công việc trị an. Mục Dung Hán đoán chắc công tác của mình sau này cơ bản chính là điều tra hình sự, lúc ấy công an điều tra gọi là trinh sát, lãnh đạo phần lớn đều cho rằng nó cũng như trinh sát quân sự của bộ đội mà thôi.
Đã đến nước này rồi thì chỉ có thể cắn răng làm tiếp mà thôi. Mục Dung Hán đã có chuẩn bị tâm lý là sẽ làm hình cảnh. Khi đó đang thực hành hình thức “đại trị an”, công việc hình trinh (2) do trị an quản lý. Ngày nào Mục Dung Hán cũng chạy khắp nơi trong thành phố, ven sông, đường Đại Tây, xung quanh bến tàu nhỏ và nhà ga đồn công an. Hơn nửa tháng trôi qua, anh cũng đã làm quen với hình cảnh của tất cả các đơn vị vì đã có nhiệm vụ đưa xuống.
Bắt đầu từ ngày 30 tháng 5, đến ngày 9 tháng 10 Mục Dung Hán nhận nhiệm vụ này, cục công an thành phố Trấn Giang, bốn phân cục bên dưới cùng với tất cả mười hai đồn công an do phân cục quản lý, tổng cộng nhận được 37 bức thư tố giác, mục tiêu bị lên án là cùng một người. Người bị tố giác vừa nhìn tên đã biết là biệt danh trên giang hồ, tên là “Chuột Chín Đầu”, tên thật là gì thì không ai rõ. Nếu như nội dung tố giác là thật thì kẻ này đã làm rất nhiều chuyện như giết người, phóng hỏa, ăn cướp, trộm cắp, cưỡng hiếp, lừa gạt. Dựa theo quy định đương thời, tất cả những thành phố vừa giải phóng xếp hết những đối tượng bị tố giác nhưng không liên quan trực tiếp tới chính trị, không làm nguy hại trị an xã hội hoặc nguy hại mạng sống và an toàn tài sản của người khác vào án treo lịch sử. Đồn công an và phân cục nhận được những bức thư tố giác này xong thì sẽ đưa cho ban chỉ huy cục trị an thống nhất đăng ký và bảo quản. Cho nên những bức thư tố cáo “Chuột Chín Đầu” do các đồn công an, phân cục khác và cả thành phố nhận được đều bị gom lại, giao cho ban trị an thành phố bảo quản.
Hôm nay, lãnh đạo đã tìm Mục Dung Hán nói chuyện, giao những bức thư tố giác này cho anh rồi nói: “Đồng chí Tiểu Mục hãy xem thử những bức thư này, tìm cách điều tra rõ ràng xem rốt cuộc Chuột Chín Đầu này là ai, đang ở đâu, có phạm phải những hành vi phạm tội được ghi trong thư tố giác hay không”.
Lúc đó Mục Dung Hán còn chưa được phân công việc cụ thể, cũng không trục thuộc phòng ban nào, ban trị an cũng vậy, đội hình cảnh cũng thế, chẳng bên nào sắp xếp công việc cho anh, ngay cả bàn làm việc cũng không có. Sau khi nhận nhiệm vụ, anh cầm túi hồ sơ căng phồng chứa 37 bức thư tố giác kia đi một vòng trong trong cục, cuối cùng tìm được một chỗ giữa đống đồ chất chồng ở sân sau căn tin. Anh bèn lấy ván gỗ và gạch xếp đỡ thành một bàn làm việc tạm thời. Đâu vào đấy thì anh bắt đầu xem thư. Sau khi xem hết 37 bức thư thì cũng đã đến giờ tan sở.
Quay về ký túc xá, Mục Dung Hán lại chia nội dung của những bức thư tố giác này ra trên sổ tay làm việc, sau khi chỉnh lý lại, anh phát hiện tuy 37 bức thư này không phải do cùng một người viết, nhưng nội dung đại khái đều như nhau: Tố cáo Chuột Chín Đầu là thứ đầu trộm đuôi cướp. Trong đó có một bức thư nhắc tới nơi gây án của Chuột Chín Đầu là ở trên Trường Giang, nơi giao nhau giữa An Huy và Giang Tô, là một tên thủy tặc.
Mục Dung Hán nghiên cứu một lúc, cảm thấy có ba vấn đề chưa rõ: Thứ nhất, tất cả thư tố giác đều gọi kẻ bị tố giác là Chuột Chín Đầu, không có bức nào nói tới tên thật của hắn ta. Thứ hai, trong mỗi bức thư tố giác đều nói Chuột Chín Đầu tội ác tày trời, nhưng không có bất kỳ bức nào nói tới thời gian và địa điểm cụ thể, mà chỉ dùng mấy chữ qua loa như “lúc kháng chiến”, “bảy tám năm trước” các kiểu, càng không nói rõ người bị hại là ai, gây nên hậu quả thế nào. Nói chung, trong thư tố giác chỉ nói rõ tội danh của Chuột Chín Đầu thứ không phải hành vi phạm tội. Thứ ba, những bức thư này phần lớn đều không nói Chuột Chín Đầu ẩn nấp ở đâu, vài bức có nhắc tới thì cũng không hề rõ ràng, chỉ nói là ẩn nấp trong thành phố Trấn Giang, nhưng lại không có địa chỉ cụ thể.
Mục Dung Hán cho rằng với những manh mối không rõ ràng thế này mà lãnh đạo lại bảo anh đi điều tra thử, xem ra là muốn để anh luyện tay. Cũng nhờ đó kiểm tra khả năng làm việc của Mục Dung Hán, khi sắp xếp cương vị công tác cụ thể cho anh sau này cũng có cái mà tham khảo. Dù sao anh cũng là chỉ đạo viên đội trinh sát trực thuộc tung đội chín Hoa Dã, chức vị này xem như cấp doanh chính (3), không thể đối đãi tùy tiện như mấy anh lính quèn bình thường được. Nghĩ vậy, Mục Dung Hán bèn hạ quyết tâm, nhất định phải điều tra cho ra tung tích của Chuột Chín Đầu, còn phải tra xem hắn ta có phạm những tội được ghi trong đống thư tố giác kia hay không.
Mang theo suy nghĩ này, Mục Dung Hán chong đèn tiếp tục đọc lại những bức thư tố giác này. Gần đến nửa đêm thì anh lại phát hiện được một đặc điểm mà khẳng định trước kia không ai chú ý tới: Trong 37 bức thư tố giác này có 9 bức thư rất khác thường, chữ viết đẹp thì không nói, xếp từ cũng rất ngay ngắn, người viết hẳn là đã từng đi học. Lại xem kỹ hơn thì cả giấy lẫn phong bì của 9 bức thư này cũng khác nhau. Có bức rất khuôn phép, bức thì là lấy giấy dán lại làm phong thư. Cuối cùng Mục Dung Hán cũng nhận ra, 9 bức thư này có thể là nhờ người như mấy ông thầy đoán chữ đầu phố viết hộ.

(1) Một cơ cấu, hai cái tên, còn được gọi là một nhóm người hai cái tên, là một loại cơ cấu biên chế của TQ. dựa theo lời giải thích của văn phòng hội ủy viên cơ cấu biên chế trung ương "cái gọi là một cơ cấu chính là một đại biểu pháp nhân, một quản lý tài vụ, một nhóm lãnh đạo và một đội ngũ. Sở dĩ có hai cái tên là chỉ hai tên gọi cơ cấu, dựa theo nhu cầu công việc mà lấy danh xưng tương ứng để đối ngoại".
(2) Điều tra + xử phạt.
(3) Cấp doanh chính có quân hàm thiếu tá.

(Còn tiếp)
 

Tư Hoa Niên

Trúc Cơ Sơ Kỳ
Ngọc
2,556
Tu vi
49
Án mạng “Chuột Chín Đầu”
Phần 2
Dịch: Lãng Nhân Môn

Hôm sau, ngày 10 tháng 10, Mục Dung Hán chạy xe đạp cả nửa buổi cuối cùng cũng tìm được người đã viết thuê chín bức thư tố giác này. Chín bức thư tố giác có xuất xứ từ tay chín người, trong đó có ba người là thầy bói xem chữ trên phố, sáu người là các thầy chuyên viết thư hộ cho người khác ở cửa bưu cục. Mục Dung Hán bắt chuyện với bọn họ, những vấn đề chưa được làm rõ trước kia lại có thêm một điều: Người thuê viết chín bức thư tố giác này lại là cùng một người! Đó là một người phụ nữ trung niên cỡ chừng bốn mươi, thân hình hơi béo, để tóc xoăn, thoạt nhìn có vẻ là một bà chủ nào đó. Trong năm tháng từ tháng 5 đến tháng 9 cô ta đã lần lượt thuê họ viết những bức thư tố giác này, lý do đưa ra cũng giống hệt nhau là muốn tố giác một tên ác ôn của xã hội cũ, nhưng bản thân cô ta vừa không biết chữ, lại không dám đến đồn công an để tố giác trực tiếp v.vv..
Còn chuyện người phụ nữ đó tên họ là gì, nhà ở đâu, làm nghề gì thì cả chín người đều không biết. Sau khi thuật lại nội dung thư tố giác xong thì người phụ nữ kia đứng bên cạnh chờ bọn họ viết. Sau đó nghe họ đọc lại một lần rồi nhét thư vào phong bì, tiếp theo lại đề địa chỉ của cục công an hoặc đồn công an lên mục người nhận, trả tiền xong thì nói tiếng cảm ơn rồi đi. Chỉ có ông thầy Đái ở cửa bưu cục Thọ Khâu là nhớ được chi tiết, nói là khi ông viết chữ thì người phụ nữ kia đứng bên cạnh nhìn lom lom, dựa theo vẻ mặt của cô ta lúc nhìn tờ giấy viết thư thì hình như không phải người mù chữ, sau khi viết xong ông đọc lên cho cô ta nghe thì cô ta lại không tập trung mấy.
Kết quả điều tra được khiến Mục Dung Hán càng mơ hồ hơn, cảm thấy không thể hiểu nổi hành vi của người phụ nữ đó. Dựa theo hướng điều tra bình thường, Mục Dung Hán hẳn là phải tiếp tục truy tìm người phụ nữ tóc xoăn này. Nhưng lúc này anh lại đơn thương độc mã, căn bản không thể tiến hành điều tra theo lối này được, đành phải tạm gác người phụ nữ tóc xoăn này qua một bên, đổi thành điều tra Chuột Chín Đầu.
Phải làm sao để điều tra manh mối về Chuột Chín Đầu đây? Mục Dung Hán thầm nghĩ, tục ngữ có câu tôm có đường tôm, cua có đường cua, nếu như tên Chuột Chín Đầu này có bản tính đúng như những gì thư tố giác đã nói thì bên xã hội đen kiểu gì cũng biết. Vậy phải đi đâu để tìm dân xã hội đen? Điều này thì không khó, trong trại tạm giam ở cục công an đang nhốt cả đống đầu trộm đuôi cướp, du côn lưu manh, cướp của ác bá, nồng cốt bang hội kia kìa.
Bắt đầu từ ngày 11 tháng 10, Mục Dung Hán vào trại tạm giam để điều tra manh mối về Chuột Chín Đầu. Trước kia làm công tác dụ địch, Mục Dung Hán thường xuyên xâm nhập và làm quen với đám giang hồ băng đảng ở địa phương của địch nên hiểu rõ quy tắc giang hồ. Nay anh vào trại tạm giam điều tra thì dùng chính sách dụ dỗ, thái độ chẳng những vô cùng thân thiết mà còn lần lượt tặng thuốc lá cho đối phương, làm mấy đội viên trông coi trại tạm giam phải nhìn nhau một hồi nhưng không dám ý kiến gì, dù sao thì cấp bậc của Mục Dung Hán cũng còn ở đó, trưởng trại tạm giam còn thấp hơn anh nửa cấp ấy chứ. Mục Dung Hán tốn hết một tuần ở trại tạm giam, tổng cộng tìm hơn ba mươi đối tượng buôn chuyện, thuận tiện tìm hiểu thêm về tình hình xã hội đen ở vùng Giang Tô, chép kín hai quyển sổ. Nhưng lại không biết được gì nhiều về Chuột Chín Đầu.
Đối tượng trò chuyện với anh cũng có bảy tám người từng nghe đồn trên giang hồ có một người như thế, từng gây án trên giao giới ở An Hủy và Giang Tô trên sông Trường Giang. Nhưng sau khi kháng chiến diễn ra thì Chuột Chín Đầu đã rửa tay chậu vàng, đến Trấn Giang làm ăn. Về phần làm gì thì mỗi người nói một kiểu. Có người nói là kinh doanh thủy sản, có người lại nói là buôn hàng trên bờ, kẻ lại bảo là ông chủ nhà máy dây thừng, còn có người nói hắn hợp tác với người ta kinh doanh tiệm bán quan tài nhập dây lạt. Như vậy thì tên thật của Chuột Chín Đầu là gì? Đến đây thì lạ thay là không ai biết cả, hơn nữa cũng không ai từng tận mắt thấy hắn ta!
Vậy nên Mục Dung Hán bèn điều tra theo mấy nghề nghiệp mà những phạm nhân kia đã kể. Dù sao thì hiện tại những tội danh bị tố giác của Chuột Chín Đầu vẫn chưa lập án, lãnh đạo chỉ phân công Mục Dung Hán điều tra chứ không quy định kỳ hạn. Anh có thể từ từ làm việc, nhân dịp này để làm quen với tình hình địa phương.
Sau vài ngày, Mục Dung Hán lần lượt điều tra mấy nghề như thủy sản, hàng trên cạn, làm dây, đồ tre trúc v.v..
Đầu tiên là chạy tới nghiệp đoàn hành nghề (tương tự như hiệp hội hành nghề hiện tại), bên phía nghiệp đoàn cũng nghiêm túc kiểm tra tài liệu đăng ký, nhưng vì chỉ có cái biệt danh Chuột Chín Đầu này nên không tìm được gì.
Mục Dung Hán đành phải đạp xe khắp thành phố hỏi thăm, phàm là gặp phải tiệm bán hàng thủy sản, dây thừng, tre trúc, quan tài thì đều vào hỏi thăm. Qua hai ngày, cuối cùng cũng nghe ngóng được từ chỗ ông chủ Kim Đại Tân của chủ vựa cá Đại Tân là trên Trấn Giang đúng là có một môi giới thủy sản tên Chuột Chín Đầu, Kim Đại Tân từng hợp tác một thời gian ngắn với hắn ta.
Người này họ Hoàng, người trong nghề gọi hắn là ông chủ Hoàng. Là một người đàn ông cao to, tuổi chừng bốn mươi mấy, bên phải sống mũi có một nốt ruồi to như hạt đậu. Mấy người mở vựa cá như Kim Đại Tân thì tảng sáng mỗi ngày đều phải đến bến tàu Trường Giang nhập hàng. Tôm cua cá mực mà mấy thuyền cá đêm kia chài được đều bán ngay bờ sông. Nhưng theo luật thì thuyền cá với chủ buôn cá không thể giao dịch thẳng với nhau mà phải thông qua môi giới mới được. Môi giới cũng có tổ chức riêng, tên là “nghiệp đoàn môi giới thủy sản”, giá cả giao dịch mỗi ngày đều do nghiệp đoàn định ra. Số lượng giao dịch cụ thể cũng do môi giới dựa vào chất lượng thủy sản mà định giá, không thể sửa đổi. Cho nên mấy ông chủ vựa cá đều rất khách khí với môi giới. Mỗi môi giới ăn gọn cả chủ vựa cá lẫn con buôn đều gọi họ là nhà dưới. Nhà dưới vì nịnh bợ môi giới nên luôn thay phiên nhau làm chủ mời môi giới ăn cơm, quan hệ giữa Kim Đại Tân và Chuột Chín Đầu chính là như thế.
Còn chuyện Chuột Chín Đầu là do lần nọ Kim Đại Tân mời ông chủ Hoàng ăn cơm, đối phương quá chén nên mới nhỡ mồm nói hớ ra. Lúc ấy đang nói gì thì Kim Đại Tân không nhớ rõ, chỉ nhớ là đang nói về mấy tên côn đồ khét tiếng trên sông Tiền Đường thì ông chủ Hoàng mới cười khẩy: “Bọn đấy là cái thá gì? Nhớ năm đó Hoàng mỗ cũng có số có má trên giang hồ, anh em trên đường toàn gọi tôi là Chuột Chín Đầu đây này!”
Công tác điều tra của Mục Dung Hán cuối cùng cũng có phương hướng rõ ràng. Ngày 21 tháng 10, mới 4 giờ sáng thì Mục Dung Hán đã chạy tới bến thủy sản bên bờ Trường Giang. Lúc này nơi đây đã tấp nập người qua, không khí se lạnh xen lẫn mùi cá xộc thẳng vào mũi làm anh hắt hơi một tràng. Mục Dung Hán lại đi tới văn phòng quản lý giao dịch của nghiệp đoàn kinh doanh hải sản, bên trong có hai người đàn ông trạc bốn mấy năm mươi đang ngồi. Bọn họ là nhân viên văn phòng hiện trường, phụ trách định giá giao dịch thủy sản trong ngày và giải quyết tranh cãi phát sinh trong lúc giao dịch. Tranh cãi thì chẳng mấy khi xảy ra do giá cả đã được định sẵn trước lúc giao dịch, nên hai người rất rảnh rỗi, trên bàn pha một ấm trà thơm, tay cầm điếu cày, rít từng hơi o o. Thấy Mục Dung Hán đưa giấy chứng nhận quân quản ra thì cả hai lập tức đứng dậy.
Mục Dung Hán khoát tay nói rõ lý do mình tới đây. Hai người không biết Chuột Chín Đầu tên gì, nhưng nghe kể mấy đặc điểm như “họ Hoàng, cao to, bốn mươi mấy, bên phải sống mũi có nốt ruồi” thì biết ngay là ai, bảo rằng đúng là có một môi giới thế này, ông ta tên Hoàng Kế Sĩ, nhưng sau khi Trấn Giang giải phóng thì đã từ chức về nhà hưởng phước rồi.
Vậy thì nhà của hắn ta ở đâu? Hai người kia lập tức lấy danh sách môi giới của nghiệp đoàn để trong tủ gỗ bên cạnh ra lật tìm – Nhà số 73, ngõ Tiên Hà, đường Đại Tây.
Mục Dung Hán chép địa chỉ lại xong thì lập tức đi ngay, anh phải đi tìm được Hoàng Kế Sĩ rồi mời hắn ta đến đồn công an giáp mặt hỏi cho rõ. Nhưng Mục Dung Hán lại không ngờ, hành động của anh vẫn muộn vài giờ!
 

Tư Hoa Niên

Trúc Cơ Sơ Kỳ
Ngọc
2,556
Tu vi
49
Án mạng “Chuột Chín Đầu”
Phần 3
Dịch: Lãng Nhân Môn


Ngõ Tiên Hà trên đường Đại Tây do đồn công an Trấn Bình của phân cục đường Đại Tây trực thuộc cục công an thành phố Trấn Giang quản lý, đạp xe từ bến tàu qua đó cũng không xa lắm. Lúc này trời hãy còn nhá nhem, đèn đường vẫn sáng. Mục Dung Hán thầm nghĩ nếu giờ này mà đến thẳng nhà của Hoàng Kế Sĩ thì hơi sớm, chi bằng mình đến đồn công an Trấn Bình ngồi chờ một lúc. Dù sao thì lần này cũng chỉ là đến cho mời chứ không phải bắt người, không cần phải làm căng lên.
Ba công an trực đêm của đồn công an Trấn Bình vẫn chưa hết ca, người dẫn đầu là phó đồn trưởng Tiểu Mã. Tiểu Mã là người Lai Dương, Sơn Đông, năm nay 20 tuổi, xuất thân là nhân viên bán hàng, thực ra là đoàn viên ngầm. Trước khi quân giải phóng xuống nam chuẩn bị chiến dịch vượt sông thì địa phương đã kêu gọi các thanh niên tích cực báo danh tham gia đoàn cán bộ xuống nam. Tiểu Mã ghi danh, được phân vào đại đội thứ hai của trung đoàn vượt sông xuống nam, đi theo đại đội trưởng Hà Băng Hạo tiếp quản Trấn Giang, được tổ chức phân cho làm phó đồn trưởng đồn công an Trấn Bình. Đại đội trinh sát túng đội chín sở tại của Mục Dung Hán từng trú đóng cùng đại đội thứ hai của trung đoàn vượt sông xuống nam một thời gian, nên cũng quen biết Tiểu Mã.
Tiểu Mã thấy Mục Dung Hán mới sáng sớm đã ghé qua, còn tưởng là bên thành phố có nhiệm vụ khẩn cấp gì. Sau khi nghe xong lý do Mục Dung Hán đến đây thì Tiểu Mã mỉm cười bảo anh cứ thủng thẳng, ăn sáng xong hãy gọi người tình nghi tới cũng không muộn, lại bảo công an Tiểu Trương cùng ca trực với mình đi mua bánh nướng, quẩy và sữa đậu nành. Tiểu Trương ra ngoài xong thì Tiểu Mã lại nhờ người công an khác là lão Hồng đi tìm tài liệu hộ tịch của Hoàng Kế bính để giới thiệu sơ qua về tình huống của người này cho Mục Dung Hán rõ.
Thật ra lão Hồng chẳng cần nhìn tài liệu hộ tịch cũng có thể đọc vanh vách ra, bởi vì anh ta là hàng xóm của Hoàng Kế Sĩ. Lão Hồng cũng xem như dân gốc ở ngõ Tiên Hà này, gia đình anh ta đã ở trong con ngõ cũ xưa đó ba đời. Anh ta nói với Mục Dung Hán rằng ông nội của mình năm đó là quan ngũ phẩm Thanh triều, ông chú thì là thương nhân nổi tiếng ở Trấn Giang khi đó. Trước kia hơn phân nửa ngõ Tiên Hà đều là đất của nhà anh ta. Sau cách mạng Tân Hợi thì gia đạo nhà họ Hồng suy tàn, đất đai cũng bán đổ bán tháo đi, cuối cùng chỉ còn lại hai căn tiểu viện có cửa đối diện nhau của lão Hồng và ông anh họ. Tiểu viện mà Hoàng Kế Sĩ đang ở là do người cha vợ Hoàng Chuẩn Đình đã qua đời của hắn ta mua lại từ nhà họ Hồng.
Hoàng Chuẩn Đình là ông chủ cửa hàng bán tương có tiếng ở Trấn Giang, lúc cô con gái duy nhất của ông là Hoàng Thải Vân tròn 20 tuổi thì Hoàng Chuẩn Đình đã mua căn nhà ở ngõ Tiên Hà này làm quà cho con gái ở. Không bao lâu sau, Hoàng Thải Vân được một dược sĩ quê Hồ Bắc đang làm trong bệnh viện giáo hội Trấn Giang để ý, nhờ người tới mai mối. Nhưng Hoàng Chuẩn Đình chỉ có mỗi cô con gái này nên nhất quyết đòi bắt rể. Người dược sĩ kia lập tức đồng ý. Sau đó hai vợ chồng cũng sống luôn ở ngõ Tiên Hà. Một năm sau Hoàng Thải Vân sinh được một cô con gái, hai năm sau lại sinh thêm cậu con trai, ngôi nhà từ hai người trở thành bốn người. Nào ngờ, năm thứ 5 sau khi kết hôn, dược sĩ nọ mắc bệnh lao, chạy chữa không khỏi nên đã qua đời.
Hoàng Thải Vân trở thành quả phụ, ở ngõ Tiên Hà nuôi hai đứa con. Nhờ sức của cha cô, nên tuy rằng cô không có nghề nghiệp gì nhưng cũng sống rất thoải mái. Hoàng Thải Vân thủ tiết nuôi con suốt 10 năm, đến năm 1940 thì cô đã 35 tuổi. Lúc này cha cô mới đánh tiếng muốn con gái tái hôn. Cũng từ lúc này mà nhà họ Hoàng mới xảy ra biến hóa. Mẹ của Hoàng Thải Vân đã mất vì bệnh từ 3 năm trước, năm nay Hoàng Chuẩn Đình cũng đã gần lục tuần, trước đó không bao lâu vừa khám ra ông bị bệnh thận nặng, chắc cũng không còn nhiều thời gian nữa.
Nên Hoàng Thải Vân bắt đầu nhờ bà mai sắp xếp đối tượng, vẫn là quy tắc cũ – nhà trai phải ở rể, ngoài ra còn có thêm quy tắc mới là nhà trai phải đổi sang họ Hoàng.
Điều đầu tiên thì dễ rồi, nhưng điều thứ hai thì phải bàn lại. Nhưng Hoàng Thải Vân ấy à, ỷ vào hai ưu thế lớn của mình là “tài” và “mạo” nên quyết không lùi bước, nhất định phải đồng ý với cả hai điều kiện này thì cô ta mới chịu cân nhắc. Cũng vì thế cho nên dù mấy bà mai đều có bản khua môi múa mép như thật, nói một đống phân chó thành cục vàng ròng đi chăng nữa, nhưng nhà trai người ta đều không muốn đổi họ thì cũng đành chịu.
Sau này cuối cùng cũng có một người đàn ông chấp nhận điều kiện của Hoàng Thải Vân. Đối phương là người An Huy, độc thân chưa lập gia đình, làm môi giới thủy sản. Hai bên vừa gặp mặt, Hoàng Thải Vân rất hài lòng với tuổi tác, tướng mạo và lời lẽ của đối phương nên lập tức quyết định chuyện cưới xin.
Nhưng nhà trai cũng có điều kiện, ấy chính là không muốn rêu rao, không đăng báo như thói quen lưu hành khi ấy, cũng không muốn bày tiệc linh đình, trong nhà đặt hai bàn tiệc rượu để mời bạn bè họ hàng bên nhà gái là được.
Điều này cũng đúng ý nhà gái, hai bên thống nhất với nhau. Ngày 29 tháng 10 năm 1940, hai người cử hành một hôn lễ đơn giản, môi giới thủy sản tên khai sinh Chung Kế Sĩ đổi họ thành Hoàng Kế Sĩ, trở thành ông chồng thứ hai của Hoàng Thải Vân.
Khi đó Trấn Giang đang nằm trong quyền thống trị của chính quyền Ngụy Nhật, quản lý hộ khẩu dân cư rất nghiêm. Quy định cư dân từ vùng khác đến Trấn Giang cư ngụ trong vòng nửa năm thuộc diện trú quán (nhận nơi cư ngụ làm quê quán), cũng tức là hộ khẩu tạm thời, ngay cả màu thẻ lương dân cũng khác với cư dân bản địa, trú quán tròn nửa năm sẽ chuyển thành nguyên quán, tức hộ khẩu bản địa.
Lúc ấy lão Hồng đã làm cảnh sĩ cấp một trong đồn cảnh sát của Nhật Ngụy. Anh ta học đến năm hai cấp 2 thì nghỉ học, ở thời điểm đó cũng xem như người có văn hóa nên làm việc quản lý hộ tịch ở phân cục cảnh sát Ngụy. Sau khi Hoàng Kế Sĩ vừa ở rể không bao lâu thì Hoàng Thải Vân tìm lão Hồng nhờ anh ta giúp chồng mình làm hộ khẩu.
Lão hồng nhớ tài liệu mà Hoàng Kế Sĩ đưa ra lúc đó là: Một tờ chứng minh hộ khẩu của cục cảnh sát trấn Vô Thành huyện Vô Vi tỉnh An Huy, lại còn là một năm trước kháng chiến. Hoàng Kế Sĩ giải thích là năm đó sau khi rời quê thì không quay về nữa. Một phần khác là nghiệp đoàn môi giới thủy sản do thương hội thành phố Trấn Giang của Ngụy đã đưa ra giấy chứng minh nghề nghiệp của Hoàng Kế Sĩ. Còn một phần là chứng minh hộ tịch của đồn cảnh sát trấn Cam Lộ huyện Trấn Giang, cho thấy Hoàng Kế Sĩ khi đó đã là cư dân nguyên quán của trấn. Dựa theo quy định, lão Hồng phải xác minh ba phần tài liệu này. Huyện Vô Vi thì đương nhiên là không đến được rồi, có thể miễn kiểm tra. Nhưng nghiệp đoàn môi giới thủy sản và trấn Cam Lộ thì vẫn phải đi một chuyến. Chẳng qua vì Hoàng Thải Vân hối thúc gấp quá, mà vợ của lão Hồng khi ấy vừa sinh con đầu, trong nhà còn biết bao việc nên mới rút gọn thủ tục này, trực tiếp kết thúc cho Chung Kế Sĩ đổi tên thành Hoàng Kế Sĩ, ngụ tại nhà số 73 ngõ Tiên Hà của Hoàng Thải Vân. Sau đó lại làm giấy chứng minh lương dân cho Hoàng Kế Sĩ. Xong xuôi Hoàng Thải Vân còn tặng riêng cho lão Hồng hai điếu thuốc lá thơm Hatamen.
Sau khi hai người bọn họ kết hôn thì cuộc sống gia đình cũng tạm xem như êm ấm, năm 1944 Hoàng Thải Vân lại sinh thêm một cu cậu. Hoàng Kế Sĩ vẫn luôn làm môi giới ở ngoài bến thủy sản, ngoài ra nghe đâu hắn ta còn đầu tư vào nghành khác nữa, nhưng chắc là không lời lãi gì nhiều.
Với thân phận cảnh sát của lão Hồng, nếu như Hoàng Kế Sĩ đầu tư mà trúng đậm hoặc bay hết vốn liếng thì mấy lời đồn trên phố chắc chắn không thoát khỏi tay anh ta. Vậy tại sao sau khi giải phóng Trấn Giang thì Hoàng Kế Sĩ lại không làm gì nữa, ngay cả công việc tốt như môi giới thủy sản đang làm ngon lành cũng bỏ ngang?
Lão Hồng nói lúc điều tra hộ khẩu thì anh ta đã hỏi thẳng Hoàng Kế Sĩ, đối phương giải thích là do mắc bệnh suyễn.
Làm môi giới thủy sản thì cứ 2 - 3 giờ sáng là phải chạy tới bến tàu làm việc ngay ngoài trời, còn phải nhảy từ chiếc thuyền này qua đến chiếc thuyền kia, một buổi chợ sớm ít thì cũng phải kiểm hàng của hai ba chục chiếc thuyền đánh cá rồi định giá, vừa lạnh vừa ẩm ướt như thế khiến hắn không chịu được. Làm bao nhiêu năm nay, cộng thêm thu hoạch từ mấy lần đầu tư vào việc khác trước kia, trong tay Hoàng Kế Sĩ cũng có chút vốn liếng. Ngoài ra Hoàng Thải Vân cũng hay ngăn không cho hắn làm tiếp, nên cuối cùng mới quyết định nghỉ ở nhà.
Lúc nói đến đây thì có tiếng bước chân dồn dập vọng vào, một người dân thở hồng hộc chạy thẳng vào đồn công an: “Không... Không xong rồi... Giết người!!”
Lão Hồng nhìn kỹ thì hóa ra là hàng xóm Triệu Hữu Tài cùng ngõ Tiên Hà của mình nên đưa một ly nước qua, miệng bảo: “Anh đừng gấp, uống miếng nước cho bình tĩnh lại rồi kể rõ đầu đuôi cũng không muộn.”
Triệu Hữu Tài nhấp hai hớp nước, vừa nói rõ tình hình ra thì Mục Dung Hán giật mình suýt chút nữa đã nhảy dựng lên – Hoàng Kế Sĩ đã bị người ta giết chết.
Ngày 23 tháng 4 năm 1949 Trấn Giang giải phóng, một tuần sau - tức là ngày 1 tháng 5 Hoàng Kế Sĩ đột nhiên quyết định nghỉ làm ở nghiệp đoàn môi giới thủy sản. Từ đó về sau gần như không ra khỏi cửa, suốt ngày chỉ ru rú ở trong nhà. Nội dung cuộc sống hàng ngày của hắn ta đúng chuẩn nhàn rỗi: Sáng sơm thức dậy đánh một bài Thái Cực, luyện khí công, uống trà thưởng rượu, chăm hoa nhổ cỏ, tỉa tót mấy chậu cảnh, đọc báo, nghe đài, nếu không thì viết chữ hoặc vẽ tranh. Cứ kéo dài như thế cho đến cuối tháng 9 thì lại có một chuyện xảy ra, làm đảo lộn hết tiết tấu sinh hoạt yên bình của Hoàng Kế Sĩ.
 

Tư Hoa Niên

Trúc Cơ Sơ Kỳ
Ngọc
2,556
Tu vi
49
Án mạng “Chuột Chín Đầu”
Phần 4
Dịch: Lãng Nhân Môn

Ngày 1 tháng 10, Bắc Kinh cử hành lễ khai quốc, dựa theo trung ương thống nhất bố trí, phàm là những thành phố đã giải phóng, cùng ngày hôm đó đều phải tổ chức quần chúng nghe phát thanh về buổi lễ và tổ chức diễu hành chúc mừng ngay tại quảng trường chính, thành phố nào có điều kiện còn có thể đốt chút pháo hoa cho bầu không khí thêm sôi động. Thành phố Trấn Giang lúc đó đã kết thúc lịch sử làm tỉnh lị Giang Tô của nó, chỉ là một thành phố dưới cơ quan hành chính Tô Nam, điều kiện tương đối kém, không thể đốt pháo hoa, nhưng diễu hành thì nhất định không thể thiếu được.
Diễu hành lại không thể đi tay không, trước mỗi đội ngũ đều phải có biểu ngữ tuyên truyền, hoành phi, trong tay mỗi người đều cầm một lá cờ giấy đỏ rực hình chữ nhật được viết thêm vài khẩu hiệu tuyên truyền. Lúc ấy chẳng có nhiều người làm công tác văn hóa phổ biến, ủy ban dân cư ngõ Tiên Hà không đủ người làm nên chợt nhớ tới Hoàng Kế Sĩ. Nên một bác gái bên ủy ban mới tới nhà mời, nào ngờ lại bị Hoàng Kế Sĩ uyển chuyển từ chối.
Chủ nhiệm ủy ban dân cư là lão Trầm đành phải tự mình ra mặt. Lão Trầm xuất thân quân Tân Tứ, năm đó quân Tân Tứ mở cứ địa Mao Sơn, ông là thanh niên nhiệt huyết nên đã tham gia phá tan tuyến phong tỏa của Nhật Ngụy, từng làm nhân viên cảnh vệ của Vương Tất Thành. Hai năm sau bị thương nên được đưa đến Tô Châu dưỡng thương, sau khi lành lại thì một chân bị tật nên đành ở lại Tô Châu, đến khi Trấn Giang giải phóng thì mới trở về. Lúc ấy, những người có kinh nghiệm như ông đều được mọi người kính trọng, nên lão Trầm vừa ra mặt thì Hoàng Kế Sĩ chỉ có thể nghe theo.
Hoàng Kế Sĩ vốn tưởng rằng làm xong công việc ở ủy ban dân cư là xong, nào ngờ lại hết việc này đến việc khác, đảng chấp chỉnh đưa ra chính sách, vận động lẫn phát động gì cũng được, phải ra sức tiến hành tuyên truyền với quần chúng nhân dân. Hoàng Kế Sĩ đã thể hiện bản lĩnh thư pháp cùng với mấy bức họa không tệ của mình, khiến cho mấy người lão Trầm nhớ rõ. Nên sau khi lễ chúc mừng khai quốc vừa hoàn thành thì hoạt động tuyên truyền “giúp đỡ tiền tuyến, giải phóng đại tây nam” lập tức bắt đầu. Lần này không cần lão Trầm phải tới cửa nữa, người tới là một cậu thanh niên chuyển lời, thông báo cho Hoàng Kế Sĩ đến khu chính phủ tham gia hoạt động tuyên truyền. Lần này thì Hoàng Kế Sĩ lại bận bù đầu, hơn hai tuần liền, ngày nào cũng đi sớm về muộn, đôi khi bận đến khuya phải ngủ lại khu chính phủ.
Đối với Hoàng Thải Vân mà nói, chồng được chính phủ nhân dân “bắt đi làm việc” chỉ là do bất đắc dĩ, mặc dù trong lòng hơi khó chịu nhưng vẫn không tiện mở miệng. Sau khi tân Trung Quốc thành lập, loại người xuất thân từ giai cấp bóc lột như cô chỉ có thể nhắm mắt nghe theo. Ngày hôm qua, 8 giờ sáng Hoàng Kế Sĩ đã ra ngoài, nói là đến khu chính phủ giúp bố trí hội trường, còn phải chuẩn bị hoành phi, biểu ngữ để diễu hành chúc mừng Quảng Châu giải phóng, có thể sẽ về muộn một chút, nếu làm muộn quá có thể sẽ ngủ lại khu chính phủ. Nên đêm đó Hoàng Thải Vân cũng không lo lắm khi thấy chồng mình không về. Sáng sớm hôm nay, Hoàng Thải Vân và ba đứa con còn đang say giấc thì bị một tràng đập cửa làm sực tỉnh. Cô vội vàng khoác quần áo xuống giường, chạy nhanh ra ngoài, còn chưa mở cửa đã cao giọng hỏi người bên ngoài là ai.
Người bên ngoài đáp: “Chị Hoàng ơi, có chuyện rồi! Ông nhà chị bị người ta giết rồi!”
Hoàng Thải Vân giật mình hoảng sợ, mở cửa ra xem, đập vào mắt chính là ông chồng của mình nằm bên cửa, người toàn là máu!
Dựa theo quy định, khi xảy ra án mạng phải báo lên phân cục hoặc cục công an thành phố. Phó đồn trưởng đồn công an Trấn Bình là Tiểu Mã lập tức gọi điện thoại báo cáo lên hai nơi, sau đó mới gọi lão Hồng chạy thẳng đến hiện trường.
Lúc đó Mục Dung Hán chỉ có thể xem như người ngoài. Sau khi hình cảnh phân cục, cục thành phố và pháp ý điều tra hiện trường, giải phẫu thi thể. Vừa quay về cục thành phố thì anh lập tức nhận được thông báo: Thành lập tổ chuyên án để điều tra vụ án mạng này, do anh đảm nhiệm chức tổ trưởng.
Tổ chuyên án tổng cộng có bốn điều tra viên, ngoại trừ tổ trưởng Mục Dung Hán ra thì ba vị còn lại là hình cảnh phân cục đường Đại Tây là Từ Tử Sơn, Hồ Chân Lực và Tống Bỉnh Quân cảnh sát nhân dân ở đồn công an Trấn Bình.
Từ Tử Sơn và Hồ Chân Lực đều là hình trinh có hơn mười năm kinh nghiệm nên được giữ lại làm hình cảnh, Tống Bỉnh Quân 19 tuổi thì là công an mới vừa bắt đầu làm việc chưa tới ba tháng. Mục Dung Hán và ba người hàn huyên một lúc, biết được trước kia Từ Tử Sơn và Hồ Chân Lực từng điều tra án mạng, nhưng là một thành viên trong nhóm chuyên án hơn mười người, cũng không có phát huy xuất sắc gì, chỉ tương đương với nhân vật cầm cờ trên sân khấu mà thôi. Nên anh lập tức ý thức được gánh nặng đè lên vai mình lúc này.
Phân cục đường Đại Tây đã cấp cho tổ chuyên án một căn phòng nhỏ làm văn phòng, bốn người Mục Dung Hán bắt đầu tiến hành lần phân tích vụ án đầu tiên trong căn phòng đầy mùi ẩm mốc này.
Từ Tử Sơn và Hồ Chân Lực trước đó từng tham gia điều tra hiện trường, Mục Dung Hán cũng ở đó từ đầu chí cuối. Anh hỏi hai người kia có phát hiện manh mối gì ở hiện trường hay không thì cả hai đều cười khổ. Mục Dung Hán mới nói: “Lão Từ, lão Hồ, không dám gạt hai anh, mặc dù tôi từng làm trinh sát lúc ở bộ đội, nhưng đó là trinh sát quân sự, kiểu điều tra rất khác với hình sự. Công tác hình trinh ắt hẳn phải kỹ càng hơn trinh sát quân sự nhiều. Còn Tiểu Tống ấy à, cũng là lính mới như tôi cả, cần phải vừa làm vừa học. Hai anh là hình cảnh lâu năm, chúng ta cùng nhau điều tra chuyên án này thì hai anh phải ra sức nhiều hơn. Bây giờ chúng ta đóng cửa lại thảo luận nội bộ về vụ án này, hai anh có gì thì cứ nói cái đó vậy.”
Hai người Từ, Hồ mới nói về tình tình lúc điều tra hiện trường. Pháp y giải phẫu xác định thời điểm từ vong ước chừng là nửa đêm, nạn nhân vào ngõ Tiên Hà, lúc đi đến cửa nhà móc chìa khóa ra định mở cửa thì bị tấn công bất ngờ, hung thủ tấn công từ phía sau, tay trái siết chặt cổ của nạn nhân, tay phải cầm dao găm đâm thẳng vào gan của nạn nhân, một dao mất mạng. Suy đoán đừ vết tụ huyết do mạch máu ở cổ của nạn nhân bị vỡ thì hắn đã từng giãy giụa một chút, nhưng căn bản chẳng có chút hiệu quả nào. Lúc pháp y và hình cảnh điều tra từng mô phỏng lại quá trình gây án tại chỗ, cho ra kết luận: Có thể hung thủ đã bám theo nạn nhân một đoạn, cũng có thể đã nấp sẵn trong ngõ từ trước, đợi đến khi nạn nhân chuẩn bị mở cửa thì bất ngờ ra tay. Căn nhà số 73 mà nạn nhân đang cư ngụ là nhà nằm ở cuối ngõ Tiên Hà, trong ngõ không có đèn, tối qua trời lại nhiều mây nên chẳng có trăng sao gì, dù là bám đuôi hay phục kích, chỉ cần không tạo ra tiếng động quá lớn thì nạn nhân sẽ khó mà phát hiện.
Như thế có thể suy đoán, hung thủ hẳn là một tên sát thủ lành nghề. Ra tay từ góc độ này thì trên người hung thủ chắc hẳn sẽ không bị dính máu, nhưng có thể bàn tay phải cầm dao và ống tay áo sẽ để lại dấu vết. Ngõ Tiên Hà lại là con đường lát đá, tối hôm qua lại không có mưa, lẽ ra sẽ để lại dấu chân. Nhưng sáng nay, sau khi phát hiện Hoàng Kế Sĩ bị hại, hàng xóm chen lấn bu vào xem nên đã giẫm đạp rất nhiều, khó mà phân biệt được.
Nếu như đã không có thu hoạch gì ở hiện trường thì tổ chuyên án phải mở rộng bước điều tra tiếp theo bằng cách nào?
Mục Dung Hán lại hỏi: “Ba đồng chí có ý kiến gì không?”
Tống Bỉnh Quân lập tức nói: “Tôi nghe lãnh đạo, anh bảo làm gì thì tôi sẽ làm như thế.”
Từ Tử Sơn cũng gật đầu phụ họa. Chỉ có Hồ Chân Lực là đề xuất một vấn đề: “Khi nãy tôi nghe lão Hồng bên đồn công an nói lúc trước tổ trưởng Mục đang điều tra về Hoàng Kế Sĩ, không biết nạn nhân gặp chuyện có liên quan gì tới việc anh đang điều tra hay không?”
Mục Dung Hán bèn kể lại chuyện mình được lệnh điều tra tình huống về 37 bức thư tố giác nhằm vào Hoàng Kế Sĩ ra, sau đó lại nói: “Xem ra cái chết của Hoàng Kế Sĩ có liên quan đến thư tố giác hay không cũng là một trong những phương hướng mà tổ chuyên án cần phải điều tra. Ngoài ra mọi người còn phương hướng nào khả thi nữa không?”
Từ Tử Sơn bèn nói: “Dựa theo lối làm việc cũ của hình trinh thì cần phải điều tra những hoạt động của Hoàng Kế Sĩ vào mấy ngày trước đó đã làm gì, có hành vi bất thường gì hay không, đặc biệt là một ngày trước khi bị hại. Còn phải đến hỏi thăm các hộ gia đình khác trong ngõ Tiên Hà, để xem tối hôm đó có ai nghe thấy hoặc nhìn thấy động tĩnh liên quan đến vụ án này hay không.”
Lúc này Tống Bỉnh Quân cũng đánh bạo lên tiếng: “Tổ trưởng Mục anh xem có phải nên mời người phụ nữ thuê viết thư tố giác kia đến hợp tác điều tra hay không? Nói không chừng tìm được cô ta thì sẽ có manh mối về vụ án này ấy chứ.”
Mục Dung Hán ngẫm nghĩ một lúc: “Vậy thì chúng ta chia làm hai đường tiến hành điều tra. Lão Hồ và tôi đi thăm dò manh mối về cô gái tóc xoăn kia. Lão Từ, tiểu Tống, hai người phụ trách tình huống của Hoàng Kế Sĩ trước khi bị giết và hỏi thăm người dân trong ngõ Tiên Hà.”
 

Tư Hoa Niên

Trúc Cơ Sơ Kỳ
Ngọc
2,556
Tu vi
49
Án mạng “Chuột Chín Đầu”
Phần 5
Dịch: Lãng Nhân Môn


Án mạng “Chuột Chín Đầu” - Phần 5
Việc điều tra kể trên tiến hành hơn hai ngày, từ trưa ngày 21 tháng 10 đến khuya ngày 23 tháng 10, cả bốn điều tra viên đều không có thu hoạch gì.
Tối ngày 23, tổ chuyên án lại họp thêm lần nữa để thảo luận về vụ án, bàn tới bàn lui lại cảm thấy hình như không có đường nào để đi.
Đêm đó, Mục Dung Hán chỉ ngủ hơn ba giờ, trong đầu luôn nghĩ về phương hướng điều tra của vụ án mạng này, nhưng nghĩ tới nghĩ lui mà vẫn không thông.
Hôm sau, ngày 24 tháng 10, trời đổ mưa thu, cứ tí tách khiến người ta khó chịu. Mục Dung Hán mới từ ký túc xá tập thể của cục thành phố chạy tới văn phòng tổ chuyên án ở phân cục đường Đại Tây thì nhận được điện thoại của Tiểu Mã - phó đồn trưởng đồn công an Trấn Bình, nói: “Lão Mục, xem ra anh phải dẫn theo cấp dưới xuống nông thôn một chuyến rồi.”
Mục Dung Hán vội hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì à?”
Tiểu Mã mới kể là có chuyện lạ: “Vừa rồi vợ của nạn nhân là Hoàng Thải Vân khóc lóc chạy tới đây, nói là cả quan tài lẫn thi thể của chồng cô ta đều bị người khác đốt mất rồi!”
Gia tộc họ Hoàng phát triển từ thời Quang Tự triều Thanh, dần trở thành một gia tộc lớn ở Trấn Giang, mãi cho tới thời kỳ kháng chiến mới suy sụp, nhưng đám người ham mê những thứ hào hoa xa xỉ xưa kia vẫn còn, từ đường và mộ viên Hoàng gia trang ở vịnh Thất Lý bên thành nam chính là chứng cứ rõ ràng nhất.
Năm Quang Tự hai mươi, lão đại nhà họ Hoàng lúc đó là phú thương Hoàng Chấn Hoàn bỏ vốn mua lại mười bảy mẩu đất ở Hoàng gia trang, khởi công xây dựng từ đường và mộ viên. Dựa theo quy định do Hoàng Chấn Hoàn đã lập, đàn ông trong nhà họ Hoàng chỉ cần lúc sống chưa từng phạm phải sai lầm gì lớn thì sau khi chết đều có thể chôn cất ở mộ viên và đặt bài vị trong từ đường. Thời đầu dân quốc, con cháu của Hoàng Chấn Hoàn lại sửa quy tắc một chút, thuận theo trào lưu, đàn ông khác họ ở rể đã đổi sang họ Hoàng, sau khi chết cũng có thể chôn cất trong mộ viên dựa theo đãi ngộ của đàn ông trong họ, bài vị cũng có thể đưa vào từ đường. Lần này, Hoàng Kế Sĩ chết oan cũng được làm theo quy định đã sửa lại kia.
Phú thương Hoàng Chấn Hoàn là một người có tư duy cởi mở và sở thích khá lập dị, trong quy định mà ông đặt ra còn có một cái mà những gia tộc khác không có: Người chết được chôn vào mộ viên họ Hoàng phải để quan tài ở hậu viện từ đường ba năm mới được hạ táng nhập thổ. Quy định như thế đại khái là sợ người chết đã che giấu sai phạm nghiêm trọng lúc sinh tiền, sau khi chết mà bị lộ ra thì cũng không thể nào từ đường hay chôn cất ở mộ viên. Dù sao thì cũng chưa hạ táng, đưa ra cũng chẳng sao. Đương nhiên, theo lý thuyết thì dù đã hạ táng cũng có thể đào quan tài lên, nhưng với quan điểm của Hoàng lão gia tử thì làm thế là động đến phong thủy, sẽ hại đến gia đình.
Lúc trước khi lão gia tử lập ra quy định này thì có người trong họ đề nghị cứ xây hẳn một sảnh khác ở bên cạnh từ đường, chuyên đặt quan tài đang trong thời gian chờ ở đó, để lễ lạt người thân cũng tiện đến cúng bái, nhưng bị lão gia tử phủ quyết thẳng thừng.
Tại sao lại như thế? Nghe nói Hoàng Chấn Hoàn đã vì chuyện này mà đặc biệt nhờ một vị đạo sĩ tinh thông phong thủy và tướng số đến xem, cho rằng quan tài phải đặt ở ngoài trời để lệ khí bay đi, sau này nhập thổ thì sẽ không quấy phá, người trong gia tộc mới có thể yên ổn.
Nếu vậy, quan tài để lộ thiên đến ba năm, gió thổi mưa xối, đến khi hạ táng chẳng phải đã tróc sơn, nứt nẻ hết rồi ư? Điều này thì Hoàng lão gia tử đã cân nhắc tới: Cứ đến tiết Tam Phục (1) mỗi năm thì lại mời thợ sơn đến sơn lại cho mỗi chiếc quan tài là được.
Dựa theo quy định hơn 60 năm trước, trong nhà dân chúng bình thường có ai qua đời, chỉ cần gia cảnh không tệ thì ít nhất cũng để quan tài ba ngày, an ủi hương hồn của người đó. Nhưng tình huống của Hoàng Kế Sĩ lại khác, hắn ta chết oan, thi thể lại bị giải phẫu nên Hoàng Thải Vân vợ hắn mới nghe theo đề nghị của lớp cha chú trong tộc, ngày thứ hai sau khi bị hại đã nhập liệm, ngày thứ ba – tức 23 tháng 10 thì thuê một chiếc thuyền chuyển về Hoàng gia trang, đặt ở hậu viện từ đường. Nào ngờ, đến nửa đêm thì quan tài của Hoàng Kế Sĩ đã bị đốt!
Từ đường và mộ viên gia tộc của nhà họ Hoàng có người quản lý riêng, đó là một nhà nông dân nghèo khổ họ Diêu. Đầu của người này hơi dị dạng, hơi vuông vức mà còn khá lớn, nên mọi người mới gọi anh ta là Diêu đầu to.
Lúc trước Hoàng Chấn Hoàn mua đất xây từ đường và mồ mả xong, khi chọn người quản lý thì điều kiện là người nghèo trung hậu thành thật và chịu khó, lại không ruộng đất nhà cửa. Sau khi được chọn thì cả nhà có thể vào từ đường ở, được cho ở và dùng hai gian, miễn thuế vài mẫu khi trồng trọt trên điền sản của nhà họ Hoàng, kế thừa qua các đời. Lúc ấy đã chọn trúng ông nội của Diêu đầu to chạy nạn từ Tô Bắc tới đây, đến Diêu đầu to đã là đời thứ ba.
Tối hôm qua, một nhà năm người của Diêu đầu to vẫn như mọi khí, sau khi trời sập tối thì đi nghỉ. Đến nửa đêm về tối thì vợ của Diêu đầu to giật mình thức dậy, mở mắt ra thì thấy bên ngoài cửa sổ có ánh lửa sáng rực thì biết ngay là có chuyện nên vội đánh thức chồng mình dậy.
Diêu đầu to không kịp mặc áo ngoài đã chạy vội ra ngoài xem thử, lúc này vừa hoảng sợ lại lấy làm khó hiểu: Chỗ bị cháy đúng là hậu viện! Nhưng hậu viện là nơi đặt quan tài, sao lại cháy được?
Diêu đầu to lập tức cầm thùng nước chạy thẳng đến hậu viện. Lửa cháy ở chiếc quan tài vừa mới đưa đến vào ban sáng, nắp quan tài đã bị cháy trụi, bên vách cũng sắp rã ra, thi thể bên trong cùng đồ bồi táng cũng bắt lửa.
Lúc này cả vợ và con của Diêu đầu to cũng chạy tới, cả nhà rối rít kéo nước dập lửa, cuối cùng cũng dập được. Nhưng thi thể của Hoàng Kế Sĩ đã bị tổn hại nghiêm trọng, bị lửa thiêu là thứ yếu, hơn phân nửa là do mấy túi vôi sống được nhét vào quanh thi thể lúc nhập liệm đã sinh ra phản ứng hóa học khi bị giội nước vào gây nên.
Người dân trong Hoàng gia trang thấy quan tài bốc cháy thì đều tấm tắc làm lạ. khi đó mọi người đa phần đều mê tín, bắt đầu nói thiên về hướng quỷ thần, khiến cho Diêu đầu to xưa nay vốn xem như lớn gan cũng phải giật thót, lập tức gạt bỏ suy nghĩ vào thành phố báo lại với nhà họ Hoàng ngay trong đêm.
Đến khi trời vừa sáng anh ta mới vào thành phố, nhưng lại không biết nhà của Hoàng Thải Vân ở đâu, chỉ biết nơi ở của cụ ông Hoàng Kim Bạch thường đại biểu cho gia tộc để liên lạc với anh ta. Hoàng Kim Bạch nghe xong thì giật mình kinh hãi, lập tức sai con mình dẫn Diêu đầu to đến ngõ Tiên Hà.
Hoàng Thải Vân lại mê tín nặng hơn nữa, nghe Diêu đầu to nói người dưới quê nghi ngờ đây là “lửa trời” thì sợ tới mức run lẩy bẩy, luôn miệng hỏi “Thế phải làm sao bây giờ?”
Diêu đầu to là một anh nông dân chân đất, nào biết phải làm sao. Nhưng người con trai làm giáo sư của Hoàng Kim Bạch thì có kiến thức nên bảo là thôi thì cứ báo lên đồn công an đi.
Sau khi tới đồn công an kể rõ mọi việc thì cảnh sát đang có mặt, bao gồm cả người xem như có kiến thức rộng rãi lão Hồng cũng phải giật mình, thầm nghĩ người ta đã chết rồi mà còn muốn đốt cả xác như thế ư?
Lúc này phó đồn trưởng Tiểu Mã mới lập tức gọi điện cho tổ chuyên án.
Mục Dung Hán nghe xong thì lập tức gọi ba người Từ, Hồ, Tống đến Hoàng gia trang.
Sau khi đi vào hậu viện từ đường thì thấy quan tài đã cháy gần hết, thi thể của Hoàng Kế Sĩ cũng bị khói xông, lửa đối và vôi nướng nên rất thê thảm. Điều tra viên thậm chí còn hoài nghi không biết đây có phải là thi thể của Hoàng Kế Sĩ hay không. Sau khi hỏi Hoàng Thải Vân thì cô mới lau nước mắt nói đây đúng là di thể của chồng mình, bởi vì trên lưng của Hoàng Kế Sĩ có một vết sẹt, bọn họ đã xem qua và xác định là đúng.
Hậu viện của từ đường có diện tích ước chừng 7-80 thước vuông, đặt 19 chiếc quan tài, đều là thành viên nhà họ Hoàng đã qua đời trong ba năm nay. Trong sân là sân đất, đêm qua Diêu đầu to dập lửa đã giội hơn hai mươi thùng nước, lại thêm cả đám thôn dân chạy đến xem, lúc hửng sáng lại có mưa, mặt đất thảm cỡ nào không nói cũng biết.
Nhưng điều tra viên vẫn phát hiện được một cái bình nằm kế khung gỗ lót bên dưới quan tài, ngửi thử thì phát hiện có mùi xăng, nên kết luận quan tài của Hoàng Kế Sĩ là bị người ta tạt xăng đốt. Thủ phạm tạt xăng lên nắp quan tài, nên lúc Diêu đầu to phát hiện hỏa hoạn và chạy tới thì nắp quan tài đã sắp bị thiêu trụi.
Điều tra viên lại kiểm tra tường viện, phát hiện góc phía đông có dấu vết ai đó leo qua. Trên mặt đất bên ngoài tường cũng có một dấu chân rõ ràng, vừa nhìn đã biết là để lại vào đêm hôm qua, bởi vì giẫm khá mạnh nên không bị cơn mưa sáng nay xối đi hết. Khi đó cơ quan công an còn chưa có kỹ thuật viên chuyên phụ trách lấy dấu, chỉ toàn là hình cảnh tự mình lấy mẫu về. Nhưng tổ chuyên án đi vội quá nên không mang theo bột thạch cao. Từ Tử Sơn cái khó ló cái khôn, nhờ Diêu đầu to vào thôn mua chút bột nếp, cho vào nước quậy lên rồi đổ lên dấu chân đó thay cho bột thạch cao, đợi đến khi bột nếp khô lại thì có thể lấy được một dấu chân hoàn chỉnh.
(Còn tiếp)
(1) Tiết Tam Phục là thời kì nóng nhất trong năm: Sơ phục: 10 ngày tính từ canh thứ ba sau Hạ Chí. Trung phục: 20 ngày, tính từ canh thứ tư sau Hạ Chí. Mạt phục: 10 ngày, tính từ canh thứ nhất sau Lập Thu.
 

Tư Hoa Niên

Trúc Cơ Sơ Kỳ
Ngọc
2,556
Tu vi
49
Án mạng “Chuột Chín Đầu”
Phần 6
Dịch: Lãng Nhân Môn


Khi đó còn chưa có tội xâm phạm mồ mả và thi thể, điều tra viên cũng không xem chuyện này như một vụ án, chẳng qua thi thể bị đốt chính là nạn nhân trong vụ án giết người nên tổ chuyên án mới chú ý tới. Cho nên mọi người cũng tự nhiên liên hệ việc này với vụ án giết người kia.
Nếu như nói hung thủ sát hại Hoàng Kế Sĩ là vì có thù hận, vậy thì mục đích của kẻ đó đã đạt được. Nếu đã đạt được mục đích thì tại sao lại còn đốt thi thể của Hoàng Kế Sĩ đây? Chuyện này khiến người ta khó mà hiểu được. Nhưng cũng có một khả năng, ấy chính là hung thủ có ý đồ đánh lạc hướng điều tra. Nếu là như vậy, chẳng phải chỉ cần điều tra ra được kẻ đốt thi thể là xem như phát hiện được manh mối của hung thủ ư?
Vậy phải tìm kẻ đốt thi thể kiểu gì đây? Trước mắt, trong tay tổ chuyên án có hai manh mối do kẻ đốt thi thể để lại, một là dấu chân, hai là bình rỗng từng dùng để đựng xăng kia. Dấu chân chỉ dùng bột nếp để lấy dấu, không khô được nhanh như thạch cao, dù có khô thì hiện tại cũng không thể làm được gì, bởi vì dựa vào dấu chân thì vẫn không biết phải tìm kiếm kẻ đốt thi thể từ hướng nào. Cho nên các điều tra viên đều dồn hết sự chú ý vào chiếc bình rỗng kia.
Lúc phát hiện chiếc bình này ở hiện trường, Mục Dung Hán để ý thấy hai người hình cảnh còn lại không hẹn mà cùng liếc nhau, biết chắc là có nguyên nhân. Lúc này anh lại bảo Tống Bỉnh Quân đặt chiếc bình lên bàn rồi mỉm cười nói với Từ Tử Sơn và Hồ Chân Lực: “Lão từ, lão Hồ, các anh có cao kiến gì về chiếc bình này không?”
Hồ Chân Lực nói với Từ Tử Sơn: “Lão Từ, anh báo cáo với tổ trưởng Mục đi.”
Đây là một chiếc bình đượng hoàng tửu (rượu vàng). Bình thường mà nói tới hoàng tửu thì mọi người sẽ nghĩ ngay đến Thiệu Hưng, thật ra Giang Nam vẫn còn một loại hoàng tửu khác, ấy chính là rượu Phong Hang đã có ba ngàn năm lịch sử của Đan Dương.
Trấn Giang và Đan Dương cách nhau chưa tới trăm dặm, lúc đó người ở Trấn Giang rất thích uống rượu Phong Hang Đan Dương này. Chiếc bình này chính là bình đựng rượu Phong Hang Đan Dương. Nhưng chiếc bình này hơi đặc biệt một chút. Bình rượu thông thường đều dùng chất liệu thủy tinh, miệng bình dùng một nút bấc dày vài centimet nhét vào, bên ngoài đóng xi gắn nút chai để ngăn không cho mùi rượu bay mất.
Còn chiếc bình này lại làm bằng sứ, hơn nữa lại còn chế tác rất tinh xảo, toàn thân xanh biếc. Nắp bình có hai cái, một là nắp trong, dùng nút bần chất lượng tốt dài hơn một tấc, phủ một lớp ruột dê mỏng. Một cái là nắp ngoài, đồng thời cũng là một ly rượu, được gắn trên bình rượu, miệng ly gắn vào hõm hình tròn trên cổ bình, bởi vì kỹ thuật chế tác rất tinh tế, nên rất chặt, lại kín gió. Chiếc bình rượu này có thể nói là bình chứa, lại là một món đồ thủ công mỹ nghệ.
Tin chắc phàm là khách hàng nào mua loại bình rượu này về, uống hết rượu xong chắc chắn sẽ không nỡ vứt bình đi.
Từ Tử Sơn nói cho Mục Dung Hán biết, loại rượu đựng trong bình này chính là “Rượu đục Lão Tam thôn” do tiệm rượu Vương Lão Tam trong thành Đan Dương bán, đó là hàng cao cấp trong rượu Phong Hang Đan Dương, nghe nói phải chôn dưới đất hơn bảy năm mới mở chum vô bình. Mỗi năm một chum, lúc chôn xuống là năm mươi cân, bảy năm sau khi đào lên mở chum ra chỉ còn lại bốn mươi cân, chia ra đổ vào bốn mươi bình, ông chủ Vương Lão Tam giữ lại cho mình một nửa, nửa còn lại thì đưa ra bán – do hiệu tương Sùng Tín của Trấn Giang kinh doanh độc quyền, giá đắt cắt cổ. Nhưng phần lớn khách hàng mua loại rượu này đều là đại gia nên cũng không tiếc bỏ thêm chút tiền.
Mục Dung Hán nghe xong thì tò mò hỏi: “Rượu này ngon đến vậy à?”
Từ Tử Sơn đáp: “Sao mà tôi biết chứ? Dân chúng bình thường đều chỉ nghe tiếng thôi, đừng nói là mùi vị, ngay cả bình rượu trông thế nào cũng chưa chắc có người biết. Lúc trước khi điều tra vụ án chúng tôi từng đi qua hiệu tương Sùng Tín, có duyên nhìn thấy bình rỗng, giống hệt với chiếc bình này, chẳng qua là màu vàng sáng, không biết khác màu thì có gì khác nhau hay không.”
Vấn đề bây giờ chính là tại sao một chiếc bình như thế lại dùng làm công cụ đựng xăng đốt thi thể đây? Hơn nữa tại sao dùng xong lại ném ở đó mà không cầm về?
Mấy người lại tiến hành phân tích việc này. Bình đựng xăng nhất định phải đóng kín, mà trong thành phố Trấn Giang lúc đó, muốn tìm chiếc lọ nhỏ vừa có thể đóng kín lại thích hợp mang theo bên người cũng không dễ. Lý tưởng nhất đương nhiên là bình nước quân dụng, nhưng trên thị trường căn bản không có bán. Thời điểm đó trên thị trường Trung Quốc còn chưa có đồ nhựa, nên chỉ còn chai rượu, chai nước có gas. Mà nắp chai rượu bình thường đều chỉ có nút bấc dày chừng một centimet, lúc mở ra rất dễ hỏng, không thể dùng thêm lần nữa. Chai nước có gas toàn là nắp phén, phải dùng đồ khui mở ra, mà một khi đã khui ra thì không thể đậy khít lại nữa. Đúng lúc trong tay người đốt thi thể lại có một bình “Rượu đục Lão Tam thôn” nên lấy ra để đựng xăng. Còn tại sao đốt thi thể xong kẻ đó lại không cầm bình đi ấy à, có thể là vì kẻ đó quá căng thẳng, cũng có thể là do kẻ đó căn bản không ý thức được thứ mình cầm rất quý hiếm, kẻ này nhất định thuộc tầng chót của xã hội.
Tổ chuyên án quyết định điều tra manh mối theo hướng bình rượu này.
Ông chủ hiệu tương Sùng Tín – Nguyên Thắng vốn là người có thói quen chắp tay sau lưng, mặt ngẩng lên trời khi đi đường, nhưng gần đây thái độ của ông ta hơi khác thường, cứ hay cúi đầu lầm lủi, nghe thấy động tĩnh gì là lại nhảy vội qua một bên để tránh né. Hỏi nguyên nhân thì hóa ra ông ta mới đi ra từ đại đội thu nhận.
Đại đội thu nhận do hội quân quản đứng ra tổ chức, cục ông an quản lý, đối đượng thu nhận là quân lính tản mạn của đảng quốc dân, du côn lưu manh đầu đường xó chợ, về sau xử lý hết nhóm người này thì sẽ thu nhận một vài phần tử băng đảng, đồng lõa ác bá. Thật ra Trương Thắng không nằm trong số đó, nhưng thành phần quen biết ngoài xã hội của ông thật sự rất phức tạp, chẳng những trong đám giang hồ đều có anh em của ông ta, phàm là quan viên cầm quyền, bao gồm cả Hán gian cầm đầu chính phủ Ngụy ở Trấn Giang thời kỳ Nhật Ngụy cũng có qua lại với ông ta. Cho nên chính phủ nhân dân cần ông làm rõ và cung cấp manh mối về chuyện này nên đã gọi ông vào. Trương Thắng ở đại đội thu nhận đó hơn hai tháng, ba ngày trước vừa mới được thả về nhà. Trải qua lần này, ông ta không dám huênh hoang nữa, chỉ mong được sống yên ổn mà thôi.
Nên khi Mục Dung Hán và Từ Tử Sơn xuất hiện trước mặt Trương Thắng, yêu cầu ông cung cấp thông tin về các đối tượng tiêu thụ “Rượu đục Lão Tam thôn” thì ông ta cực kỳ phối hợp. Nhưng sự phối hợp của ông ta chẳng qua chỉ khiến các điều tra viên biết thêm về tình huống của “Rượu đục Lão Tam thôn” chứ không giúp ích gì nhiều cho việc điều tra vụ án.
Theo lời Trương Thắng, bình rượu của “Rượu đục Lão Tam thôn” chia làm bảy màu: Đỏ cam vàng lục lam chàm tím. Đây là để phân biệt năm sản xuất của “Rượu đục Lão Tam thôn”. Vậy thì chiếc bình màu xanh lục mà các điều tra viên nhặt được sản xuất vào năm nào?
Trương Thắng cho biết, “Rượu đục Lão Tam thôn” của Vương Lão Tam được đưa ra thị trường vào đoan ngọ năm dân quốc thứ 8, tức năm 1919, dùng bình rượu màu đỏ. Sau đó sắp xếp theo thứ tự là đỏ cam vàng lục lam chàm tím, bình rượu màu lục hẳn là các năm 1926, 1933, 1940, 1947. Lứa rượu năm 1947 cũng là mẻ “Rượu đục Lão Tam thôn” cuối cùng. Mùa hè năm đó, Vương Lão Tam qua đời vì bệnh nặng ở tuổi 70, ba đứa con trai vì gia tài mà đấu đá tranh giành, qua ba tháng thì một chết hai bị thương, trong quá trình tranh giành còn phá hỏng chum rượu “Rượu đục Lão Tam thôn” cuối cùng Vương Lão Tam đã chôn lúc còn sống. “Rượu đục Lão Tam thôn” cũng vì đó mà không còn. Nhưng chiếc bình rượu này rốt cuộc được sản xuất vào năm nào thì Trương Thắng cũng không thể nói rõ được.
Mục Dung Hán lại hỏi: “Ông có nhớ rượu trong bốn năm này đã bán cho những ai không?”
Trương Thắng đáp: “Năm 1926 thì hiệu tương này vẫn là do cha của tôi làm chủ, năm đó bán cho những ai thì tôi không rõ lắm. Rượu từ năm 1933 đến năm 1947 là do tôi bán ra, mặc dù cũng có ghi chép, nhưng trong sổ lại không ghi rõ họ tên khách hàng, chẳng qua đều là khách quen cả.”
 

Tư Hoa Niên

Trúc Cơ Sơ Kỳ
Ngọc
2,556
Tu vi
49
Án mạng “Chuột Chín Đầu”
Phần 6
Dịch: Lãng Nhân Môn

Sau đó Trương Thắng lại liệt kê tên của vài khách hàng, trong đó có không ít người Nhật Bản đã chiếm cứ Trấn Giang trong thời kỳ kháng chiến. Phần lớn bình rượu màu lục năm 1940 đều bán cho đội quân cảnh người Nhật ở Trấn Giang, hai vị sĩ quan tổng bộ đặc công số 76 tới từ Thượng Hải mua bốn bình, còn lại hai bình bị vị bả đầu bản địa là Đổng Trung Triêu mua đi, nghe nói ông ta mang đến phương Bắc làm quà biếu. Mà 20 bình rượu đục Lão Tam thôn năm 1947 thì bán hết cho Đinh Bỉnh Vũ.
Mục Dung Hán bèn hỏi: “Đinh Bỉnh Vũ là ai?”
“Tham mưu cao cấp của thiếu tướng trung đoàn bảo an tỉnh Giang Tô.”
“Bây giờ người này đang ở đâu?”
“Năm 1948 đã rời khỏi Trấn Giang rồi, sau này nghe lính cần vụ Tiểu Chu của anh ta nói là tháng 3 năm nay tham mưu Đinh đã từ Thượng Hải bỏ trốn sang Đài Loan, em vợ của anh ta cũng nói vậy.”
Như vậy thì hy vọng tìm được manh mối từ bình rượu này đã đi vào ngõ cụt.
Mục Dung Hán và Từ Tử Sơn quay về văn phòng tổ chuyên án ở phân cục đường Đại Tây. Lúc này Hồ Chân Lực và Tống Bỉnh Quân đã hong khô dấu chân lấy được ở bên ngoài vách tường từ đường nhà họ Hoàng ở Hoàng gia trang, lấy được một dấu chân nguyên vẹn, hai người dùng kính lúp quan sát một lúc. Mục Dung Hán và Từ Tử Sơn cũng đến xem thật kỹ, cuối cùng cho ra được kết quả: Người lẻn vào từ đường nhà họ Hoàng đốt thi thể đã mang một đôi giày vải bị mòn vẹt, chiều cao ước chừng 170cm. Từ mức độ bào mòn của đế giày và hành động ném bình rỗng sau khi tưới xăng cho thấy, rất có thể người đốt thi thể là một tên ăn mày.
Mục Dung Hán lại đưa ra một vấn đề với hai hình cảnh còn lại: “Liệu một tên ăn mày thì có rành về nơi tọa lạc ở Hoàng gia trang trong vịnh Thất Loan cách xa thành phố như từ đường nhà họ Hoàng hay không?”
Hồ Chân Lực mới dáp: “Bình thường thì chắc là sẽ khá rành, bởi vì nhà họ Hoàng rất có tiếng tăm. Từ xưa đến nay mỗi năm đều tổ chức hoạt động lớn kính bái tổ tông, viếng mộ, chôn cất rất hoành tráng. Lần nào cũng có đến mấy trăm người già trẻ gái trai tụ tập. Khi đó Hoàng gia trang sẽ thành một khu chợ nhỏ, một vài người bán hàng rong sẽ đi ngang qua đó rao hàng, bán đồ ăn vặt hoặc đồ chơi trẻ con, trang sức cho phụ nữ, cũng có nhiều ăn mày tranh thủ đi qua xin tiền.”
Mục Dung Hán nghe xong thì lắc đầu im lặng. Lúc trước anh cho rằng tên ăn mày đó không rành về Hoàng gia trang, nên trước khi tới đó nhất định phải đến nghiên cứu địa hình trước. Một tên ăn mày lộ diện hỏi hang trong thôn nhất định sẽ thu hút sự chú ý của người dân, thế thì có thể điều tra từ chỗ người dân trong thôn, nói không chừng sẽ tra được manh mối gì đó. Nay xem ra có thể tên ăn mày đó cũng chẳng xa lạ gì với Hoàng gia trang, thế thì hắn ta cũng chẳng cần phải nghiên cứu địa hình rồi.
Lúc này, chàng công an nhân dân xuất thân từ đồn công an Trấn Bình vẫn luôn giữ im lặng kể từ khi tham gia điều tra chuyên án đột nhiên lên tiếng. Đừng thấy cậu chàng này hay im ỉm như thế, thật ra cậu ta cũng rất thích động não suy nghĩ, lúc này cậu ta đã nghĩ tới một cách để tra ra tên ăn mày đốt thi thể: “Liệu chúng ta có thể điều tra về tên ăn mày này từ chỗ những người ăn mày khác hay không?”
Câu nói này đã nhắc nhở mọi người, tổ chuyên án quyết định ngày mai vẫn sẽ chia làm hai tốp để điều tra về tên ăn mày kia.
Trước kia khi làm trinh sát quân sự Mục Dung Hán đã từng có kinh nghiệm, nhiều lần hóa trang, trà trộn vào khu bị kẻ địch chiếm lĩnh để chấp hành nhiệm vụ, cũng từng làm quen với cánh ăn mày nên nói: “Sáng ngày mai tôi sẽ đến phòng tài vụ bên cục thành phố lĩnh một ít tiền lẻ, muốn làm quen với cánh ăn mày mà không tiêu chút tiền thì e là không được.”
Nói đoạn, anh lại ngáp dài một cái: “Được rồi, đêm nay đến đây thôi, mọi người về ngủ một giấc đi, ngày mai còn nhiều việc phải làm lắm.”
Nhưng ông trời định sẵn tối hôm đó bọn họ không thể nào ngủ được rồi. Mấy người sắp sửa rời khỏi phân cục thì một vị cán sự trực đêm trong phân cục đột nhiên chạy vào: “Ngoài cửa có người đến tìm các đồng chí trong tổ chuyên án, nói là lại có thêm một cái quan tài trong Hoàng gia trang bị đốt!”
Các điều tra viên trong tổ chuyên án đều trợn mắt không nói nên lời. Vẫn là Mục Dung Hán phản ứng đầu tiên, vội hỏi: “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì thế? Chẳng lẽ đám kia ăn gan trời muốn thi gan với chúng ta à? Đi, đến Hoàng gia trang thôi!”
Diêu đầu to trông coi từ đường thật sự không thể ngờ quan tài trong từ đường lại bị đốt lần nữa. Hôm qua anh ta bận dập lửa từ nửa đêm đến tận hừng đông, sau khi vào thành phố báo tin cho người nhà họ Hoàng xong thì lại phải ra đồng làm ruộng, bận rộn đến lúc ăn cơm tối, toàn thân rã rời nên vừa đặt lưng xuống là ngủ ngay. Vợ của anh ta dọn dẹp nhà cửa xong thì chong đèn may vá, làm một lúc thì ngoài cửa sổ lại đỏ rực như hôm qua. Ban đầu cô còn tưởng là mình bị ám ảnh bởi việc hôm qua nên có ảo giác, sau khi bình tĩnh nhìn kỹ lại thì mới xác định là hậu viện lại bị cháy. Thế là cô lập tức lay chồng dậy, cả nhà vội vàng chạy ra hậu viện, lúc này thì một chiếc quan tài khác đã bốc cháy hoàn toàn, ngọn lửa bùng lên cao ngất!
Diêu đầu to vẫn xách nước dập lửa như hôm qua, sau khi dập tắt thì lại sai con trai lớn chạy ngay vào thành phố để tìm mấy anh cảnh sát khi sáng đã tới đây điều tra ở phân cục đường Đại Tây. Sau đó lại đến nhà của ông Bạch báo lại việc này.
Khi bốn điều tra viên chạy đến hiện trường thì nghe được một tin bất ngờ: Kẻ phóng hỏa đã bị người dân trong Hoàng gia trang bắt giữ - quả nhiên là một tên ăn mày.
Điều tra viên tiến hành lấy lời khai ngay tại chỗ, chiều cao không khác gì so với phỏng đoán ban đầu, tuổi trên dưới 30, trên gượng mặt nhem nhuốc là một đôi mắt hí như ăn trộm, gã ra chiều sợ hãi khi gặp mấy vị công an mặt mày đanh thép kia. Mục Dung Hán bước lên, gã cho rằng anh định đánh mình nên sợ đến mức quỳ mọp xuống, tung tuyệt chiêu cuối trong nghề - Dập đầu như giã tỏi, luôn mồm hét câu “giơ cao đánh khẽ”.
Mục Dung Hán mới nói: “Cảnh sát nhân dân của chính phủ không phải cảnh sát Ngụy phái phản động của đảng quốc dân. Sẽ không đánh mắng phạm nhân. Anh ngồi xuống đây đi. Lão Từ, anh cho anh ta một điếu thuốc, hút mấy hơi bình tĩnh lại rồi thành thật khai báo. Chúng tôi sẽ dựa vào thái độ của anh để quyết định xem sẽ xử lý anh thế nào!”
Gã ăn mày này tên Tiền Bảo Sơn, người huyện Tứ tỉnh Giang Tô, lúc còn trẻ thì quê hương gặp thiên tai, người nhà đều gặp nạn, cuối cùng anh ta phải ra ngoài ăn xin, đi đến tỉnh thành Trấn Giang này. Trước đây thì ăn mày thuộc thành phần lưu manh vô sản. Xuất phát từ nhu cầu mưu sinh nên ngoài ăn xin ra thì bọn họ còn rất nhiều thủ đoạn xấu xa khác, trộm cắp lừa đảo đều rành cả. Tiền Bảo Sơn làm lâu năm nên rành hết các ngón trong nghề, cũng nhờ vậy nên quen được vài người bạn, hạng người nào cũng có.
Sở dĩ người ta phải làm quen với ăn mày là vì có khi sẽ đẩy họ ra dùng như pháp bảo, khi ấy sẽ có tác dụng rất tuyệt vời. Ví như nhà anh gặp phải một ông hàng xóm xấu xa thích hại người khác để làm lợi cho bản thân, nói lý lẽ với họ thì họ không quan tâm, báo quan thì chuyện nhỏ quá nên cũng không ai để ý. Vào lúc thế này, nếu như anh có một người bạn như Tiền Bảo Sơn thì có thể dễ dàng giải quyết vấn đề này ngay. Chỉ cần nhờ vả một chút là lão Tiền sẽ gọi cả đám ăn mày tới ngồi kín trước cửa nhà tên hàng xóm nọ. Thời nào cũng có ăn mày, đi ăn xin cũng không phạm pháp, bọn họ có thể ngồi lì trước cửa nhà của tên hàng xóm ác bá đó cả ngày lẫn đêm, luôn mồm hát Liên Hoa Lạc, khua gậy trúc lách cách làm người ta đau hết cả đầu. Thế đã là khách khí lắm rồi, nếu như tên hàng xóm kia không chịu nhận lỗi thì cứ tè rồi bĩnh ra ngay cửa, còn có thể dọn dẹp thùng rác gần đó thay công nhân vệ sinh nữa. Đương nhiên rác rưởi dọn ra được đều chất đống ở cửa nhà của hàng xóm. Nếu như không biết điều thì vẫn còn một chiêu lợi hại hơn – bắt rắn rết hay chuột cống gì đó nhét vào khe cửa nhà đó. Dù sao thì chỉ cần nhà nào bị ăn mày bám dính thì tám chín phần mười sẽ biết điều ngay. Vậy cảnh sát cũng để yên ư? Đương nhiên cũng sẽ quản, nhưng cơ bản chẳng có chút hiệu quả nào. Cảnh sát đến thì đám ăn mày sẽ kéo đi, cảnh sát vừa khuất dạng thì họ đã tụ lại, hoặc là ban ngày đến, chờ tới đêm mới chường mặt ra. Đến lúc đó thứ họ mang tới sẽ không chỉ là rắn rết hay chuột bọ nữa, thậm chí còn có thể xách theo cả xác chết lấy ra từ bãi tha ma.
Cảnh sát không phải dành riêng để đối phó với ăn mày, làm gì có nhiều thời gian và sức lực để nhây với họ? Bình thường còn ra mặt khuyên người trong cuộc hãy nhượng bộ nữa.
 

Đang xem (Thành viên: 0, Khách: 1)


Top